THỰC TRẠNG về NHÂN CÁCH và TRÍ TUỆ cảm xúc của SINH VIÊN RĂNG hàm mặt, y học dự PHÒNG tại TRƯỜNG đại học y dược hải PHÒNG 2014 - Pdf 35

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC HẢI PHÒNG
-----------------------------

NGUYỄN THỊ HIỀN

THỰC TRẠNG VỀ NHÂN CÁCH VÀ TRÍ TUỆ CẢM XÚC
CỦA SINH VIÊN RĂNG HÀM MẶT, Y HỌC DỰ PHÒNG
TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC HẢI PHÒNG - 2014

LUẬN VĂN Y TẾ CÔNG CỘNG THẠC SỸ
Mã số: 60.72.03.01

HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. CAO THÚC SINH
PGS.TS PHẠM VĂN HÁN


LỜI CẢM ƠN
Sau thời gian học tập và nghiên cứu đến nay tôi đã hoàn thành
luận văn Thạc sỹ y học chuyên ngành Y tế công cộng.
Tôi xin chân thành cảm ơn:
- Ban giám hiệu, các Thầy cô giáo, Phòng đào tạo Sau đại học, Phòng
Đào tạo Đại học, Khoa Y tế công cộng cùng các bộ môn và phòng ban liên
quan của Trường Đại học Y Dược Hải Phòng
- Đã tạo điều kiện thuận lợi nhất và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học
tập.
Tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:
- GS.TS. Phạm Văn Thức – Hiệu trưởng trường Đại học Y Dược Hải

IQ

Trí thông minh logic

KQHT
NC
NXB

Kết quả học tập
Nghiên cứu
Nhà xuất bản

RHM
SV
TB
TBK
TTCX
TLH
YHDP

Răng hàm mặt
Sinh viên
Trung bình
Trung bình khá
Trí tuệ cảm xúc
Tâm lý học
Y học dự phòng

MỤC LỤC


Sai số và cách khắc phục sai số.........................................................29
2.8
Đạo đức trong nghiên cứu................................................................29
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU...................................................30
3.1
Thực trạng nhân cách của sinh viên năm thứ 1, năm thứ 2 chuyên
khoa Răng hàm mặt và chuyên khoa Y học dự phòng tại
3.2

trườngĐại học Y Dược Hải Phòng năm 2014...................................
Biểu hiện mức độ trí tuệ cảm xúc của sinh viên khoa chuyên Răng

hàm mặt và Y học dự phòng..............................................................
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN............................................................................49
4.1
Thực trạng nhân cách của sinh viên năm thứ 1, năm thứ 2 chuyên
khoa Răng hàm mặt và chuyên khoa YHDP tại trườngĐại học Y
4.2

Dược Hải Phòng năm 2014................................................................
Biểu hiện mức độ trí tuệ cảm xúc của sinh viên năm thứ1, năm

thứ2 chuyên khoa Răng hàm mặt và Y học dự phòng.......................
KẾT LUẬN...................................................................................................71
KHUYẾN NGHỊ...........................................................................................73


TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................74

DANH MỤC CÁC BẢNG

cuộc sống hàng ngày. Trí tuệ là kết quả tương tác của con người với
môi trường…”[ 26; 23]. Trí tuệ được hiểu bao gồm trí thông minh, trí
tuệ cảm xúc và trí sáng tạo.
Thuật ngữ “trí tuệ cảm xúc” (Emotional Interligence-EI) mới
được biết đến vào đầu những năm 90 của thế kỷ XX nhưng việc
nghiên cứu, ứng dụng trí tuệ cảm xúc vào cuộc sống đang thu hút
được sự quan tâm chú ý của nhiều người. Đã có không ít ý kiến cho
rằng: Chỉ số trí tuệ cảm xúc (TTCX) được coi là quan trọng hơn IQ và
CQ đối với sự thành bại của con người [26]. Nhà Tâm lý học người Mỹ
Daniel Goleman đã nhận định: “Trong những nhân tố quyết định sự
thành bại trong cuộc đời, IQ chiếm 25%, còn lại 75% do EQ tạo nên.”
[4; 13]


Vậy thực chất IQ hay EQ có vai trò quyết định trong sự thành đạt
của con người? Tại sao trí tuệ cảm xúc lại nhanh chóng thu hút được
sự chú ý rộng rãi như vậy? Phải chăng lý do là vì người ta nhận thấy
rằng khi xã hội càng phát triển, Khoa học - Kỹ thuật- Công nghệ ngày
càng phát triển, càng có nguy cơ làm tàn lụi đi những xúc cảm tích
cực hết sức cần thiết cho sự phát triển cá nhân và xã hội, những hiện
tượng tiêu cực trong đời sống cá nhân và xã hội gia tăng đến mức
báo động mà nguyên nhân chủ yếu là để cho những xúc cảm tiêu cực
phát triển không bị chế ngự nhất là các đối tượng sinh viên mới
chuyển bước giai đoạn tự chủ trong cuộc sống[12; 42]. Theo tác giả
Goleman: “Nghiên cứu EI để phát triển nó như là một năng lực giúp
cuộc sống của chúng ta phong phú hơn, thành công hơn, dường như
là một phương thuốc mang theo niềm hy vọng.”[ ]
Tại Việt Nam, từ năm 2001 đến nay đã có một số công trình
khoa học công nghệ cấp nhà nước nghiên cứu sự phát triển trí tuệ
một cách toàn diện hơn, đã quan tâm đến cả 3 chỉ số trí tuệ IQ, CQ,

thuyết khác nhau về trí tuệ. Có thể khái quát thành các thuyết đơn trí
tuệ, các thuyết đa trí tuệ.
Trong những năm gần đây, TTCX được nhiều nhà nghiên cứu
đặc biệt chú ý. Người ta nhận thấy trí thông minh (IQ) là quá trình chật
hẹp khi nói đến trí tuệ con người. IQ chưa chắc đã đảm bảo cho sự


thành đạt của mỗi con người mà muốn thành công trong cuộc sống rất
cần một hệ số cảm xúc cao.
Howard Garden (1983), trong học thuyết đa trí tuệ của mình đã
từng đề cập đến loại trí tuệ về người khác (Interpersonal Intelligence),
bao gồm các năng lực nhận thức rõ ràng và đáp ứng lại các tâm trạng,
khí chất, động cơ và các nhu cầu của người khác một cách thích hợp.
Người có trí tuệ loại này có khả năng khích lệ và nâng đỡ người khác.
Nhưng phải đến năm 1990, thuật ngữ TTCX mới thực sự xuất hiện lần
đầu tiên trong một bài báo của 2 tác giả người Mỹ: Peter Salovey và
John Mayer. Hai ông cho rằng TTCX là khả năng làm chủ, điều khiển,
kiểm soát tình cảm, cảm xúc của mình và của người khác, và khả
năng sử dụng các thông tin này để dẫn dắt, định hướng cách suy nghĩ
và hành động của một cá nhân.
Sau một thời gian nghiên cứu, tác giả Mayer và Salovey đã
chính thức định nghĩa TTCX: IE là khả năng nhận biết, bày tỏ xúc
cảm, hoà xúc cảm vào suy nghĩ, hiểu, suy luận với xúc cảm, điều
khiển, kiểm soát xúc cảm của mình và của người khác” [16], [9]
Năm 1995, tiến sĩ tâm lý học (TLH) người Mỹ D. Goleman đã
xuất bản cuốn “Trí tuệ cảm xúc”gây được tiếng vang lớn ở Mỹ và thế
giới. Goleman khẳng định rằng: “Chúng ta có hai hình thức khác nhau
của trí tuệ: trí tuệ lý trí và trí tuệ cảm xúc. Cách chúng ta hướng dẫn
cuộc sống của mình được quyết định bởi hai thứ trí tuệ ấy. Trí tuệ cảm
xúc cũng quan trọng như IQ. Trên thực tế không có TT cảm xúc thì trí

nghiên cứu nhân cách từ rất sớm và đến nay đã trở thành lĩnh vực
nghiên cứu rất mạnh mẽ cả trong lý luận lẫn thực hành. Trong TLH
phương Tây có 3 dòng hay 3 lực lượng TLH
- Lực lượng thứ nhất là TLH phân tích với các đại biểu như S.
Freud, C. Eirkson, E.Fromm, K.Horney,…
- Lực lượng thứ hai là TLH hành vi với các đại biểu như Watson,
Skinner, Bardura. Eyrenck,…
- Lực lượng thứ ba là TLH nhân văn (trong đó có cả TLH hiếu
sinh) với các đại biểu như A.Maslow, C. Rogers;
Thuộc các dòng TLH này có nhiều lý thuyết khác nhau về nhân
cách và sự phát triển nhân cách. Chẳng hạn lý thuyết nét nhân cách,
…và trong mỗi lý thuyết có nhiều tác giả khác nhau.
Lý thuyết về đặc điểm nhân cách (ĐĐNC) với các đại biểu:
Gordon, Wallport, Eyrenck, R.B.Cattell.. đã có những đóng góp to lớn
trong việc nghiên cứu về vấn đề nhân cách nói chung đó là họ đã cho
ra đời những công cụ đo lường nhân cách ổn định và rất hữu ích trong
công tác lâm sàng. Nhìn chung các đại diện của dòng lý thuyết về
ĐĐNC đều cho rằng ĐĐNC là thiên hướng phản ứng chung của cá
nhân và là đơn vị cơ sở của nhân cách. Điểm khác nhau ở họ là số
lượng và ý nghĩa của các ĐĐ cần thiết để có thể có những mô tả hoàn
chỉnh về nhân cách [dẫn theo 10; 23].
Các nhà TLH Macxôt cũng rất quan tâm nghiên cứu về các
ĐĐNC. Trong nhiều nghiên cứu khác nhau về nhân cách và các
ĐĐNC của Govaliôp, Platonôp, L.X.Vugôtxki, V.X. Merlin,…chúng tôi
đặc biệt chú ý đến quan điểm của A.N.Leonchiev và cấu trúc ĐĐNC


của J.Stefanovic. Họ đều cho rằng các ĐĐNC của con người luôn
được thể hiện trong các hoạt động, nhất là hoạt động chủ đạo cũng
như trong chính bản thân và sự tự điều chỉnh của chính họ.

Những năm 1990-1995, một chương trình nghiên cứu KX 07
được triển khai với tiêu đề : “Con người Việt Nam - Mục tiêu và động
lực của sự phát triển kinh tế - xã hội” ( KX07- 04). Đề tài này do tác giả
Nguyễn Quang Uẩn làm chủ nhiệm.
Năm 1997 – 2000, đề tài “Mô hình nhân cách con người Việt
Nam trong thời kỳ CNH – HĐH” thuộc chương trình KHXH 04 do PGS
Trần Trọng Thuỷ làm chủ nhiệm. Trong đề tài này nhóm nghiên cứu
lần đầu tiên đã sử dụng phương pháp test 16 PF của Cattell để nghiên
cứu [23].
Năm 2001 – 2005, đề tài KX 05-07 “Xây dựng con người Việt
theo định hướng XHCN trong điều kiện Kinh tế thị trường và nguồn
nhân lực trong thời kỳ CNH – HĐH 2001-2005” đã được triển khai và
phương pháp chủ yếu được sử dụng trong đề tài này là test NEO- PIR [8; 19].
1.2 Một số vấn đề lý luận cơ bản của đề tài nghiên cứu
1.2.1 Lý luận về đặc điểm nhân cách.
1.2.1.1. Nhân cách
Nhân cách là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học:
TLH, XH học, Triết học, Giáo dục học, Y học,…


Còn TLH Macxit xuất phát từ quan điểm cho rằng: “nhân cách là
một phạm trù xã hội, có bản chất xã hội - lịch sử, nghĩa là nội dung
của nhân cách là nội dung của những điều kiện lịch sử cụ thể của xã
hội cụ thể chuyển vào thành ĐĐNC của từng người” [30].
Theo tác giả Đặng Xuân Hoài thì cho rằng: “Nhân cách là một
cấu trúc bao gồm những thuộc tính và đặc điểm tâm lý ổn định tạo nên
bản sắc của cá nhân, được hình thành từ những quan hệ xã hội. Nhân
cách là chủ thể của hành vi và hoạt động có ý thức, qua đó thể hiện
giá trị xã hội của mỗi người” [9]
1.2.1.2. Đặc điểm nhân cách (ĐĐNC):

điển hình nhất của nhân cách trong mối liên hệ rất chặt chẽ. Theo
Cheplov thì: “Tính cách là biểu thị một tập hợp những thuộc tính tâm lý
trụ cột của con người. Tính cách là bộ khung của nhân cách”. Tính
cách là bao gồm những đặc điểm bản chất nhất của nhân cách. Như
vậy về nội dung bao hàm thì tính cách là phạm trù hẹp hơn phạm trù
ĐĐNC, là một phần của ĐĐNC. Vì thế đôi khi trong ngôn ngữ thông
thường người ta thường nhận xét về ĐĐNC của một cá nhân chính là
những tính cách của người đó.
1.2.1.3. Công cụ đo về ĐĐNC
Trong khuôn khổ của đề tài luận văn, chúng tôi giới thiệu lý
thuyết về ĐĐNC của Cattell (1905-1998) [ ]


Lý thuyết về ĐĐNC của Cattell cùng với phương pháp đo nhân
cách của ông đã đánh dấu một bước phát triển của dòng lý thuyết này.
Cattell không coi con người là một đơn vị cố định ứng xử theo
một cách thức trong tất cả các tình huống. Cách ứng xử phụ thuộc
vào ĐĐNC và động cơ thích ứng với hình huống đó. Cattell cho rằng
trong một số trường hợp các hành vi nhất định bị ràng buộc bởi các
tình huống môi trường (XH) hơn là các yếu tố nhân cách. Ví dụ các
phong tục tập quán có thể làm thay đổi sự ảnh hưởng của ĐĐNC.
Theo Cattell, yếu tố cơ bản về mặt cấu trúc là đặc điểm (trait), được
định nghĩa như là một thiên hướng. Khái niệm đặc điểm ngụ ý bao
hàm một số khuôn mẫu (pattern) và sự lặp lại của hành vi theo thời
gian và tình huống. Theo ông thì các ĐĐNC không đồng nhất với nhau
chúng khác nhau về quá trình hình thành, khả năng thay đổi về vai trò
trong cấu trúc nhân cách. Ông đã tìm cách để phân biệt các loại đặc
điểm khác nhau và chia thành hai nhóm:
- Nhóm thứ nhất là những đặc điểm năng lực (liên quan đến kỹ
năng, khả năng, ví dụ: Trí thông minh), đặc điểm tính khí (liên quan

Trắc nghiệm 16 PF của Cattell có hai loại bảng hỏi song song A
và B, mỗi bảng gồm 187 câu hỏi (dạng đầy đủ); có hai loại bảng hỏi
song song C và D, ngắn hơn, mỗi bảng gồm 105 câu hỏi (dạng rút
ngắn). Ngoài ra có loại bảng hỏi E cho trẻ con, gồm 128 câu hỏi. Các
câu hỏi ngắn hơn, cụ thể hơn, chữ to.


1.2.2 Đại cương về trí tuệ và trí tuệ cảm xúc
1.2.2.1. Trí tuệ
Trí tuệ theo quan điểm hiện đại: “Trí tuệ - đó là một cấu trúc
động, tương đối độc lập của những năng lực nhận thức và xúc cảm
của cá nhân, được hình thành và thể hiện trong hoạt động, do những
điều kiện văn hoá - lịch sử quy định và chủ yếu bảo đảm cho sự tác
động qua lại phù hợp với hiện thực xung quanh, cho sự cải tạo có
mục đích hiện thực ấy nhằm đạt được các mục đích quan trọng trong
cuộc sống của con người” [13; 8].
Các loại trí tuệ
* Trí thông minh:
Theo tác giả Nguyễn Công Khanh: Trí thông minh là năng lực
tổng thể hoặc một loạt các năng lực giúp cá nhân áp dụng các kỹ
năng nhận thức, xúc cảm và sự hiểu biết để học, để giải quyết vấn đề
và để đạt các mục đích có giá trị hoặc để sáng tạo ra các sản phẩm có
giá trị trong những điều kiện văn hoá lịch sử cụ thể [24; 29]. Đây là
định nghĩa được nhiều người tán thành nhất.
Như vậy trí thông minh đề cập đên 3 nhóm năng lực cơ bản, đó
là: Năng lực phân tích, năng lực thực hành và năng lực sáng tạo. Trí
thông minh là một loại năng lực tinh thần đặc biệt nằm trong bản thân
mỗi con người, nó giúp cho chúng ta có những hành vi ứng xử thông
minh vì vậy nó luôn mang tính chủ thể và chịu sự chế ước của môi
trường xã hội, do đó mà ta có thể kích thích tính tích cực của chủ thể


1.2.2.2. Trí tuệ cảm xúc
* Trí tuệ cảm xúc theo quan niệm của Daniel Goleman [ ]:
Daniel Goleman cho rằng “Trí tuệ cảm xúc bao gồm năng lực tự
kiềm chế, kiểm soát nhiệt tình, kiên trì và năng lực tự thôi thúc bản
thân mình”. Trí tuệ cảm xúc được quan niệm như vậy bao gồm các
năng lực sau đây:
1) Biết xúc cảm của mình, thể hiện ở sự nhận diện được xúc
cảm của mình khi nó xảy ra và kiểm soát được các xúc cảm của bản
thân ở mọi lúc.
2) Quản lý xúc cảm, thể hiện ở việc xử lý xúc cảm để tập trung
chú ý, ở năng lực an ủi động viên con người và năng lực loại bỏ xúc
cảm lo âu, trạng thái u sầu hoặc sự nổi giận.
3). Động cơ hoá. Thể hiện ở năng lực điều khiển xúc cảm
hướng vào mục đích hành động; khả năng biết trì hoãn sự thoả mãn
nhu cầu bản thân, dập tắt sự bốc xung tính và khả năng hoà vào tâm
trạng hứng khởi.
4) Nhận biết cảm xúc của người khác, thể hiện ở khả năng đồng
cảm với người khác, làm cho mình phù hợp với điều người khác cần
và mong muốn.
5) Xử lý các quan hệ, thể hiện ở khả năng điều khiển xúc cảm ở
người khác và biết phối hợp hành động hài hoà với người khác. [3;27]
* Bản chất của TTCX.
- TTCX là một cấu trúc phức hợp của nhiều năng lực khác nhau
liên quan đến lĩnh vực cảm xúc. Tác giả J. Mayer và P. Salovey khẳng


định: EI là hiện thân của một dạng trí tuệ mới có ý nghĩa quan trọng vì
một loạt năng lực liên quan đến xúc cảm thừa nhận phù họp hoàn
toàn trong phạm vi những định nghĩa, khái niệm trí tuệ đã được thừa

-

Nhận biết xúc cảm của

mình

• Nhận biết các quan hệ XH
- Đồng cảm
- Định hướng sự phục vụ

- Đánh giá chính xác
- Tự tin
• Tự kiểm soát, quản lý mình
-

(Quan hệ với người khác)

Kiểm soát xúc cảm của

mình
- Có lòng tự tin
- Tự ý thích
- Thích ứng
- Động cơ thành đạt

- Biết cách tổ chức
• Quản lý điều khiển các mối
quan hệ XH
- Phát triển người khác
- Tạo ảnh hưởng

giá là trắc nghiệm “ECI” (Emotional Competency Inventory) của
Bayatzis, Goleman (1999)…
Đo lường trí tuệ cảm xúc bằng phương pháp trắc nghiệm
thường sử dụng các cách tiếp cận: Tự đánh giá, người khác đánh giá
(cung cấp thông tin) hoặc đánh giá căn cứ vào kết quả thực hiện.
- Trắc nghiệm tự đánh giá: Các phép đo kiểu tự đánh giá đề nghị
mọi người bộc lộ ý kiến về một loạt những mệnh đề có tính chất mô
tả, chỉ ra rằng những mệnh đề này phù hợp với sự tự đánh giá của họ
về bản thân đến mức nào. Các năng lực xúc cảm được đánh giá dựa
trên sự tự hiểu biết của cá nhân. Nếu sự tự đánh giá của một cá nhân
về bản thân là chính xác thì các phép đo đó được coi là những phép


đo chính xác về năng lực thực. Ngược lại, nếu sự tự đánh giá của cá
nhân không chính xác (mà điều này thường xảy ra), lúc đó các phép
đo kiểu tự đánh giá sẽ cho những thông tin chỉ sự tự nhận của người
đó mà không phải là những năng lực thực. Trí tuệ cảm xúc tự đánh giá
chỉ có tương quan ở mức khiêm tốn với trí tuệ cảm xúc được đo thực
(r < 0,30). Mức độ tương quan như vậy chỉ ra rằng các năng lực trí tuệ
đo được bằng các trắc nghiệm tự đánh giá tương đối độc lập với các
năng lực thực của người đó. Mặc dù vậy, tự đánh giá cũng được xem
là cách tiếp cận quan trọng (Bandura, 1997).
- Trắc nghiệm do người quan sát đánh giá: Đây là phương pháp
thứ hai được dùng để đo lường. Người quan sát đưa ra những thông
tin về những gì mình nhận thấy (chẳng hạn vợ đánh giá chồng, cha
mẹ đánh giá con cái) và người ta sử dụng những câu hỏi chỉ ra mức
độ (rất cao, cao, trung bình, thấp, rất thấp) người này đã đạt được cho
từng ý, chẳng hạn: “tư duy hướng tới các ý tưởng”; “sẵn sàng thích
ứng với những thay đổi”; “là người chịu nghe”…
Cách tiếp cận đo lường này rõ ràng có những điểm ưu việt so

hơn với những yếu tố di truyền, do đó mặc dù con người có thể làm
tăng IQ của mình nhưng sự tăng này là không lớn và không phải dễ
dàng, thì EQ lại là cái dễ thay đổi và biên độ thay đổi là khá lớn. Các
nhà tâm lý học đã chỉ ra con đường luyện tập làm nâng cao EQ gồm
năm bước sau:



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status