Sử dụng một số kĩ thuật dạy học tích cực giúp học sinh hệ thống kiến thức và ôn tập một số tác phẩm ngữ văn 12 - Pdf 35

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
TRƯỜNG THPT LÊA.
LỢI THỌ XUÂN

TÊN ĐỀ TÀI

SỬ DỤNG MỘT SỐ KĨ THUẬT DẠY HỌC
TÍCH CỰC GIÚP HỌC SINH HỆ THỐNG
KIẾN THỨC VÀ ÔN TẬP MỘT SỐ TÁC
PHẨM NGỮ VĂN 12

Người thực hiện: Đỗ Thị Huyền
Chức vụ: Giáo viên
Sáng kiến kinh nghiệm môn: Ngữ Văn
Tổ: Ngữ Văn
Đơn vị: THPT Lê Lợi – Thọ Xuân – Thanh Hóa

SKKN Năm học 2012 - 2013


A. PHẦN MỞ ĐẦU.
Lí do chọn đề tài.
Vào các năm gần đây, “Đổi mới phương pháp dạy học”, sử dụng “kĩ thuật dạy
học” là những cụm từ trở nên quá quen thuộc trong ngành giáo dục. Nó là một đòi hỏi
cấp bách, một xu hướng tất yếu của các trường học. Cùng với một số môn học khác,
thực trạng dạy - học môn Văn được đề cập rất nhiều trên các phương tiện thông tin,
trong đó đặc biệt nhấn mạnh tỉ lệ học sinh yếu ở bộ môn Văn ngày càng cao, kéo theo
kết quả không mấy khả quan trong các kỳ thi tốt nghiệp THPT và thi Đại học, Cao
đẳng.
Vì vậy, vấn đề làm thế nào để có thể nâng cao kết quả học tập và ôn thi tốt
nghiệp THPT, thi Đại học, Cao đẳng môn Ngữ Văn cho học sinh lớp 12 thật sự là vấn

sinh hệ thống kiến thức và ôn tập một số tác phẩm Ngữ Văn 12.
B. Néi dung cña ®Ò tµi
1. C

SỞ LÝ LUẬN

Chương trình giáo dục phổ thông ban hành kèm theo Quyết định số 16/2006/
QĐ – BGDĐT ngày 5/6/2006 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã nêu: “Phải phát huy tính
tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc trưng môn học,
đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện của từng lớp học; bồi dưỡng cho học sinh
phương pháp tự học, khả năng hợp tác; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào
thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập
cho học sinh”.
Theo khảo sát mới nhất của P
guyễn ông hanh trường Đại học Sư
phạm Hà Nội, có một con số khiến các nhà giáo “giật mình”: n
học sinh được
hỏi cho rằng mình không thực sự hứng thú và không biết cách học tập môn Văn.
Theo kết quả sơ bộ kỳ thi đại học năm 2012 có gần 10.000 bài thi bị 0 điểm,
trong đó môn Văn chiếm phần không nhỏ. Cũng sau kỳ thi đại học này, nhiều bài
phân tích, bình giảng văn, thơ của các sĩ tử đã khiến các thầy, cô giáo trực tiếp làm
công tác giảng dạy cũng như các cán bộ trong ban chấm thi phải lên tiếng trước công
luận, rung một tiếng chuông cảnh tỉnh báo hiệu về một thực tế: học sinh ngày càng
cảm thụ các áng văn hay, các bài thơ truyền cảm bằng những tư duy xã hội học, theo
chủ nghĩa tự nhiên nếu không muốn nói là thô tục.
Theo
guyễn hị Hồng am thì có những lý do rất cơ bản để dẫn đến tình
trạng trên là: chương trình quá thiên về nhồi nhét kiến thức lý thuyết mà không chú
2


Cùng với những môn Khoa học Tự Nhiên, những môn Khoa Học xã hội cũng
có lượng kiến thức rất nhiều. Làm thế nào để học sinh hệ thống kiến thức, nắm vững
kiến thức một cách khoa học, logic, tránh sự nhầm lẫn? Là một giáo viên đứng trên
bục giảng tôi luôn trăn trở làm thế nào để giúp học sinh hệ thống kiến thức và ôn tập
một cách tốt nhất? Đặc biệt là với đối tượng học sinh chỉ chú trọng các môn học tự
nhiên, chủ yếu học khối A, B như trường THPT Lê Lợi. Đối với bộ môn Ngữ văn,
học sinh không những phải chăm học mà còn phải có phương pháp học phù hợp mới
có thể nắm vững kiến thức cơ bản.

3


Một thực trạng đáng lo ngại trong quá trình ôn tập là khi giáo viên hỏi bài, học
sinh đã nắm hầu hết kiến thức, nhưng khi kiểm tra lại thì học sinh đã quên hoặc có sự
nhầm lẫn tai hại. Nhầm lẫn kiến thức của giai đoạn văn học này sang giai đoạn văn
học khác, tác giả này với tác giả khác, thậm chí từ nhân vật này sang nhân vật khác…
Khi sử dụng kỹ thuật dạy học lập kế hoạch để hệ thống hóa kiến thức và kĩ
thuật sơ đồ tư duy trong giảng dạy tôi nhận thấy học sinh hứng thú, tích cực hơn so
với các phương pháp khác. Tuy nhiên, khi thực hiện những kỹ thuật dạy học này giáo
viên cũng cần kết hợp nhuần nhuyễn nhiều phương pháp để khai thác triệt tác dụng
của phương pháp dạy học tích cực.
III. GIẢI PHÁP VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN
3.1. Lập kế hoạch và xây dựng kế hoạch
3.1.1. Lập kế hoạch
Bộ môn Ngữ Văn nằm trong nhóm 3 môn thi bắt buộc trong kỳ thi tốt nghiệp
THPT hàng năm, bao gồm: Văn, Toán và Ngoại ngữ. Đặc điểm này yêu cầu nhà
trường, giáo viên bộ môn và học sinh phải có kế hoạch chủ động chuẩn bị ngay từ đầu
năm học.
Giáo viên bộ môn lập kế hoạch dạy học trên cơ sở kế hoạch công tác chung
của nhà trường và tổ chuyên môn để có sự thống nhất, đồng bộ trong giảng dạy. Cụ

các bài kiểm tra 2 tiết cho toàn khối 12 ngay từ đầu năm học với sự thống nhất trong
tổ chuyên môn về ma trận đề và nội dung trong từng bài kiểm tra.
-Học sinh khối 12 học văn hóa sớm từ trong hè, đến cuối tháng 3 là hết chương trình.
Khi có thông báo của Bộ Giáo dục Đào tạo về các môn thi tốt nghiệp, nhà trường tiến
hành xếp lịch ôn tập môn Ngữ Văn 5 tiết/ tuần (tháng 4, tháng 5 với thời gian từ 6 - 7
tuần).
-Tổ bộ môn thảo luận, lập kế hoạch và thống nhất nội dung dạy học tăng tiết trong
từng tuần cho toàn khối; đề ra nội dung cụ thể cho từng tuần trong việc ôn thi tốt
nghiệp. Trong quá trình ôn tập, tiến hành ôn chương trình học kì II trước, sau đó
quay lại ôn tiếp chương trình học kì I.
3.1.2.2. Về phía giáo viên bộ môn:
- Ngay từ đầu năm, giáo viên bộ môn cần giới thiệu đến học sinh cấu trúc đề thi tốt
nghiệp THPT để các em làm quen, chủ động về kiến thức và có cách giải quyết đề bài
hiệu qủa nhất. Cụ thể:
Đề thi tốt nghiệp THPT thường có hai phần với 3 câu hỏi:
A-Phần chung: (5,0đ):
1 - Câu hỏi giáo khoa (2,0 điểm): tái hiện kiến thức về giai đoạn văn học, tác giả, tác
phẩm văn học Việt am và tác giả, tác phẩm văn học nước ngoài.
2 - Đề nghị luận xã hội (3,0 điểm): Vận dụng kiến thức hiểu biết về xã hội và đời sống
để viết bài nghị luận xã hội ngắn (khoảng 400 từ) với hai dạng đề: ghị luận về một
tư tưởng, đạo lí hoặc nghị luận về một hiện tượng đời sống.
B-Phần riêng (5,0đ):
3-Đề nghị luận văn học (5,0 điểm): Vận dụng khả năng đọc – hiểu và kiến thức văn
học để viết bài nghị luận văn học, phân tích giá trị nội dung, nghệ thuật của bài thơ,
đoạn thơ hoặc một tác phẩm văn xuôi (đặt mỗi tác phẩm trong từng giai đoạn lịch sử
cụ thể). Gồm:
a-Nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ.
b-Nghị luận về một tác phẩm, đoạn trích văn xuôi.
Trong quá trình học trên lớp, học sinh cần phải được trang bị những kiến thức
cơ bản của môn học một cách đầy đủ, có hệ thống (theo Phân phối chương trình của

Với một kĩ thuật hình họa có đường nét, có màu sắc có từ ngữ, hình ảnh được
dựa trên sự tưởng tượng và kết nối, bản đồ tư duy giúp chúng ta tự do suy nghĩ và
phát huy tiềm năng sáng tạo của bộ não. Học sinh không còn thụ động ngồi nghe giáo
viên giảng bài rồi ghi bài một cách máy móc mà trái lại các em sáng tạo ra “tác
phẩm” của riêng mình qua sự định hướng, gợi ý của giáo viên. Ngoài việc dùng bản
đồ tư duy trong dạy và học, bản đồ tư duy còn giúp học sinh nâng cao năng lực tự
học, tự kiểm tra.
Vì sao phải sử dụng Bản đồ tư duy trong việc dạy, học và hệ thống kiến thức?
Bản đồ tư duy sẽ giúp chúng ta sáng tạo hơn, tiết kiệm thời gian hơn, ghi nhớ tốt hơn,
có thể nhìn thấy bức tranh tổng thể…Khi lập một bản đồ kiến thức, ngoài việc nhớ và
hiểu kiến thức mới còn giúp chúng ta nắm kiến thức sâu, kĩ hơn. Dùng Bản đồ tư duy
để dạy, giáo viên sẽ có một định hướng rõ rệt, một kế hoạch cụ thể nắm vững và trình
bày những nội dung cơ bản một cách đơn giản hơn để học sinh dễ hiểu, dễ nắm bắt
6


được tính hệ thống và mối quan hệ của những tri thức mà không rơi vào những chi
tiết vụn vặt, thứ yếu hoặc không thấy rõ tính hệ thống của bài học.
3.2.2. Quy trình lập bản đồ tư duy:
Trước hết, chúng ta bắt đầu bằng từ trung tâm với hình ảnh của chủ đề. Sau đó,
nối các nhánh chính (cấp một) đến hình ảnh trung tâm, nối các nhánh cấp hai đến các
nhánh cấp một…bằng các đường kẻ (luôn sử dụng màu sắc vì màu sắc cũng có tác
dụng kích thích não như hình ảnh). Các đường kẻ càng gần hình ảnh trung tâm càng
được tô đậm hơn, dày hơn. Khi chúng ta nối các đường với nhau, chúng ta có thể hiểu
và nhớ nhiều hơn do bộ não chúng ta làm việc bằng sự liên tưởng. (Các đường ở cùng
một cấp độ phải có cùng màu sắc).
- Lưu ý: Mỗi từ hoặc ý nên đứng độc lập và được nằm trên một đường kẻ. Nên dùng
đường kẻ cong thay vì các đường thẳng vì các đường cong được tổ chức rõ ràng sẽ
thu hút được sự chú ý của mắt nhiều hơn. Ngoài ra cần bố trí thông tin đều quanh
hình ảnh trung tâm.

Tiết 1,2 Khái quát văn học Việt Nam từ CM tháng Tám 1945 đến hết thế kỉ XX
Tiết 3 Nghị luận về một tư tưởng đạo lí
Tiết 4
uyên ngôn Độc lập (phần một: Tác giả)
Tiết 5
Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt
Tiết 6
Bài viết số 1: Nghị luận xã hội
Tiết 7,8
uyên ngôn Độc lập (phần hai: Tác phẩm )
Tiết 10,11
guyễn Đình hiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc
Tiết 13
Nghị luận về một hiện tượng đời sống
Tiết 14
Phong cách ngôn ngữ khoa học
Tiết 15
Trả bài viết số 1, Bài viết số 2 Nghị luận xã hội (bài làm ở nhà)
Tiết 16,17 hông điệp nhân ngày thế giới phòng chống AID , 1-12-2003
Tiết 18
Nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ
Tiết 19,20 ây iến
Tiết 21
Nghị luận về một ý kiến bàn về văn học
Tiết 22
Việt Bắc (phần một: tác giả)
Tiết 23, 30
Luật thơ
Tiết 25,26 Việt Bắc (Phần 2: Tác phẩm)
Tiết 27

Vợ nhặt
Tiết 63
Nghị luận về một tác phẩm, một đoạn trích văn xuôi
Tiết 64,65,66 Rừng xà nu
Tiết 67,68
hững đứa con trong gia đình
Tiết 69
Trả bài viết số 5 - Bài viết số 6: Nghị luận văn học (học sinh làm ở nhà)
Tiết 70,71
hiếc thuyền ngoài xa
Tiết 72
Thực hành về hàm ý
Tiết 76,77
huốc
Tiết 78
Rèn luyện kĩ năng mở bài, kết bài trong bài văn nghị luận
Tiết 79,80
ố phận con người (trích)
Tiết 82,83
Ông già và biển cả (trích)
Tiết 84
Diễn đạt trong văn nghị luận
Tiết 85,86,87 Hồn rương Ba, da hàng thịt (trích)
Tiết 89,90
hìn về vốn văn hóa dân tộc
Tiết 91
Phát biểu tự do
Tiết 92,93
Phong cách ngôn ngữ hành chính
Tiết 94

+ Tiếng Việt : Hàm ý, phong cách ngôn ngữ hành chính.
Đối với những H có hướng thi đại học hối , D : Nội dung ôn tập phải bao gồm cả
chương trình văn học lớp 11. Cách làm bài cho dạng đề thi đại học.
3. MỘT SỐ MINH HOẠ CỤ THỂ
3.1. Tác phẩm Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân
Lớp 12, học sinh được tiếp cận tác phẩm Người lái đò sông Đà - Vẫn lối viết tài
hoa nghệ sĩ, song đối tượng không còn thuộc tầng lớp đài các “vang bóng một thời”
nữa mà là những người lao động bình thường – chất “vàng mười của Tây Bắc”. Để
tôn lên vẻ đẹp của người lao động trên sông nước, Nguyễn Tuân đã xây dựng thành
công hình tượng con sông Đà với hai nét tính cách nổi bật. Khi giáo viên triển khai
tiết học, bằng phương pháp này hay phương pháp khác, học sinh cũng nắm được
những nội dung cơ bản của bài học. Khi tiến hành ôn tập hoặc hệ thống hóa kiến thức,
giáo viên yêu cầu học sinh lên bảng triển khai theo sơ đồ tư duy. Có thể kèm theo câu
hỏi giúp học sinh định hướng đúng các ý chính cần trả lời.
Ví dụ: Trong tùy bút Người lái đò sông Đà, Nguyễn Tuân đã xây dựng những hình
tượng nhân vật nào? Hình tượng nhân vật ấy được thể hiện ra sao? Nhóm 1 trình bày
hình tượng con sông Đà, nhóm 2 trình bày hình tượng người lái đò.
Con sông Đà trên trang viết của Nguyễn Tuân hiện lên như một “nhân vật” với hai
nét tính cách trái ngược.
Người lái đò đã chinh phục được con sông hung bạo dữ dằn nhờ sự ngoan cường,
dũng cảm và kinh nghiệm sông nước.
Sau khi 2 nhóm trình bày lên bảng, giáo viên gọi học sinh dưới lớp nhận xét, bổ
sung để hoàn thiện Bản đồ tư duy về kiến thức bài học đó.
Như đã giới thiệu ở trên, chúng ta cũng có thể dùng cách chia nhỏ nội dung bài
học để học sinh nắm vững kiến thức từng phần. Ví dụ như cũng yêu cầu học sinh vẽ
Bản đồ tư duy tái hiện hai hình tượng cơ bản trong tác phẩm Người lái đò sông Đà,
nhưng giáo viên yêu cầu 4 nhóm làm việc độc lập:
+ Nhóm 1: tái hiện hình tượng con sông Đà hung bạo, dữ dằn.
+ Nhóm 2: tái hiện hình tượng con sông Đà thơ mộng, trữ tình.
+ Nhóm 3: tái hiện hình tượng ông lái đò với sự ngoan cường dũng cảm và kinh

khiến ta không khỏi nghẹn lòng.
Dõi theo lời kể của nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng, người đọc đi từ ngạc nhiên này
đến ngạc nhiên khác. Mở đầu là một “cảnh đắt trời cho”, tôi hiểu được cảm giác
choáng ngợp tâm hồn bởi anh phát hiện được một khung cảnh toàn bích. Anh đang
sống trong sự sung sướng – sự sung sướng của món ăn tinh thần chứ không thuộc về
thể xác. Ấy vậy mà ngay lúc ấy, anh phải chứng kiến cảnh tượng tàn bạo như sự trêu
đùa của tạo hóa. Một cảnh bạo hành dã man diễn ra ngay trước mắt. Lúc này không
biết có ai đã từng nghĩ: người đàn bà kia là kẻ thù? Người đàn kia đã phạm phải một
tội lỗi không thể dung tha? Nguyễn Minh Châu đã quá khéo khi đặt ra một tình huống
truyện độc đáo làm người đọc nhấp nhổm, đứng ngồi không yên. Phải tìm hiểu tiếp
câu chuyện để tìm lời giải đáp cho những thắc mắc trên.
Đến tòa án Huyện, người đọc như nhìn thấy vẻ mặt lo lắng, bối rối của người
đàn bà hàng chài. Sao không nghe thấy bà ta kể tội chồng mình như những người đàn
bà bị chồng đánh khác? Hay bà bị một sự đe dọa nào đó? Được khuyên bỏ chồng,
người đàn bà từ chối bằng một hành động khó hiểu “con lạy quý tòa”, “quý tòa bắt tội
11


con cũng được, phạt tù con cũng được, đừng bắt con bỏ nó…”. Chính lúc này, người
trực tiếp chứng kiến câu chuyện hay người gián tiếp nghe kể như chúng ta đều cảm
thấy khó hiểu, một cảm giác bất ngờ, khó chịu và bức xúc. Từ trong lời kể của bà toát
lên một nỗi đau, một sự cam chịu, một sự hi sinh vô bờ bến. Lúc đầu, chúng ta nghĩ
rằng người đàn bà nghèo khổ kia phải biết ơn nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng và chánh án
Đẩu. Nhưng không! Chính Phùng và Đẩu phải thầm cảm ơn vì sự sâu sắc và thấu hiểu
lẽ đời cuả người mẹ nghèo khổ. Một người mẹ luôn sống vì con. Thậm chí đến niềm
vui của bà cũng nhờ có các con “vui nhất là khi ngồi nhìn đàn con tôi chúng được ăn
no”.
Khi học tác phẩm này ở nội dung câu chuyện ở tòa án Huyện, giáo viên có thể
kết hợp nhiều phương pháp như thảo luận, nêu vấn đề, nêu giả thuyết…
+ Nếu em là người đàn bà hàng chài, em sẽ hành xử như thế nào?

3/ Bài mới
Hoạt động của
giao viên và học sinh

Nội dung cần đạt

I. TÌM HIỂU CHUNG
Hoạt động 1: Tổ chức
tìm hiểu chung
1. Tác giả
1. HS Đọc mục iểu dẫn
- Nguyễn Minh Châu (1930- 1989), quê ở làng Thơi, xã
và tóm tắt những nét Quỳnh Hải (nay là xã Sơn Hải), huyện Quỳnh Lưu, tỉnh
chính về tác giả, kể tên Nghệ An. Ông “thuộc trong số những nhà văn mở đường tinh
những sáng tác tiêu biểu anh và tài năng nhất của văn học ta hiện nay"
của Nguyễn Minh Châu.
- Sau 1975, khi văn chương chuyển hướng khám phá trở về
với đời thường, Nguyễn Minh Châu là một trong số những
nhà văn đầu tiên của thời kì đổi mới đã đi sâu khám phá sự
thật đời sống ở bình diện đạo đức thế sự. Tâm điểm những
khám phá nghệ thụât của ông là con người trong cuộc mưu
sinh, trong hành trình nhọc nhằn kiếm tiền hạnh phúc và
2. HS Đọc mục iểu dẫn hoàn thiện nhân cách.
và tóm tắt những nét
- Tác phẩm chính (SGK)
chính về tác phẩm hiếc
2. Truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa
thuyền ngoài xa.
- Tóm tắt tác phẩm (HS tự tóm tắt)
- Truyện in đậm phong cách tự sự - triết lí của Nguyễn

13


chiếc thuyền ngoài xa trên
biển sớm mù sương mà
người nghệ sĩ chụp được?
HS thảo luận, cử đại diện
trình bày trước lớp.
GV nêu câu hỏi và tổ
chức cho HS thảo luận:
Phát hiện thứ hai của
người nghệ sĩ nhiếp ảnh
mang đầy nghịch lí. Anh
đã chứng kiến và có thái
độ như thế nào trước
những gì diễn ra ở gia
đình thuyền chài.
HS thảo luận, phát biểu.

GV nêu câu hỏi: Câu
chuyện của người đàn bà
ở toà án huyện nói lên
điều gì?
HS thảo luận nhóm, cử
đại diện trình bày.

đời bấm máy anh chỉ gặp một lần. Người nghệ sĩ cảm thấy
hạnh phúc - đó là niềm hạnh phúc của khám phá và sáng tạo,
của sự cảm nhận cái đẹp tuyệt diệu . Trong hình ảnh chiếc
thuyền ngoài xa giữa biển trời mờ sương, anh đã cảm nhận

Là câu chuyện về sự thật cuộc đời, nó giúp những người
như Phùng, Đẩu hiểu rõ nguyên do của những điều tưởng
như vô lí. Nhìn bề ngoài, đó là người đàn bàn quá nhẫn nhục,
cam chịu, bị đánh đập... mà vẫn nhất quyết gắn bó với lão
chồng vũ phu. Nhưng tất cả đều xuất phát từ tình thương vô
bờ đối với những đứa con. Trong đau khổ triền miên, người
14


S nêu cảm nghĩ về các đàn bà ấy vẫn chắt lọc những niềm hạnh phúc nhỏ nhoi....
nhân vật: người đàn bà
Qua câu chuyện của người đàn bà làng chài, tác giả giúp
vùng biển, lão đàn ông người đọc hiểu rõ: không thể dễ dãi, đơn giản trong việc nhìn
độc ác, chị em thằng nhận mọi sự việc, hiện tượng của đời sống.
Phác, người nghệ sĩ nhiếp
3. Về các nhân vật trong truyện
ảnh
- Về người đàn bà vùng biển:
+ Tác giả gọi một cách phiếm định “người đàn bà”. Điều
tác giả gây ấn tượng chính là số phận của chị.
+ Ngoại hình: Ngoài 40, thô kệch, mặt rỗ, xuất hiện với
“khuôn mặt mệt mỏi”, người đàn bà gợi ấn tượng về một
cuộc đời nhọc nhằn, lam lũ, nhiều cay đắng.
- Phẩm chất:
+ Bà thầm lặng nhẫn nhục, chịu mọi đau đớn khi bị chồng
đánh không kêu một tiếng, không chống trả, không trốn
chạy=> nghị lực sống mãnh liệt.
+ “tình thương con cũng như nỗi đau, sự thâm trầm trong
cái việc hiểu thấu các lẽ đời hình như mụ chẳng để lộ ra bên
(HS làm việc cá nhân, ngoài”....bà không muốn những đứa con biết mình bị chồng


GV tổ chức cho HS tìm
hiểu cốt truyện:
Cách xây dựng cốt truyện
của Nguyễn Minh Châu
trong tác phẩm này có gì
độc đáo?
HS tiến hành:
a) Tóm tắt lại tình huống.
b) Bình luận về ý nghĩa
của tình huống

HS nhận xét về ngôn ngữ
nghệ thuật của tác phẩm
trên hai phương diện:
a) Về ngôn ngữ người kể
chuyện?
b) Về ngôn ngữ nhân vật?

chứa đầy trong những nốt rỗ chặng chịt”, “nó tuyên bố với
các bác ở xưởng đóng thuyền rằng nó còn có mặt ở dưới biển
này thì mẹ nó không bị đánh”. Hình ảnh thằng Phác khiến
người đọc cảm động bởi tình thương mẹ dạt dào.
- gười nghệ sĩ nhiếp ảnh:
+ Vốn là người lính thường vào sinh ra tử, Phùng căm ghét
mọi sự áp bức, bất công, sẵn sàng làm tất cả vì điều thiện, lẽ
công bằng.
+ Tâm hồn tinh tế: Anh xúc động ngỡ ngàng trước vẻ đẹp
tinh khôi của thuyền biển lúc bình minh. Một người nhạy
cảm như anh tránh sao khỏi nỗi tức giận khi phát hiện ra sự



Phùng, sự hóa thân của tác giả. Chọn người kể chuyện như
thế đã tạo ra một điểm nhìn trần thuật sắc sảo, tăng cường
khả năng khám phá đời sống, lời kể trở nên khách quan, chân
thật, giàu sức thuyết phục.
- Ngôn ngữ nhân vật: Phù hợp với đặc điểm tính cách của
từng người.
III. TỔNG KẾT
Hoạt động 3: Tổ chức
Vẻ đẹp của ngòi bút Nguyễn Minh Châu là vẻ đẹp toát ra
tổng kết
GV tổ chức cho HS tự từ tình yêu tha thiết đối với con người. Tình yêu ấy bao hàm
đánh giá một cách tổng cả khát vọng tìm kiếm, phát hiện, tôn vinh những vẻ đẹp con
quát giá trị của tác phẩm. người còn tiềm ẩn, những khắc khoải, lo âu trước cái xấu, cái
ác. Đó cũng là vẻ đẹp của một cốt cách nghệ sĩ mẫn cảm, đôn
hậu, điềm đạm chiêm nghiệm lẽ đời để rút ra những triết lí
nhân sinh sâu sắc. hiếc thuyền ngoài xa là một trong số rất
nhiều tác phẩm của Nguyễn Minh Châu đã đặt ra những vấn
đề có ý nghĩa với mọi thời, mọi người.
V. HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI
Sau hai năm kiên trì sử dụng kĩ thuật dạy học tích cực trong các giờ đọc - hiểu
văn bản văn học, tôi nhận thấy không khí các giờ học được cải thiện đáng kể. Số
lượng học sinh xung phong phát biểu xây dựng bài cũng như số học sinh trả lời được
câu hỏi do giáo viên nêu ra ngày càng nhiều hơn. Một số em thì thực sự thích học
môn Ngữ Văn.
Đặc biệt, qua việc xây dựng và lập kế hoạch trong khi ôn tập củng cố lại kiến
thức, khả năng nắm bắt và kiến thức về tác phẩm của nhiều học sinh được mở rộng,
khắc sâu. Nhờ thế, các em có vốn liếng văn học nhất định để làm tốt các bài nghị luận
văn học. Điểm số của các bài Làm văn cũng như điểm số môn Ngữ Văn của các em

%

g

Số
lượng

%

Số
lượng

%

Số
lượng

%

12A11

48

7

14,5

30

62,5

Không
Lớp

hiểu bài


số

Số
lượng

%

Hiểu bài
Số
lượng

%

Không

Hứng thú

hứng thú
Số
lượng

%

Số

80

0

0

10

20

Kết quả chất lượng kiểm tra
1. Năm học 2011- 2012 (Lớp: 12A11 và 12A12)
Số lượng và tỷ lệ
Trong đó, tỷ lệ
điểm trên trung
điểm khá, giỏi
bình trở lên
Bài KT học kỳ I
62/87
71.26%
20/62 (32.3%)
Bài KT học kỳ II
70/87
80.45%
26/70 (37.1%)
Điểm Bm H I
72/87
82.75%
15/72 (20.8%)
Điểm Bm H II

94.1%
79/85
92.9%

Trong đó, tỷ lệ
điểm khá, giỏi

Ghi chú

28/60 = (46.7%)
30/73 = (41.1%)
30/76 = (39.5%)
35/80 = (44%)
33/79 = (32.5%)

Tổng số học sinh:
85

18


C. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
1. KẾT LUẬN
Lựa chọn và áp dụng linh hoạt một số biện pháp trên trong quá trình giảng dạy
và ôn tập cho các lớp 12 được phân công giảng dạy, tôi nhận thấy một số em học yếu,
không nắm vững kỹ năng làm bài cũng đã dần từng bước cải thiện chất lượng học tập
môn Ngữ Văn của mình. Điều đó được thể hiện qua sự tham gia của các em vào các
hoạt động học tập trong giờ học, qua kết quả của các bài kiểm tra: các em nắm vững
kiến thức và biết cách tái hiện kiến thức theo yêu cầu của đề bài qua các bài kiểm tra
chung; điểm yếu kém của các em đã giảm dần qua từng bài kiểm tra.

19


XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯ NG ĐƠN VỊ Thanh hoá, ngày 20 tháng năm 2013
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết, không
sao chép nội dung của người khác.

Đỗ Thị Huyền

20


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục THPT, Nxb Giáo dục.
2. Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên giáo viên THPT chu kỳ 3 ( 2004 - 2007 )
3. Phương pháp tiếp nhận tác phẩm văn học ở trường THPT, Tác giả Nguyễn Thị
Thanh Hương.
4. Đọc văn - học văn, Tác giả Trần Đình Sử.
5. Trần Đình Sử, 2004, “Đọc- hiểu văn bản- một khâu đột phá trong việc dạy học văn
hiện nay”, Tạp chí giáo dục số 102, trang 16-18.
6. Đỗ Ngọc Thống, 2003, “ hương trình gữ văn HP và việc hình thành năng lực
văn học cho học sinh”, Tạp chí giáo dục số 66, trang 26-28
7. Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2010, ài liệu tập huấn giáo viên dạy học, kiểm tra đánh
giá theo chuẩn kiến thức, kỹ năng trong chương trình giáo dục phổ thông, môn gữ
Văn cấp HP
8. ách giáo khoa gữ Văn 12, tập 1 và tập 2, NXB Giáo dục, Hà Nội
9. Sách giáo viên Ngữ Văn 12 – Tập 1, tập 2 - Nhà xuất bản Giáo dục - Năm 2008.
10. Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kỹ năng môn Ngữ Văn 12 - Nhà xuất bản
Giáo dục Việt Nam - Năm 2010.
11. Rèn luyện kỹ năng nghị luận – Bảo Quyến – NXB Giáo dục – 2003.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status