nghiên cứu trí tuệ cảm xúc của sinh viên trường đh tây nguyên - Pdf 24


1

MỤC LỤC
Trang phụ bìa i
Lời cam ñoan ii
Lời cảm ơn iii
Mục lục 1
Danh mục các chữ viết tắt 3
Danh mục các bảng biểu, ñồ thị 4
MỞ ĐẦU 5
1. Lí do chọn ñề tài 5
2. Mục ñích nghiên cứu 6
3. Đối tượng, khách thể nghiên cứu 6
4. Nhiệm vụ nghiên cứu 6
5. Phạm vi nghiên cứu 6
6. Giả thuyết khoa học 6
7. Phương pháp nghiên cứu 7
8. Đóng góp mới của luận văn 7
9. Cấu trúc của luận văn 7
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ TRÍ TUỆ CẢM XÚC 8
1.1. Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn ñề trí tuệ cảm xúc 8
1.1.1. Những nghiên cứu ở trên thế giới 8
1.1.2. Những nghiên cứu ở Việt Nam 11
1.2. Trí tuệ và trí tuệ cảm xúc 12
1.2.1. Trí tuệ 12
1.2.2. Cảm xúc 14
1.2.3. Trí tuệ cảm xúc 19
1.3. Trí tuệ cảm xúc của sinh viên 33
1.3.1. Đặc ñiểm phát triển trí tuệ của lứa tuổi sinh viên 33
1.3.2. Đặc ñiểm xúc cảm, tình cảm của sinh viên 34

2. Kiến nghị 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
PHỤ LỤC 74

3DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ĐHTN Đại học Tây Nguyên
SV Sinh viên
EI Trí tuệ cảm xúc
EQ Chỉ số trí tuệ cảm xúc
IQ Chỉ số thông minh
KQHT Kết quả học tập
TB Trung bình
TL% Tỉ lệ phần trăm
TN Thực nghiệm
TS Tần số
Qtkd Quản trị kinh doanh
Dân tộc Dân tộc

4

Bảng 3.15. So sánh giá trị trung bình ñiểm số EQ của nhóm thực nghiệm 68 5

MỞ ĐẦU

1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trí tuệ cảm xúc (Emotional Intelligence) là một khái niệm hiện ñại ñang
ñược nghiên cứu và ứng dụng trong mọi lĩnh vực sống của con người.
Các chuyên gia tâm lý ñã khẳng ñịnh rằng: một khi cá nhân ñã có tất cả các yếu tố
trí tuệ cảm xúc, thậm chí chỉ với chỉ số thông minh trung bình, cá nhân ñó có thể
thành ñạt trong cuộc sống, trong sự nghiệp. Ngược lại, những người có chỉ số thông
minh cao nhưng thiếu hụt trong trí tuệ cảm xúc thì họ rất khó thành công trong cuộc
sống, thậm chí ở vị trí thấp hơn những người có chỉ số thông minh trung bình nhưng
có trí tuệ cảm xúc cao.
Mặt khác, các nhà tâm lý học hiện ñại khi nghiên cứu về EQ ñã kết luận: hệ
số trí tuệ cảm xúc không phải một ñại lượng bất biến mà có thể thay ñổi thông qua
hoạt ñộng. Vì vậy, mỗi cá nhân có thể luyện tập ñể nâng cao trí tuệ cảm xúc của
mình theo những bước nhất ñịnh với sự hướng dẫn của các chuyên gia tâm lý học.
Trí tuệ cảm xúc là một hiện tượng tâm lý phức hợp có vai trò quan trọng trong sự
thành công của hoạt ñộng con người trong xã hội hiện ñại. Vì vậy, tìm hiểu và xác
ñịnh và phát triển trí tuệ cảm xúc của con người là một vấn ñề cần có những nghiên
cứu tiếp tục.
Trong giai ñoạn hiện nay, ñất nước ta ñang trong thời kì CNH - HĐH, sinh
viên là nguồn nhân lực lao ñộng chất lượng cao phục vụ ñắc lực cho nhiệm vụ xây
dựng và bảo vệ tổ quốc. Vì vậy, việc nghiên cứu, bồi dưỡng và phát triển trí tuệ nói
chung, trí tuệ cảm xúc nói riêng cho sinh viên là nhiệm vụ cần thiết và quan trọng
nhằm thực hiện mục tiêu nâng cao chất lượng cuộc sống, tăng cường hiệu quả hoạt
ñộng học tập, nâng cao chất lượng giáo dục - ñào tạo, phát triển nhân cách toàn diện

5. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
* Khách thể nghiên cứu: 284 sinh viên thuộc năm1, năm 2, năm 3 thuộc khoa Sư
Phạm và khoa Kinh Tế.
* Địa bàn nghiên cứu: trường Đại học Tây nguyên
* Thời gian nghiên cứu: tháng 04 năm 2008 ñến tháng 12 năm 2008
6. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Chúng tôi giả ñịnh rằng trí tuệ cảm xúc của sinh viên trường ĐHTN còn ở
mức ñộ thấp và chúng do nhiều yếu tố chi phối. Bằng các biện pháp tác ñộng có thể
nâng cao trí tuệ cảm xúc cho sinh viên trường Đại học Tây Nguyên.

7

7. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận
Phân tích, tổng hợp tài liệu,… ñể tổng quan các vấn ñề lí luận về trí tuệ cảm xúc.
7.2. Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp trắc nghiệm, phương pháp quan sát, phương pháp trò chuyện,
phương pháp ñiều tra bằng bảng hỏi, phương pháp thực nghiệm, phương pháp
nghiên cứu sản phẩm hoạt ñộng,… nhằm khảo sát thực trạng và thử nghiệm một số
biện pháp tác ñộng nâng cao trí tuệ cảm xúc của sinh viên ĐHTN.
7.3. Phương pháp thống kê toán học
Dùng các công thức thống kê ñể xử lí và phân tích các kết quả nghiên cứu và phần
mềm SPSS 1.3 for window.
8. ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN
8.1. Luận văn góp phần làm sáng tỏ cơ sở lí luận về trí tuệ cảm xúc của sinh viên.
8.2. Chỉ ra ñược hiện trạng và thử nghiệm các biện pháp nâng cao trí tuệ cảm xúc
cho sinh viên trường ĐHTN.
9. CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Mở ñầu
Chương 1: Cơ sở lí luận của ñề tài

Năm 1937, Robert Thorndike và Saul Stern xem xét những cố gắng ño lường
của E. Thorndike ñưa ra. Họ nhận diện ñược 3 khu vực khác kề cận với trí tuệ xã
hội có thể liên quan ñến nó và thường lầm lẫn với nó, ñó là:
Thứ nhất là thái ñộ cá nhân ñối với xã hội.
Thứ hai là sự hiểu biết xã hội: những vấn ñề ñương ñại và những thông tin
chung về xã hội.
Thứ ba là mức ñộ ñiều chỉnh xã hội của cá nhân: hướng nội và hướng ngoại
ñược ño bằng những câu trả lời ñối với các phiếu hỏi.

9

Tuy nhiên, sau một thời gian nghiên cứu Thorndike và Stern kết luận rằng,
những cố gắng ño lường năng lực ứng xử với mọi người ñã ít nhiều thất bại. Điều
này có thể là do trí tuệ xã hội là một phức hợp gồm một số các năng lực khác nhau
hoặc một phức hợp của một số lớn các thói quen và thái ñộ xã hội cụ thể.
Nửa thế kỷ tiếp theo, các nhà tâm lý học hành vi và trào lưu ñó lường IQ ñã
quay trở lại ý tưởng ño lường EI. Năm 1952, David Wechsler mặc dù vẫn tiếp tục
phát triển các trắc nghiệm IQ của mình, cũng ñã thừa nhận các năng lực xúc cảm
như là một phần trong vô số các năng lực của con người [4, tr. 9].
Howard Gardner (1983) là người ñã ñưa ra mô hình ña trí tuệ nổi tiếng và ông
cho rằng trí tuệ cá nhân gồm 2 loại: trí tuệ nội nhân cách (intrapersonal intelligence)
và trí tuệ liên nhân cách (interpersonal intelligence) hay còn gọi là trí tuệ về bản
thân và trí tuệ về người khác [7, tr. 10].
Reuven Bar - On(1985), nhà tâm lý học người Israel (quốc tịch Mỹ), là người
ñầu tiên ñưa ra thuật ngữ EQ (Emotional Intelligence Quotient) trong luận án tiến sĩ
của mình. Sau ñó, ông xuất bản tập EQ (Emotional Quotient Intelligence, 1997) -
trắc nghiệm ñầu tiên về trí tuệ cảm xúc. Ông ñã nhận diện ñược 5 khu vực bao quát
về mặt chức năng phù hợp với thành công trong cuộc sống gồm:
Các kĩ năng làm chủ xúc cảm của mình.
Các kĩ năng ñiều khiển xúc cảm liên cá nhân.

dụng trực tiếp vào khu vực - hiệu quả quản lí và hoàn thành công việc, ñặc biệt
trong dự ñoán mức ñộ tối ưu của việc thực hiện công việc từ người bán hàng ñến
công việc của người quản lí” [3, tr.2 - 3].
Mô hình trí tuệ cảm xúc do D. Goleman ñề xuất là một mô hình hỗn hợp gồm 5 lĩnh
vực:
Hiểu biết về xúc cảm của mình (Knowing one,s emotion)
Quản lý xúc cảm (Managing Emotions)
Tự thúc ñẩy/ ñộng cơ hóa mình (Motivating oneselt)
Nhận biết xúc cảm của người khác (Recogninzing emotions in others)
Xử lý các mối quan hệ (Handling relationships)
Năm 1998, Daniel Goleman tiếp tục xuất bản cuốn “Làm việc với trí tuệ cảm
xúc” (Working with Emotional Intelligence). So với mô hình và ñịnh nghĩa ñầu tiên
về trí tuệ cảm xúc của Salovey và Mayer, ông ñã bổ sung 5 năng lực cảm xúc và xã

11
hội cơ bản là: năng lực tự ý thức, năng lực tự ñiều chỉnh, năng lực thúc ñẩy, năng
lực ñồng cảm và các kĩ năng xã hội [4, tr.18].
Có thể nói D. Goleman là tác giả lớn của một loạt các tác phẩm về trí tuệ cảm
xúc như: “Nghệ thuật lãnh ñạo cơ bản: việc nhận thấy sức mạnh của EI” (2002),
“Những xúc cảm dễ bị phá vỡ: làm thế nào ñể vượt qua” (2003), “Trí tuệ cảm xúc -
ứng dụng trong công việc” (2007)… Những nghiên cứu của ông không chỉ dừng lại
ở việc xác ñịnh bản chất của trí tuệ cảm xúc mà còn tìm ra những biện pháp giáo
dục nó một cách hiệu quả.
Tóm lại, trên thế giới có 3 ñại diện tiêu biểu nghiên cứu về trí tuệ cảm xúc:
1. Daniel Goleman ñề ra lý thuyết hiệu quả thực hiên công việc trong ñó ñưa
ra kiểu mô hình hỗn hợp mô tả trí tuệ cảm xúc bao gồm các năng lực tâm lý và các
phẩm chất nhân cách. Mô hình hỗn hợp này giúp cho dự ñoán và phát triển năng lực
vượt trội của những cá nhân xuất sắc trong công việc của từng loại nghề nghiệp, ở
từng cấp ñộ. Mô hình hỗn hợp này có ñộ hiệu lực dự ñoán rất cao (D. Goleman,
2003).

và thực tiễn của trí tuệ cảm xúc ở Việt Nam.
1.2. TRÍ TUỆ VÀ TRÍ TUỆ CẢM XÚC
1.2.1. Trí tuệ
Trí tuệ ñược các nhà khoa học tiếp cận ở nhiều góc ñộ khác nhau nên cũng có nhiều
ñịnh nghĩa khác nhau.
* Trong từ ñiển Anh - Việt: Trí tuệ - Intellect là khả năng của trí óc lập luận
ñể có ñược kiến thức, khả năng hiểu biết rộng và khả năng lập luận tốt. (trái ngược
với cảm xúc và bản năng)
* Trong từ ñiển Tiếng Việt: Trí tuệ là khả năng nhận thức lí tính ñạt ñến một
trình ñộ nhất ñịnh.
* Theo từ ñiển Tâm lí học(Nguyễn Khắc Viện chủ biên):
Trí tuệ là khả năng hành ñộng thích nghi với biến ñổi của hoàn cảnh, thiên về tư
duy trừu tượng.
* Trong tâm lí học, trí tuệ ñược hiểu theo 3 hướng sau:
Trí tuệ là năng lực học tập, năng lực nhận thức của con người (Levitov, V.V.
Bogoxlovxki)

13
Trí tuệ là năng lực tư duy trừu tượng, chẳng hạn: Terman khẳng ñịnh rằng;
một cá nhân thông minh tương ứng với khả năng thực hiện tư duy trừu tượng: R.
Sternberg cho rằng; ñịnh tính cơ bản hàng ñầu của trí tuệ là năng lực tâm thần ở
mức ñộ cao, chẳng hạn suy luận trừu tượng: X.L. Rubinstein xem hạt nhân cơ bản
của trí tuệ là các thao tác tư duy.
Trí tuệ là năng lực thích ứng của cá nhân. Đây là ñịnh nghĩa phổ biến nhất
ñược nhiều nhà tâm lý học tán thành, chẳng hạn:
W. Stern cho rằng trí tuệ là năng lực chung của một cá nhân biết ñặt tư duy
của mình một cách có ý thức vào những yêu cầu mới. Đây là năng lực thích ứng
tinh thần chung ñối với nhiệm vụ và ñiều kiện mới của ñời sống:
Garner xem trí thông minh như là một năng lực ñược dùng ñể giải quyết vấn ñề tạo
ra các sản phẩm có giá trị cho ngữ cảnh văn hóa cụ thể (Howard Gardner, 1999).

và mối quan hệ giữa bản thân với xã hội.
Tóm lại, từ các quan ñiểm của các nhà tâm lý học về trí tuệ có thể rút ra ñiểm thống
nhất rằng:
Trí tuệ là thuộc tính nhận thức tương ñối ñộc lập của nhân cách mà cốt lõi là
khả năng tư duy trừu tượng.
Trí tuệ chịu sự chế ước của các ñiều kiện văn hóa – lịch sử.
Trí tuệ có chức năng chủ yếu là ñảm bảo sự tác ñộng qua lại phù hợp với môi
trường xung quanh.
1.2.2. Cảm xúc
1.2.2.1. Khái niệm cảm xúc
Trong từ ñiển Oxford English Dictionary: cảm xúc (emotion) như là một
kích ñộng hay một rối loạn tinh thần, tình cảm, ñam mê, mọi trạng thái mãnh liệt
hay kích thích.
Theo từ ñiển Tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên - 1997): cảm xúc - rung ñộng
trong lòng do tiếp xúc với sự việc gì ñó.
Theo từ ñiển Tâm lí (Nguyễn Khắc Viện chủ biên - 1991): cảm xúc - phản
ứng rung chuyển của con người trước một kích ñộng vật chất hoặc một sự việc gồm
hai mặt:

15
Những phản ứng sinh lí do thần kinh thực vật như: tim ñập nhanh, toát mồ hôi, hoặc
run rẩy, rối loạn tiêu hóa.
Phản ứng tâm lí qua những thái ñộ, lời nói, hành vi và cảm giác dễ chịu, khó chịu,
vui sướng, buồn khổ,… có tính bột phát, chủ thể kiềm chế khó khăn.
Lúc phản ứng chưa phân ñịnh gọi là cảm xúc, lúc phân ñịnh rõ nét gọi là cảm ñộng,
lúc biểu hiện với cường ñộ cao gọi là cảm kích [22, tr.30-31].
Theo từ ñiển Tâm lí học (Vũ Dũng chủ biên - 2000): Cảm xúc - sự phản ánh
tâm lí về mặt ý nghĩa sống ñộng của các hiện tượng và hoàn cảnh, tức mối quan hệ
giữa các thuộc tính khách quan của chúng với nhu cầu của chủ thể, dưới hình thức
những rung ñộng trực tiếp.

Carroll E. Izard, nhà tâm lí học Mĩ nhận ñịnh: một ñịnh nghĩa cảm xúc trọn
vẹn phải tính ñến tính chất thể nghiệm của nó, phải bao hàm những thành tố thần
kinh và biểu cảm. Ông cho rằng: “cảm xúc là một hiện tượng phức tạp bao gồm
những yếu tố sinh lí thần kinh, những yếu tố vận ñộng biểu cảm và sự thể nghiệm
chủ quan” [1, tr.89]. Theo Izard, các cảm xúc nẩy sinh như là kết quả của những
biến ñổi trong hệ thần kinh và những biến ñổi này có thể ñược qui ñịnh bởi các sự
kiện bên trong cũng như bên ngoài [1, tr.34].
Izard chỉ ra rằng: mỗi xúc cảm trọn vẹn phải ñược tạo thành bởi ba yếu tố: cơ
chất thần kinh chuyên biệt bị chế ước bên trong, những phức hợp biểu cảm bằng nét
mặt ñặc trưng và sự thể hiện chủ quan khác biệt. Ông ñưa ra thuyết các xúc cảm
phân hóa và khẳng ñịnh rằng xúc cảm có cấu trúc tầng bậc gồm những xúc cảm nền
tảng và những xúc cảm phức hợp.
Các xúc cảm nền tảng gồm: hứng thú, hồi hộp, vui sướng, ngạc nhiên, ñau
khổ, căm giận, ghê tởm, khinh bỉ, khiếp sợ, xấu hổ và tội lỗi.
Các phức hợp xúc cảm là cấp bậc thứ hai của xúc cảm, ñược tạo nên từ “những tổ
hợp có biến thiên của các xúc cảm nền tảng và các quá trình xúc ñộng” như: lo lắng,
sự trầm uất, tình yêu, lòng thù ñịch [1, tr.112].
Daniel Goleman, dưới góc ñộ nghiên cứu xúc cảm và mối quan hệ giữa xúc
cảm và trí tuệ, ñã ñịnh nghĩa: “Xúc cảm vừa là một tình cảm và các ý nghĩ, các
trạng thái tâm lí và sinh lí ñặc biệt, vừa là thang của các xu hướng hành ñộng do nó
gây ra”. Ông cho rằng xúc cảm rất phong phú và ña dạng: “có hàng trăm xúc cảm
với những kết hợp, những biến thể và những biến ñổi của chúng. Những sắc thái
của chúng trên thực tế nhiều ñến mức chúng ta không có ñủ từ ñể chỉ” [4, tr.622].

17
Goleman ñã chỉ ra một số xúc cảm phổ biến như: giận, buồn, sợ, khoái, yêu,
ngạc nhiên, ghê tởm, xấu hổ [3, tr.623]. Ông xem xét các xúc cảm theo họ (familles)
Theo ông những họ chính của xúc cảm là: giận, buồn, sợ, thích, xấu hổ… Mỗi họ
này có một hạt nhân xúc cảm căn bản làm trung tâm, còn xung quanh là những làn
sóng nối tiếp nhau của vô số các xúc cảm có họ hàng với nó.

Phản ứng phương thức thể hiện ở 3 loại là tín hiệu tượng trưng, những hành ñộng
phức tạp và có hướng (sự gây hấn hay bỏ chạy), tập quán - những phản ứng bị quy
ñịnh về mặt văn hóa.
Carroll. E. Izard ñưa ra lý thuyết các xúc cảm phân hóa và cho rằng xúc
cảm có cấu trúc tầng bậc gồm những xúc cảm nền tảng và những xúc cảm phức
hợp. Mỗi xúc cảm trọn vẹn phải ñược tạo thành bởi 3 yếu tố: cơ chế thần kinh
chuyên biệt bị chế ước bên trong, những phức hợp biểu cảm nét ñặc trưng và sự thể
hiện chủ quan khác biệt.
Theo ông mười xúc cảm nền tảng gồm: hứng thú, hồi hộp, vui sướng, ngạc
nhiên, ñau khổ, căm giận, ghê tởm, khing bỉ, khiếp sợ, xấu hổ, tội lỗi.
C.E.Izard quan niệm cấp bậc thứ hai của xúc cảm là phức hợp xúc cảm ñược tạo
nên từ “những tổ hợp có biến thiên của xúc cảm nền tảng và quá trình xúc ñộng”
[1, tr.112], như là:
Lo lắng: như là phức hợp các xúc cảm nền tảng, bao gồm sự khiếp sợ, ñau
khổ, căm giận, xấu hổ, tội lỗi và ñôi khi cả hứng thú, hưng phấn.
Sự trầm uất: các xúc cảm nền tảng tham gia vào là ñau khổ, căm giận, khinh
bỉ, có liên quan tới chính bản thân mình và với người khác.
Tình yêu: là dạng phức hợp xúc cảm ñặc biệt trong mỗi con người, như tình
mẫu tử, tình yêu ñôi lứa, tình cảm bạn bè, …Cái chung của kiểu xúc cảm tình yêu là
sự gắn kết con người với nhau, nó có ý nghĩa tiến hóa sinh vật, văn hóa xã hội và cá
nhân. Tình yêu có ảnh hưởng ñến tất cả các ngưỡng xúc cảm khác và mọi quá trình
nhận thức của con người.
Lòng thù ñịch: là sự tác ñộng lẫn nhau của các xúc cảm nền tảng như căm
giận, ghê tởm, khinh bỉ. Nó là cơ sở của hành vi xâm lược (Izard, 1975).
Daniel Goleman, khi bàn ñến cấu trúc xúc cảm ñã chỉ ra rằng: “có hàng trăm xúc
cảm với những kết hợp, những biến thể và những biến ñổi của chúng. Những sắc
thái của chúng trên thực tế nhiều ñến mức chúng ta không có ñủ từ ñể chỉ”[3, 622].

19
Ông ñã chỉ ra một số xúc cảm thường ñược nhắc tới ñối với một số thành phần của

20
Qua các kết quả nghiên cứu về cơ sở sinh lý thần kinh của hoạt ñộng xúc
cảm, ñến nay các nhà khoa học ñã khẳng ñịnh rằng: “những liên lạc giữa vùng trán
trước và vùng rìa ñóng vai trò quyết ñịnh trong ñời sống tinh thần và những sự liên
lạc ấy là cần thiết ñể hướng dẫn chúng ta khi chúng ta có những quyết ñịnh lớn
trong cuộc ñời mình”. Cụ thể hơn là “những sự liên lạc giữa hạnh nhân và vỏ não
mới nằm ở trung tâm những “chiến trận” hay những hiệp ước hợp tác giữa ñầu và
trái tim, giữa tư duy và xúc cảm. Sự tồn tại của vòng mạch này giải thích tại sao các
xúc cảm là cần thiết cho tư duy, khi cần những quyết ñịnh khôn ngoan hay chỉ là ñể
suy nghĩ một cách sáng tạo”.
Như vậy, các chứng cứ khoa học ñã làm ñảo lộn quan niệm truyền thống về
sự ñối kháng giữa lý trí và tình cảm.
Từ việc tổng hợp các kết quả nghiên cứu về cảm xúc và hoạt ñộng của bộ
não xúc cảm và bộ não suy nghĩ, D. Goleman ñã ñưa ra quan niệm mới về mối quan
hệ giữa hai hình thức khác nhau của trí tuệ, trí tuệ lí trí và trí tuệ xúc cảm. Cách
chúng ta hướng dẫn cuộc sống của mình ñược quyết ñịnh bởi hai thứ trí tuệ ấy, trí
tuệ cảm xúc cũng quan trọng như trí thông minh. Trên thực tế, không có trí tuệ cảm
xúc thì trí tuệ không thể hoạt ñộng một cách thích ñáng” [3, tr.78]. D. Goleman lý
giải về mối quan hệ chặt chẽ giữa xúc cảm và tư duy trên cơ sở lý thuyết sinh lý
thần kinh, ñó là do trong hoạt ñộng của não bộ luôn có sự bổ sung cho nhau giữa hệ
thống rìa và vỏ não mới, giữa hạnh nhân và thùy trán trước, có nghĩa là mỗi hệ
thống là một tác nhân riêng biệt của ñời sống tinh thần. Khi “sự ñối thoại” ñược
thiết lập một cách thích hợp giữa các hệ thống ấy, trí tuệ cảm xúc và năng lực trí tuệ
nói chung ñược hoàn thiện.
Ngày nay con người lý tưởng phải ñạt ñược sự hòa hợp giữa cái ñầu và trái
tim tức là giữa lý trí và tình cảm. Để ñạt ñược ñiều này, D. Goleman và các nhà tâm
lý học thế hệ mới của Mỹ ñã chỉ ra rằng: “con người phải có trí tuệ cảm xúc, phải
suy nghĩ thông minh với xúc cảm của mình và ngược lại những xúc cảm ñó giúp
tăng cường trí thông minh”.
Vì trí tuệ cảm xúc là một khái niệm mới và phức tạp nên có nhiều quan ñiểm

* Trí tuệ cảm xúc theo quan niệm của Daniel Goleman
Cách nhìn thứ hai về EI ñược biết khá rộng rãi do D. Goleman ñề xướng (1995).
Ông ñã ñưa ra mô hình theo kiểu hỗn hợp, gồm 5 khu vực:

22
(a) Hiểu biết xúc cảm của mình (knowing one s emotion).
(b) Quản lý xúc cảm (managing emotion).
(c) Tự thúc ñẩy/ Động cơ hóa mình (motivating oneselt).
(d) Nhận biết xúc cảm ở người khác (recognizing emotions in others).
(e) Xử lý các mối quan hệ (handling relationships).
Trong mỗi khu vực lại gồm những ñặc tính cụ thể. Ví dụ, khu vực tự thúc ñẩy
mình gồm: ñiều khiển xúc cảm phục vụ mục ñích, trì hoãn sự thỏa mãn, hài lòng,
dập tắt xung kích và gia nhập tâm trạng hứng khởi.
D. Goleman ñã ñưa ra ñịnh nghĩa về trí tuệ cảm xúc: “Trí tuệ cảm xúc bao gồm
sự tự chủ, lòng nhiệt thành và kiên nhẫn, cũng như khả năng tự thôi thúc mình hành
ñộng” (Daniel Goleman, 1995).
Ít năm sau, trong cuốn: “Làm việc với trí tuệ cảm xúc” (1998), Goleman ñã
ñịnh nghĩa: “Trí tuệ cảm xúc là năng lực nhận biết các xúc cảm của mình và của
người khác, năng lực tự thúc ñẩy và năng lực quản lí tốt các xúc cảm trong bản thân
mình và trong các mối liên hệ với người khác” [12, tr.8].
Goleman nhận thức ñược rằng ông ñang ñi từ trí tuệ cảm xúc sang một cái gì ñó
rộng hơn khi cho rằng: sự linh hoạt của cái tôi … là hoàn toàn tương tự như mô
hình này về trí tuệ cảm xúc, trong ñó có cả các năng lực xã hội, năng lực xúc cảm.
* Trí tuệ cảm xúc theo quan niệm của Peter Salovey và John Mayer
Hai nhà tâm lý học Mỹ Peter Salovey (ñại học Yele) và John Mayer (ñại học
Hampshine) ñã phát biêu quan niệm của mình về trí tuệ cảm xúc: “Trí tuệ cảm xúc
ñược xem là khả năng hiểu rõ cảm xúc của bản thân, thấu hiểu cảm xúc của người
khác, phân biệt ñược chúng và sử dụng những thông tin ấy ñể hướng dẫn suy nghĩ
và hành ñộng của mình” [23, tr.26 - 27].
Năm 1997, sau nhiều công trình nghiên cứu Mayer và Salovey ñã bổ sung

- Trí tuệ cảm xúc là một cấu trúc phức hợp của nhiều năng lực khác nhau liên
quan ñến lĩnh vực cảm xúc và mang tính xã hội.
Trước hết, trí tuệ cảm xúc là tổ hợp của những năng lực về cảm xúc của bản
thân. Nhóm năng lực này lại ñược hợp bởi nhiều năng lực cụ thể khác nhau, chẳng
hạn như năng lực hiểu biết xúc cảm của bản thân, năng lực ñiều khiển, ñiều chỉnh
cảm xúc của bản thân cho phù hợp với hoàn cảnh xung quanh.

24
Trí tuệ cảm xúc là sự hiểu biết, tôn trọng và ñiều khiển ñược những cảm xúc
của những người xung quanh. D.Goleman viết: “lợi ích của mỗi người chúng ta phụ
thuộc vào mối quan hệ của chúng ta với những người xung quanh”. Để ñạt ñược
ñiều này ñòi hỏi mỗi người cần phải có các năng lực khác nhau như năng lực kiểm
soát ñược xúc cảm, tình cảm, ñiều khiển ñể chúng bộc lộ một cách thích hợp và
hiệu quả; ñồng thời phải có năng lực ñọc ñược cảm xúc của người khác, khuyến
khích ñược những người xung quanh hợp tác ăn ý với nhau ñể ñạt ñến mục tiêu
chung [6, tr.26].
Trí tuệ cảm xúc là một thuộc tính phức hợp của nhân cách mang bản chất xã
hội, ñược hình thành trong quá trình cá nhân tham gia vào các hoạt ñộng xã hội
khác nhau và chịu sự ảnh hưởng rất lớn của môi trường xã hội. Nó chỉ có thể ñược
ñánh giá một cách chính xác và giáo dục ñược một cách có hiệu quả thông qua hoạt
ñộng thực tiễn trong cộng ñồng xã hội.
- Trí tuệ cảm xúc là loại trí tuệ rộng hơn trí thông minh, dễ thay ñổi hơn và
biên ñộ thay ñổi cũng lớn hơn trí thông minh
Quan niệm truyền thống về trí tuệ là chật hẹp, khi cho rằng IQ là một dữ kiện
di truyền không dễ thay ñổi và nó quyết ñịnh sự thành bại của chúng ta trong ñời.
Ngày nay, các nhà nghiên cứu cho rằng IQ chỉ là một miền hẹp của những năng lực
ngôn ngữ và toán học. Do ñó những kết quả tốt trong các trắc nghiệm IQ truyền
thống chỉ cho phép tiên ñoán sự thành công trong nhà trường, chứ không ñảm bảo
cho sự thành ñạt trong cuộc sống. Daniel Goleman khẳng ñịnh, trong những nhân tố
quyết ñịnh thành công của ñời người thì IQ chỉ chiếm nhiều nhất là 20% mà thôi.

* Các mô hình cấu trúc của trí tuệ cảm xúc
- Các mô hình thuần năng lực của trí tuệ cảm xúc
P. Salovey, J. Mayer và D. Caruso là các tác giả ñại diện cho mô hình thuần
năng lực của trí tuệ cảm xúc, cho rằng mô hình có tính khái quát toàn diện về trí tuệ
cảm xúc phải bao gồm trong nó sự ño lường “khả năng tư duy về tình cảm”. Hơn
nữa, một mô hình thuộc về trí tuệ phải ñáp ứng 3 tiêu chuẩn ñược xác ñịnh là:
Phải là một mô hình phù hợp về mặt khái niệm, nghĩa là phải phản ánh ñược
các năng lực tâm thần hơn là chỉ mô tả hành vi.
Phải có tương quan, nghĩa là nó phải có ñiểm giống nhưng vẫn có sự khác biệt
với các loại trí tuệ ñã ñược thành lập.

Trích đoạn Tổ chức nghiên cứu thực nghiệm Nội dung thực nghiệm Một số biện pháp nâng cao trí tuệ cảm xúc của sinh viên ĐHTN
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status