ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
----------------------------------
ĐINH THỊ HẰNG
NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ SINH THÁI ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ
TỒN TẠI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA LOÀI THIẾT SAM GIẢ LÁ NGẮN
(PSEUDOTSUGA BREVIFOLIA W.C CHENG & L.K.FU, 1975)
TẠI HUYỆN NGUYÊN BÌNH - TỈNH CAO BẰNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
: Chính quy
Chuyên ngành
: Nông lâm kết hợp
Khoa
: Lâm nghiệp
Lớp
: 42 - NLKH
Khóa học
: 2010 – 2014
Giảng viên hướng dẫn : 1. Th.S Phạm Thu Hà
2. Th.S Lê Văn Phúc
Khoa Lâm Nghiệp – Trường Đại học Nông Lâm
Thái Nguyên - 2014
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
Thái Nguyên - 2014
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của bản thân tôi.
Các số liệu và kết quả nghiên cứu là quá trình điều tra trên thực địa hoàn toàn
trung thực, chưa công bố trên các tài liệu, nếu có gì sai tôi xin chịu hoàn toàn
trách nhiệm!
Thái Nguyên, ngày 20 tháng 05 năm 2014
XÁC NHẬN CỦA GVHD
Đồng ý cho bảo vệ kết quả
trước hội đồng khoa học!
Ths. Phạm Thu Hà
NGƯỜI VIẾT CAM ĐOAN
Đinh Thị Hằng
XÁC NHẬN CỦA GV CHẤM PHẢN BIỆN
Giáo viên chấm phản biện xác nhận sinh viên
đã sửa chữa sai sót sau khi Hội đồng chấm yêu cầu!
(Ký, họ và tên)
ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Dt
: Đường kính tán
D1.3
: Đường kính tại vị trí 1,3m
Hdc
: Chiều cao dưới cành
Hvn
: Chiều cao vút ngọn
OTC
: Ô tiêu chuẩn
IUCN
: Hiệp hội quốc tế bảo vệ thiên nhiên
TSGLN
: Thiết sam giả lá ngắn
cao dưới1000m................................................................................ 35
Bảng 4.7. Bảng phân tích nguồn gốc và chất lượng cây Thiết sam giả lá ngắn
tái sinh ............................................................................................. 36
Bảng 4.8.Bảng điều tra đất tại khu vực nghiên cứu ........................................ 40
Bảng 4.9. Bảng phân tích một số tính chất đất tại khu vực nghiên cứu. ........ 40
Bảng 4.10. Đặc điểm tầng cây bụi, thảm tươi................................................. 41
v
MỤC LỤC
Phần 1: MỞ ĐẦU ............................................................................................ 1
1.1. Đặt vấn đề ............................................................................................... 1
1.2. Điều kiện thực hiện đề tài ....................................................................... 2
1.2.1. Điều kiện của bản thân...................................................................... 2
1.2.2. Điều kiện cơ sở nơi thực hiện đề tài ................................................. 3
1.3. Mục đích ................................................................................................. 3
1.4. Mục tiêu .................................................................................................. 3
1.5. Ý nghĩa của đề tài.................................................................................... 3
1.5.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học ................................ 3
1.5.2. Ý nghĩa thực tiễn ............................................................................... 3
Phần 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ................................ 4
2.1. Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu ...................................................... 4
2.1.1. Vai trò của các nhân tố sinh thái đối với đời sống thực vật ............. 4
2.1.2. Một số dẫn liệu về loài Thiết sam giả lá ngắn .................................. 6
2.2. Những nghiên cứu trên thế giới .............................................................. 8
2.3. Những nghiên cứu ở trong nước ........................................................... 10
2.4. Tổng quan về khu vực nghiên cứu ........................................................ 12
2.4.1. Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu .......................................... 12
2.4.2. Điều kiện dân sinh kinh tế - xã hội ................................................ 17
4.3.1. Giải pháp về kỹ thuật ...................................................................... 43
4.3.2. Giải pháp về chính sách .................................................................. 44
4.3.3. Bảo vệ và khai thác hợp lý loài Thiết sam giả lá ngắn ................... 44
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ......................................................... 45
5.1. Kết luận ................................................................................................. 45
5.2. Kiến nghị ............................................................................................... 46
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 47
1
Phần 1: MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội thì sự suy giảm về đa dạng cũng
đang diễn ra, đặc biệt là các loài cây quý hiếm có nhiều giá trị về mặt sinh
thái cũng như kinh tế như loài Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifovila
W. C Cheng & L.K.Fu, 1975) họ Thông (Pinaceae) cũng đang đứng trước
nguy cơ đó.Trong tiến trình phát triển tiếp theo đòi hỏi chúng ta có nhận thức
và hành động đầy đủ hơn để đạt sự bền vững, trong đó có nhu cầu nghiên cứu
và bảo tồn các loài đặc hữu, quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng và có nhiều giá
trị không chỉ về sinh học, sinh thái môi trường, mà còn cho đời sống xã hội,
trong đó có loài Thiết sam giả lá ngắn.
Rừng là yếu tố cơ bản của môi trường, luôn giữ một vai trò quan trọng
không gì thay thế được đối với việc phòng hộ, duy trì cân bằng sinh thái, bảo
vệ tính đa dạng sinh học, bảo tồn nguồn gen, cung cấp nhiều loại lâm sản quý
phục vụ nhu cầu cuộc sống của hàng triệu đồng bào miền núi… đáp ứng
những nhu cầu cơ bản ngày càng cao của con người. Tuy nhiên, khi xã hội
ngày càng phát triển, sự gia tăng dân số càng không thể thay thế được trong
việc duy trì cân bằng sinh thái, bảo vệ môi trường, rừng càng ngày bị thu hẹp
về diện tích, giảm sút về chất lượng. Nguyên nhân chủ yếu của mất rừng là sự
rộng thì loài này sẽ có nguy cơ bị tuyệt chủng.
Cho tới nay, mặc dù đã có một số nghiên cứu về loài cây này nhưng chỉ
tập trung vào việc mô tả đặc điểm hình thái, sinh thái, những thông tin về khả
năng tái sinh ngoài tự nhiên còn rất ít. Hiện nay, vẫn chưa có một nghiên cứu
chi tiết về đặc tính sinh thái học nào có hệ thống về cây Thiết sam giả lá ngắn.
Vì vậy, cần có một nghiên cứu đầy đủ hơn ảnh hưởng của các nhân tố sinh
thái đến loài nghiên cứu là cần thiết, góp phần giải quyết các vấn đề đang đặt
ra cho bảo tồn một loài quý hiếm, đặc hữu, có giá trị về nhiều mặt nhưng đang
đứng trước nguy cơ bị xâm hại và tuyệt chủng. Với ý nghĩa đó, tôi tiến hành
thực hiện đề tài: “Nghiên cứu các nhân tố sinh thái ảnh hưởng đến sự tồn
tại và phát triển của loài Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia
W.C Cheng & L.K.Fu, 1975) tại huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng”.
1.2. Điều kiện thực hiện đề tài
1.2.1. Điều kiện của bản thân
Là sinh viên chuyên ngành Nông lâm kết hợp – Khoa Lâm nghiệp với
những kiến thức đã được học trên lớp và thực tiễn tôi tiến hành thực hiện đề
tài tốt nghiệp này.
3
Được sự giúp đỡ và hướng dẫn tận tình của cô giáo Phạm Thu Hà và
thầy giáo Lê Văn Phúc – giảng viên Khoa Lâm nghiệp - trường Đại học
Nông Lâm Thái Nguyên.
Bên cạnh đó, tôi còn nhận được sự giúp đỡ của cơ quan chính quyền,
người dân địa phương và bạn bè đồng nghiệp.
1.2.2. Điều kiện cơ sở nơi thực hiện đề tài
Huyện Nguyên Bình nằm ở phía Tây của tỉnh Cao Bằng, địa hình chủ
yếu là núi đá vôi và núi đất, khí hậu nhiệt đới gió mùa vùng núi. Vì vậy hệ
thực vật ở đây rất đa dạng và phong phú. Đặc biệt vùng này nằm trong khu
2.1.1.1 Vai trò của nhiệt độ đối với đời sống thực vật
Nhiệt độ là nhân tố sinh thái ảnh hưởng đến hình thái giải phẫu, đến sinh
lý và từng giai đoạn phát triển cá thể của thực vật.
Nhiệt độ ảnh hưởng đến hoạt động sinh lý của thực vật, gồm quang hợp,
hô hấp, thoát hơi nước, sự hình thành và hoạt động của diệp lục. Cây quang
hợp tốt ở nhiệt độ 20ºC đến 30ºC, quá thấp hay quá cao đều ảnh hưởng đến
quá trình này. Ở nhiệt độ 0ºC cây nhiệt đới ngừng quang hợp vì diệp lục bị
biến dạng, ở nhiệt độ từ 40ºC trở lên sự hô hấp bị ngừng trệ. Các cây ôn đới
có khả năng hoạt động trong điều kiện nhiệt độ thấp dưới 0ºC, ở một số loài
tùng, bách, mầm cây vẫn hô hấp khi nhiệt độ xuống đến âm 20ºC.
Khi nhiệt độ không khí càng cao, độ ẩm không khí càng xa độ ẩm bão
hòa, cây thoát hơi nước càng nhiều. Trong ngày nắng, sự thoát hơi nước tăng
dần từ sáng sớm đến gần trưa, sau đó giảm dần cho đến chiều. Khi nhiệt độ
thấp, độ nhớt của chất nguyên sinh tăng lên, áp suất thẩm thấu giảm, rễ hút
nước khó khăn, không đủ cho cây, cây phản xạ lại bằng cách rụng lá [8].
2.1.1.2. Vai trò của ánh sáng đối với đời sống thực vật
Ánh sáng có vai trò quan trọng đối với cơ thể sống, là nguồn cung cấp
năng lượng cho toàn bộ sự sống, thông qua quang hợp của thực vật; nó điều
khiển chu kỳ sống của thực vật. Ánh sáng vừa là yếu tố điều chỉnh vừa là yếu
tố giới hạn đối với đời sống sinh vật (nhất là đối với thực vật). Nó có ảnh
hưởng mạnh mẽ đến toàn bộ đời sống của cây (từ khi hạt nảy mầm đến khi ra
hoa, đậu quả). Quang hợp của thực vật chỉ xuất hiện ở phổ ánh sáng mà mắt
thường có thể nhìn thấy được với các bước sóng từ 380-780n.m. Cường độ
ánh sáng khác nhau sẽ ảnh hưởng khác nhau tới thực vật.
Ảnh hưởng của ánh sáng đến quá trình sinh trưởng của thực vật mang
tính chất rất phức tạp, nó liên quan tới rất nhiều yếu tố ngoại cảnh [8].
5
Ở điều kiện khí hậu ẩm, lạnh sẽ có một khuynh hướng hình thành đất
chua, nhiều mùn thô, chất dinh dưỡng bị rửa trôi và trở thành màu tro.
6
Đất núi đá vôi có ở vùng nhiệt đới. Trong điều kiện khí hậu nhiệt đới ẩm,
đá vôi dễ bị mục nát, kết quả của sự bào mòn đã để lại chỉ còn các ngọn núi
dạng tháp đứng riêng lẻ hay còn lại các sống núi rời nhau, có vách dựng đứng.
Cả vùng đất núi đá vôi này biến thành nơi đất hoang và có nhiều hang động
dạng phễu tròn và sâu có khi tới hàng trăm mét. Đất ở vùng núi đá vôi là đất
kiềm (pH >7). Ví dụ, ở Cao Bằng, Lạng Sơn, Ninh Bình, Hoà Bình, Hà Tây,
Quảng Bình… của Việt Nam.
Đất ở rừng mưa nhiệt đới là loại đất nghèo chất dinh dưỡng và chua
(pH=4,5-5,5), nhưng thảm thực bì lại phát triển tốt. Nguồn chất dinh dưỡng
mà thực vật cần, lại tập trung trong phần sinh khối trên mặt đất. Hàng năm
một lượng sinh khối đó chết đi, rụng xuống và nhanh chóng bị khoáng hóa,
giải phóng các chất dinh dưỡng và cũng nhanh chóng được rễ hấp thu [8].
2.1.1.5. Vai trò của nhân tố không khí đối với đời sống thực vật
Không khí có ý nghĩa rất lớn đối với cơ thể sống. Nó cung cấp oxy cho
các sinh vật hô hấp, không khí chuyển động (gió) có ảnh hưởng rõ rệt đến
nhiệt độ, độ ẩm và làm thay đổi chúng, gió nhẹ có vai trò quan trọng trong
việc làm phát tán vi sinh vật, bào tử, hạt phấn hoa, quả, hạt và nhiều động vật,
mở rộng khu phân bố và thành phần loài trong quần xã, gió mạnh cũng làm
tổn hại đến chúng [8].
2.1.2. Một số dẫn liệu về loài Thiết sam giả lá ngắn
Hiện nay các nghiên cứu về loài này còn rất ít và phân tán. Theo báo cáo
dự án “Điều tra đánh giá tình trạng bảo tồn các loài thực vật rừng nguy cấp,
quý hiếm thuộc danh mục nghị định 32/2006/NĐ-CP theo vùng sinh thái” của
Trung tâm tài nguyên và môi trường Lâm Nghiệp, Viện điều tra quy hoạch
mạnh đặc biệt là các cây trưởng thành, rễ giúp cây bám chặt vào các tảng đá
và lan tỏa ra xung quanh. Rễ hút chất dinh dưỡng nuôi cây và tạo cho cây một
thế vững chắc để chống chọi với điều kiện tự nhiên.
* Đặc điểm hình thái cây tái sinh
Đặc điểm thân cây: Cây thường cong queo, phân cành theo từng đốt
(hình zíc zắc), đều sang 2 bên. Vỏ cây màu nâu vàng. Đỉnh sinh trưởng bé,
màu nâu đỏ (Hình 5, phần phụ lục).
Đặc điểm lá: Mặt trên xanh bóng, ngọn xanh vàng, mặt dưới có gân ở
giữa, sọc xanh trắng 2 bên, có gân ở mép. Chiều dài từ 3 - 4,5cm.
Đặc điểm rễ: Cây Thiết sam giả lá ngắn tái sinh có bộ rễ cọc dài, bám
sâu vào đất để lấy chất dinh dưỡng, cây có rễ con ít.
* Phân bố: Trên thế giới Thiết sam giả lá ngắn thường gặp ở các vùng núi
đá vôi của hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây (Trung Quốc). Ở Việt Nam, kết
8
quả điều tra nhiều năm cho thấy, thiết sam giả lá ngắn được phân bố trên núi đá
vôi của các tỉnh vùng Đông Bắc như Hà Giang (Yên Minh, Đồng Văn, Mèo
Vạc), Cao Bằng (Nguyên Bình, Trà Lĩnh, Hạ Lang, Bảo Lạc), Bắc Kạn (Na Rì).
Số lựơng quần thể: mọc rải rác trên các đỉnh núi đá vôi ở vùng Đông Bắc,
có nơi mọc gần như thuần loài (Kim Hỷ).
* Công dụng: Thớ thẳng, dễ gia công, được dùng trong xây dựng, làm
cầu, đồ gia dụng, cột điện. Thân thẳng, dáng đẹp, có thể trồng làm cảnh. Cây
lớn có thể sử dụng làm nhà hay làm đồ gỗ.
* Đặc điểm sinh thái : thường mọc trên đai cao 500-1500 m, trên núi đá vôi.
* Tình trạng bảo tồn và mối đe dọa : loài nằm trong nhóm sắp nguy cấp
(VU) Sách Đỏ Việt Nam, 2007. Trong 10 năm trở lại đây, kích thước quần thể
suy giảm tới 50%. Diện tích nơi cư trú hiện nay < 2000km2 , bị chia cắt.
2.2. Những nghiên cứu trên thế giới
của trái đất thu nhận được từ mặt trời. Nhà lâm sinh học người Đức Bếch-sơ
đã nói: “ ánh sáng là chiếc đòn bẩy mà lâm học điều khiển sự sống của rừng
theo hướng có lợi về kinh tế” [3].
Ảnh hưởng của ánh sáng đến quá trình sinh lý ở thực vật đã được các
nhà thực vật học nghiên cứu theo nhiều góc độ khác nhau. M.Ia. Oscretcov đã
nghiên cứu cường độ quang hợp của lá Thông trong bóng và ngoài ánh sáng ở
điều kiện chiếu sáng khác nhau và thu được kết quả sau: ở độ chiếu sang thấp
( vào khoảng 1000 đến 2000 lux), cường độ quang hợp lá trong bóng bằng 2
đến 4 lần so với ngoài sáng. Nhưng ở cường độ chiếu sáng cao ( 2000 đến
4000 lux) thì cường độ quang hợp là ngoài sáng tăng hơn nhiều lần [2].
Các nhân tố sinh thái chủ yếu dưới tán rừng như chế độ chiếu sáng, chế
độ nhiệt, ẩm…có sự biến động rất khác nhau theo chiều đứng và theo chiều
ngang và sự biến động này phụ thuộc rất lớn vào cấu trúc rừng, vào thành
phần loài cây, thời gian sinh trưởng và tuổi rừng. đồng thời đến nay còn nhiều
quy luật biến đổi các nhân tố sinh thái chưa được khám phá, đặc biệt ở dưới
tán rừng nhiệt đới thường xanh ( A.A.Aleceev, 1965, 1982; B.C.Belov, 1974,
1880; X.N.Xelnov, 1977, 1980) [2].
Sự biến động các nhân tố tiểu khí hậu rừng đều tuân theo những quy luật
nhất định và chính có sự biến đổi đó đôi khi tạo ra điều kiện rất có lợi cho đời
sống của cây tái sinh dưới tán rừng ( C.B.Belov, 1982; Alecev, 1965, 1982) [2].
Đối với nhiệt độ không khí, sự biến đổi theo chiều thẳng đứng trong và
ngoài rừng rất khác nhau. Ở chỗ trống, ban ngày mặt đất chịu tác động trực
tiếp và mạnh mẽ của bức xạ mặt trời, nhiệt độ biến đổi theo quy luật: nhiệt độ
không khí ở mặt đất cao nhất, càng lên cao nhiệt độ càng giảm. Ban đêm do
bức xạ mạnh của mặt đất nên tình hình biến đổi theo chiều ngược lại, nhiệt độ
10
mặt đất thấp nhất và càng lên cao nhiệt độ càng tăng ( trong phạm vi một độ
làm cho sinh vật lâm vào tình trạng bị ức chế hoặc tử vong. Ví dụ: Nhiệt độ
11
(ánh sáng, độ ẩm…) quá cao hoặc quá thấp đối với hoạt động bình thường của
thực vật.
- Tính chống chịu sinh thái của loài. Khả năng của sinh vật có thể chịu
đựng được sự tác động của nhân tố sinh thái ở mức độ nào đó. Ví dụ: Thực
vật có khả năng chịu được biên độ biến đổi nhất định của ánh sáng, nhiệt,
nước, hàm lượng khoáng trong dung dịch đất, địa hình….
Còn trong giáo trình Sinh thái học của Nguyễn Đình Sinh (2009) [7] thì
nhân tố sinh thái là tất cả các nhân tố môi trường có ảnh hưởng trực tiếp hay gián
tiếp tới đời sống sinh vật. Tất cả các nhân tố sinh thái gắn bó chặt chẽ với nhau
thành một tổ hợp sinh thái và cùng tác động lên cơ thể sinh vật.
Sự phân chia các nhóm nhân tố sinh thái. Theo Mai Sỹ Tuấn (Phạm Văn
Lập, chủ biên, 2008), các nhân tố sinh thái được chia thành hai nhóm: Nhóm
các nhân tố vô sinh là tất cả các nhân tố vật lý và hóa học của môi trường
xung quanh sinh vật. Nhóm các nhân tố hữu sinh là thế giới hữu cơ của môi
trường, là những mối quan hệ giữa một sinh vật (hoặc nhóm sinh vật) này với
một sinh vật (hoặc nhóm sinh vật) khác sống xung quanh. Trong nhóm nhân
tố sinh thái hữu sinh, nhân tố con người được nhấn mạnh là nhân tố có ảnh
hưởng lớn tới đời sống của nhiều sinh vật.
Theo Thái Văn Trừng (1978) [10] khi nghiên cứu về thảm thực vật rừng
Việt Nam, đã kết luận: Ánh sáng là nhân tố sinh thái khống chế và điều khiển
quá trình tái sinh tự nhiên ở cả rừng nguyên sinh lẫn rừng thứ sinh. Nếu các
điều kiện khác của môi trường như: đất rừng, nhiệt độ, độ ẩm dưới tán rừng
chưa thay đổi thì tổ hợp các loài cây tái sinh không có những biến đổi lớn và
cũng không diễn thế một cách tuần hoàn trong không gian và theo thời gian
mà diễn thế theo những phương thức tái sinh có quy luật nhân quả giữa sinh
- Phía Bắc giáp huyện Thông Nông
- Phía Tây giáp huyện Bảo Lạc và Ba Bể tỉnh Bắc Kạn
- Phía Nam giáp huyện Ngân Sơn tỉnh Bắc Kạn
- Phía Đông giáp huyện Hòa An
Dọc theo Huyện có Quốc lộ 34 từ thị xã qua trung tâm huyện Nguyên
Bình đến huyện Bảo Lạc, Bảo Lâm sang huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang.
Đường tỉnh lộ 212 từ Nguyên Bình đi Ba Bể ra Quốc lộ 3. Ngoài ra Huyện
còn có nhiều khu di tích lịch sử như: Hang Kéo Quảng – xã Minh Tâm, Đồn
Nà Ngần, khu rừng Trần Hưng Đạo – xã Tam Kim. Dọc theo Quốc lộ 34 về
phía Tây, cách thị trấn Nguyên Bình 15km, là vùng có tiềm năng về đất đai
cũng như các nguồn lực khác, rất thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội của
Huyện trong tương lai.
13
2.4.1.2. Địa hình, địa mạo
Huyện Nguyên Bình có địa hình núi đồi phức tạp, chủ yếu là núi đá vôi,
độ dốc lớn, chia cắt mạnh và cao từ 700m - 1.300m. Điểm cao nhất là 1.931m
(Phía Oắc), điểm thấp nhất 100m. Độ cao trung bình của huyện là 1.100 m.
Nhìn chung, địa hình của các xã trên địa bàn huyện Nguyên Bình nằm trên
vùng núi cao có cao độ từ 500m (Thái Học, Tam Kim, Hưng Đạo, Mai Long)
đến 1.400m (Quang Thành, Thành Công, Triệu Nguyên, Yên Lạc).
- Theo kiến tạo địa hình, huyện Nguyên Bình chia thành 2 vùng rõ rệt:
+ Vùng núi đất gồm các xã Lang Môn, Bắc Hợp, Minh Tâm, Minh
Thanh, Tam Kim, Quang Thành, Thịnh Vượng, Thành Công, Hoa Thám, Thể
Dục, Hưng Đạo và thị trấn Nguyên Bình.
+ Vùng núi đá gồm các xã: Thái Học, Vũ Nông, Yên Lạc, Triệu Nguyên,
Mai Long, Phan Thanh, Ca Thành và thị trấn Tĩnh Túc.
Theo kết quả đo trên bản đồ địa hình tỷ lệ 1/25.000 của Huyện thì diện
2.4.1.4. Thuỷ văn
Chế độ thủy văn các con sông phụ thuộc chủ yếu vào chế độ mưa và khả
năng điều tiết của lưu vực. Do đó cùng với diễn biến lượng mưa hàng tháng
trong năm thì chế độ thủy văn trên các con sông cũng thay đổi theo hai mùa
rõ rệt, mùa lũ và mùa cạn. Đa số các con sông, suối trên địa bàn huyện
Nguyên Bình đều bắt nguồn từ những dãy núi cao trên 1.000 m ở các xã
Thành Công, Hưng Đạo, Quang Thành, Tam Kim, Hoa Thám chảy về Hoà
An. Qua số liệu thống kê hàng năm cột ngập lụt trung bình là 196,5 m theo
bản đồ hiện trạng đo vẽ năm 1993, lũ xuất hiện tần suất 50- 60%.
2.4.1.5. Tài nguyên rừng
Đất lâm nghiệp hiện nay tính toàn huyện có: 71.876,67 ha chiếm
85,65 % diện tích đất tự nhiên. Diện tích đất có rừng là 54.689,72 ha, trong đó
có: rừng sản xuất 1.567,09 ha; rừng phòng hộ 50.038,63ha và rừng đặc dụng
3.093,00 ha.
Nhiều loại gỗ quý như Lát, Nghiến, gỗ nhóm 1,2,3 tuy đã được chăm sóc
bảo vệ nhưng tỷ lệ còn lại rất ít, chủ yếu là rừng tái sinh; hiện còn chủ yếu là
chủng loại cây thuộc nhóm 4, 5, 6. Về rừng trồng, ngoài thông và xa mộc, cây
trúc sào là cây có giá trị kinh tế đang được nhiều địa phương quan tâm phát
triển. Trên rừng còn có nhiều động vật hoang dã, các loại lâm sản có khả năng
khai thác như: Măng, Nấm hương, Mộc nhĩ, Sa nhân, Thảo quả đang bị khai
thác vô tổ chức, không có kế hoạch bảo vệ nguồn gen lâu dài.
15
2.4.1.6. Tài nguyên đất
Nhìn chung tài nguyên đất của huyện Nguyên Bình khá phong phú. Theo
kết quả tổng hợp trên bản đồ thổ nhưỡng 1/25.000 thì trên địa bàn huyện có
18 loại đất chính trong bảng dưới đây.
Bảng 2.1. Thổ nhưỡng huyện Nguyên Bình
Hiến (Tam Kim, Hưng Đạo,
Quang Thành)
0,04 Tập trung ở các xã Yên Lạc
Tập trung ở các xã: Lang
Môn, Tam Kim, Bắc Hợp,
0,84 Thái Học, Minh Thanh, Mai
Long, Thành Công, thị trấn
Tĩnh Túc…
Minh Tâm, Tam Kim, Minh
Thanh, Hưng Đạo, Quang
1,48
Thành, Phan Thanh, thị trấn
Nguyên Bình.
Vũ Nông, Thể Dục, Thái
1,95 Học, Minh Thanh, Bắc Hợp
và thị trấn Nguyên Bình
3. Đất thung lũng do sản
phẩm dốc tụ
D
704
4. Đất đỏ vàng biến đổi
do trồng lúa
Fl
1.242
Thịnh Vượng, Hoa Thám, Lang
Môn, Thể Dục, Tam Kim.
16
Hạng mục
9. Đất đỏ vàng trên mắc
ma axít
10. Đất vàng nhạt trên
bãi cát
11. Đất mùn nâu đỏ trên
đá vôi
12. Đất mùn nâu đỏ trên
đá mắc ma Bazơ trung
tính
13. Đất mùn đỏ vàng
trên đất sét biến chất
14. Đất mùn đỏ trên đá
mắc ma axít
15. Đất mùn vàng nhạt
trên đá cát
16. Đất mùn vàng trên
núi cao
17. Đất núi đá
18. Sông suối
Ký
hiệu
Môn
Tập trung ở xã Yên Lạc,
1,47
Triệu Nguyên
1,25
2,88 Ca Thành, Yên Lạc
12.470 14,89
Ha
4.680
5,59
Hq
922
1,1
A
246
15.200 18,16
255,36
Vũ Nông, Triệu Nguyên,
Phan Thanh, Ca Thành, Thể
38,7 %
Dân tộc Mông chiếm
5,6 %
Dân tộc kinh chiếm
8,6 %
Và các dân tộc khác chiếm tỷ lệ rất ít 0,1%
Mỗi dân tộc trong huyện đều có bản sắc riêng, phong tục tập quán riêng,
tạo nên nền văn hóa phong phú đa dạng, có lễ hội truyền thống vẫn được tổ
chức thường xuyên hàng năm đó là bản sắc văn hóa quý báu của huyện cần
được bảo vệ. Trong đó, chiếm tỷ lệ lớn nhất là dân tộc Dao. Dân tộc Mông và
dân tộc Dao sống chủ yếu ở vùng cao hẻo lánh và vùng núi đá. Một bộ phận
đồng bào này thường sống du canh, du cư hoặc định cư nhưng còn du canh.
Tổng dân số toàn huyện là 39 644 người. Mật độ dân số bình quân chung
của huyện là 47người/Km2. Nhưng điều đáng lưu ý là sự phân bố dân cư
không đều giữa các xã trong huyện. Nơi có mật độ đông dân nhất là Thị trấn
Nguyên Bình 207người/Km2 và Thị trấn Tĩnh Túc 165 người/Km2. Nơi có
mật độ thấp nhất là xã Thịnh Vượng 16 người/Km2. Vì vậy dẫn đến đòi hỏi
yêu cầu bố trí đất dành cho xây dựng nhà ở và các công trình văn hoá phúc lợi
cũng có sự khác nhau giữa các khu vực, chính vì thế trong quy hoạch sử dụng
đất đai cần chú ý đến đặc điểm này.
- Lao động
Lao động trên địa bàn huyện chủ yếu là theo mùa vụ, do vậy hướng giải
quyết việc làm là khắc phục tình trạng bán thất nghiệp bằng các hình thức đẩy
mạnh chuyển dịch cơ cấu cây trồng và vật nuôi. Đầu tư thâm canh tăng vụ,
nâng cao giá trị sản xuất của ruộng đất, phát triển tiểu thủ công nghiệp và
ngành nghề, phát triển kinh tế dịch vụ. Tạo điều kiện cho nhân dân được vay
vốn lãi suất ưu đãi, đẩy mạnh công tác khuyến nông, khuyến lâm nhằm trang
bị cho nông dân kiến thức thâm canh, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản