MỤC LỤC
Nội dung
STT
1
2
3
Trang
Phần I : Đặt vấn đề
1. Lý do chọn đề tài
2. Mục đích nghiên cứu
2
Phần II : Giải quyết vấn đề
3
Chương I: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
1. Vai trò của việc sử dụng đồ dùng thiết bị dạy học (TBDH)
trong giảng dạy môn vật lý ở trường THCS
3
2. Chương trình và sách giáo khoa môn vật lý ở trường THCS
9
1. Giải pháp cũ
9
2. Giải pháp mới
3. Hiệu quả
4. Điều kiên áp dụng
12
16
18
Phần III : Kết thúc vấn đề
19
1. Ý nghĩa của đề tài
19
2. Khuyến nghị
19
2
3
1
dụng ĐDDH (đồ dùng dạy học). Mặt khác việc sử dụng ĐDDH vật lý có tác
dụng to lớn trong việc tạo ra trực quan sinh động cho quá trình phát triển tư duy
của học sinh.
Từ khi thực hiện đổi mới chương trình, sách giáo khoa kéo theo sự đổi
mới các thiết bị dạy học. môn Vật lý thiết bị dạy học (TBDH) đã được đáp ứng
tương đối đầy đủ, đồng bộ đến từng tiết, từng bài mang tính chính xác hiện đại.
Đứng trước tình hình đó đòi hỏi người giáo viên phải có lòng say mê nghề
2
nghiệp, có trình độ nghịêp vụ cao, trình độ chuyên môn vững vàng đặc biệt là
khả năng thao tác, vận dụng và sử dụng TBDH thành thạo khoa học để tiết dạy
đạt hiệu quả, tạo hứng thú học tập cho học sinh, theo quan điểm: “ Học mà chơi,
chơi để học” đáp ứng yêu cầu phương pháp dạy học mới “ Thầy chủ đạo, trò chủ
động”. Tuy nhiên hiện nay với ý nghĩa lớn lao của việc sử dụng ĐDDH vật lí,
bên cạnh những giáo viên tâm huyết, nhận thức rõ tầm quan trọng của việc sử
dụng đồ dùng thiết bị trong dạy học thì vẫn còn một số bộ phận giáo viên vẫn
xem nhẹ vai trò thực nghiệm vật lí, làm thí nghiệm sơ xài, hình thức, thậm chí
còn ngụy biện cho ĐDDH hư hỏng, chưa thực sự chủ động tìm tòi, khai thác
ĐDDH từ đó dẫn đến việc dạy và học khô khan.
Là một giáo viên được đào tạo chuyên ngành môn Vật lí, đã tham gia
giảng dạy nhiều năm tại trường THCS, tôi luôn trăn trở việc sử dụng TBDH
trong giảng dạy nhằm phát huy hiệu quả những thí nghiệm thực hành bổ sung
cho lí thuyết bài dạy, rèn luyện kĩ năng thao tác thí nghiệm thực hành cho học
sinh. Đến nay là một cán bộ quản lí, trong điều kiện đổi mới giáo dục, điều trăn
trở ấy của tôi càng tăng thêm và tôi luôn đi tìm câu trả lời cho câu hỏi: “ Làm
thế nào để giáo viên vật lý sử dụng thật hiệu quả tiết bị dạy học”. Qua quá trình
giảng dạy và quản lí, và đã từng là người trực tiếp chỉ đạo chuyên môn của nhà
trường tôi đã rút ra một số kinh nghiệm chỉ đạo việc sử dụng thiết bị dạy học
môn Vật lí để đạt hiệu quả cao nên tôi đã chọn vấn đề này làm đề tài nghiên cứu.
lĩnh khoa học.
Việc sử dụng Thí nghiệm trong dạy học vật lý là một trong những biện
pháp quan trọng giúp nâng cao chất lượng dạy học, góp phần tích cực hóa hoạt
động nhận thức của học sinh. Thông qua thí nghiệm có thể tạo ra những tác
động có chủ định, có hệ thống của con người vào các đối tượng của hiện thức
khách quan, qua đó học sinh có thể thu nhận được tri thức mới, giúp học sinh
rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo, đặc biệt là kỹ năng, kỹ xảo thực hành, củng cố niềm
tin khoa học nhằm hình thành thế giới quan duy vật biện chứng.
Thí nghiệm được sử dụng trong các giai đoạn khác nhau của tiến trình dạy
học từ khâu đề xuất vấn đề nhiệm vụ giải quyết vấn đề, hình thành kiến thức, kỹ
năng, củng cố kiến thức và kiểm tra đánh giá kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo của học
sinh. Thí nghiệm góp phần vào việc phát triển toàn diện học sinh. Thông qua
tiến hành thí nghiệm, học sinh hiểu được bản chất của các hiện tượng, định luật,
qua trình vật lý... kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn của học sinh sẽ linh
hoạt và hiệu quả hơn. Thí nghiệm tạo cho học sinh dễ quan sát hơn và đưa ra
những dự đoán, những ý tưởng mới, nhờ đó hoạt động nhận thức của học sinh sẽ
được tích cực và tư duy của các em sẽ được phát triển.
Thí nghiệm vật lý có chức năng kiểm tra tính đúng đắn cuả tri thức. Thí
nghiệm vật lý góp phần tích cực vào hoạt động nhận thức của học sinh kiểm
chứng sự đúng đắn trong suy luận và kiến thức mà họ thu nhận được.
Thí nghiệm được sử dụng với tư cách là phương tiện thử nghiệm cho việc
vận dụng tri thức vào thực tiễn. Trong dạy học vật lý thí nghiệm không những
4
có vai trò rất lớn trong việc tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh,
không những chỉ ở góc độ của kiến thức, rèn luyện kỹ năng thao tác, tác động
đến giác quan, mà còn giúp học sinh củng cố vận dụng kiến thức một cách vững
chắc.
Thí nghiệm là một bộ phận của phương pháp nhận thức. Thí nghiệm xuất
25
2
8
37
23
2
9
74
39
8
Trong số những bài có thí nghiệm mỗi bài có một hoặc nhiều thí nghiệm
trong đó 80% thí nghiệm thực hành, 20% thí nghiệm biểu diễn.
Vấn đề sách giáo khoa: Đa số các thí nghiệm Vật lý được trình bày bằng
kênh hình, có gợi ý phương án làm thí nghiệm để học sinh chủ động tìm ra
phương án và tiến hành thí nghiệm. Với cách viết sách mở buộc học sinh phải
tiến hành thí nghiệm để rút ra nhận xét kết luận.
3.Cách kiểm tra đánh giá
Các khâu kiểm tra đánh giá phải gồm cả lý thuyết và thực hành có nội
dung liên quan đến các bài thực hành trong chương trình. Các nội dung có liên
quan đến các bài thực hành trong chương trình.
1
Mô hình mẫu vật
11/11
100%
2
Bộ thí nghiệm điện
11/11
100%
3
Bộ thí nghiệm điện từ học
11/11
100%
4
Bộ thí nghiệm nhiệt học
11/11
14/11
127%
9
Máy chiếu hắt
6/11
60%
10
Phòng Vi tính
11/11
100%
6
Ghi chú
1.2 Khó khăn
Bên cạnh những thuận lợi cũng còn nhiều khó khăn như sau: ĐDDH vẫn
còn thiếu hụt theo yêu cầu ở một số bài, một số nội dung hoặc số chương, bên
cạnh đó chất lượng của một số đồ dùng dạy học cũng chưa được đảm bảo tốt về
tuổi thọ, độ bền, độ chính xác. Ví dụ:
của mình, tuy được đào tạo nhưng chưa nắm hết các danh mục thiết bị hiện có.
Các TBDH thường được giáo viên sử dụng đưa trang thiết bị cho học sinh
tự nghiên cứu lập phương án và tiến hành thí nghiệm.
Việc sử dụng TBDH còn hạn chế rất nhiều, các thao tác thực hành của
giáo viên chưa chuẩn xác kết quả thí nghiệm chưa có tính khoa học nên chưa có
tính giáo dục cao.
Một số giáo viên còn ngại sử dụng TBDH, trình độ thực hành ở một số giáo
viên còn hạn chế. Giáo viên dạy vật lý một số không sử dụng đồ dùng dạy học, vì
đồ dùng cồng kềnh nên còn ngại không mang lên lớp. Một số giáo viên khi lên lớp
thiếu sự chuẩn bị, khi thấy đồ dùng hư hỏng nhẹ cũng không sửa lại để phục vụ
giảng dạy. Việc sử dụng thiết bị dạy học trong môn vật lý đòi hỏi giáo viên phải
chuẩn bị bài thật chu đáo cẩn thận, phải chuẩn bị đầy đủ các thiết bị dạy học cần
thiết, phải làm trước các thí nghiệm sao cho đạt kết quả mong muốn.
Nhiều giáo viên khi lên lớp chưa sử dụng được các phương tiện hiện
đại một cách thường xuyên như: đèn chiếu, băng hình. Một số giáo viên chưa
được tham gia đầy đủ các lớp tập huấn ĐDDH hoặc chưa được học tập nghiên
cứu tốt các tài liệu hướng dẫn sử dụng ĐDDH cũng như các phương tiện nghe
nhìn.
Qua điều tra, thăm dò, quan sát việc sử dụng TBDH ở 11 trườngTHCS
thuộc địa bàn huyện Hoa Lư tôi thu được kết quả như sau:
TT
Loại thiết bị dạy học
Tỷ lệ % GV thường Tỷ lệ % GV không thường
xuyên dùng TBDH xuyên dùng TBDH
1
Bộ TN cơ học
Bộ TN từ và cảm ứng
63,8 %
36,2%
6
Bộ TN cơ học
68,5%
31,5%
7
Các mô hình và hình
85%
15%
8
Các loại tranh
65%
35%
Đại đa số bàn ghế đều kê theo các dãy hàng ngang do đó khi học nhóm,
làm thí nghiệm theo nhóm sẽ mất thời gian di chuyển, mất trật tự lớp học. Cũng
có những phòng học kê hai dãy bàn hướng vào nhau. Với cách làm này thì thuận
tiện cho khi học nhóm nhưng những khi không hoạt động nhóm thì học sinh rất
9
khó quan sát trên bảng, thậm trí tư thế ngồi của học sinh không cẩn thận sẽ bị
bệnh học đường như: cong vẹo cột sống, cận thị...
Các thiết bị vật lý cho từng khối học nhiều nhưng với diện tích một số
phòng bộ môn hiện nay rât khó sắp xếp để thuận tiện cho việc sử dụng.
1.2. Đối với giáo viên dạy bộ môn vật lý
Nhiều giáo viên chưa có kế hoạch mượn ĐDDH theo học kỳ hoặc cả năm.
Thực hiện phiếu mượn và trả ĐDDH mang tính đối phó. Chưa thường xuyên
nghiên cứu tài liệu hướng dẫn thí nghiệm vật lý THCS. Chưa phối hợp chặt chẽ
với cán bộ thiết bị để soạn, bố trí thiết bị và thao tác thử ĐDDH trước khi lên
lớp để phát hiện những hư hỏng hoặc cho kết quả chưa chính xác để kịp thời
khắc phục.
Giáo viên ít cho học sinh hoạt động nhóm mà chủ yếu là giáo viên làm
tthis nghiệm học sinh quan sát thí nghiệm rồi rút ra kết luận.
Việc sử dụng TBDH còn hạn chế rất nhiều, các thao tác thực hành của
giáo viên chưa chuẩn xác kết quả thí nghiệm chưa có tính khoa học nên chưa có
tính giáo dục cao.
Một số giáo viên còn ngại sử dụng TBDH, trình độ thực hành ở một số
giáo viên còn hạn chế. Giáo viên dạy vật lý một số không sử dụng đồ dùng dạy
học, vì đồ dùng cồng kềnh nên còn ngại không mang lên lớp.
Giáo viên chưa thực hiện đủ các giờ học thực hành không được cắt xén
các giờ thực hành biến thành bộ môn ôn tập hoặc chữa bài tập.
Giáo viên không phân loại các thí nghiệm và hướng dẫn, thực hiện theo
đặc điểm của từng loại thí nghiệm.
bộ môn
Phòng học bộ môn đúng tiêu chuẩn Quốc gia.
Diện tích phòng học phải đảm bảo, hệ thống cấp thoát nước theo quy định
hiện hành.
Bàn ghế nên kê hợp lý cho cả khi hoạt động nhóm và khi hoạt động cá
nhân. Theo tôi nên kê bàn ghế theo hàng ngang như lớp học bình thường nhưng
bàn ghế phải rộng, dài, phẳng để tiện làm thí nghiệm và đủ cho một nhóm hoạt
động.
Phòng học bộ môn phải liên thông với phòng đựng TBDH
Các thiết bị được sắp xếp khoa học theo khối khoa học, theo từng phân
môn.
Các thiết bị sắp xếp ngăn nắp trong từng ngăn tủ, mỗi ngăn chứa thiết bị
của từng phân môn.
Nhóm giải pháp 2: Đối với giáo viên day bộ môn vật lý
Giáo viên cần lên kế hoạch mượn ĐDDH theo học kỳ hoặc cả năm. Thực
hiện tốt phiếu mượn và trả ĐDDH theo quy định của trường. Thường xuyên
11
nghiên cứu tài liệu hướng dẫn thí nghiệm vật lý THCS, tùy theo bài nào, khối
lớp nào để có cách bố trí chọn dụng cụ thí nghiệm cho phù hợp, nắm vững
những điều cần chú ý trong thao tác thí nghiệm nhằm giúp cho học sinh thực
hiện tốt thí nghiệm trong mỗi bài học. Do đặc trưng môn học phải có sử dụng
ĐDDH nên phải khai thác tốt những ĐDDH hiện có trong bài. Cùng với tổ
chuyên môn để thường xuyên đề xuất những giải pháp sử dụng và bảo quản
ĐDDH cho tổ. Phối hợp với cán bộ thiết bị để soạn, bố trí thiết bị và thao tác thử
ĐDDH trước khi lên lớp để phát hiện những hư hỏng hoặc cho kết quả chưa
chính xác để kịp thời khắc phục. Hướng dẫn và dặn dò học sinh có nghiên cứu
trước các phương án tiến hành thí nghiệm và các ở nhà trong bài học mới sau
mỗi tiết dạy.
thường xuyên trên lớp đối với bộ môn vật lý
Thí nghiệm học sinh liên hệ chặc chẽ với bài học, nghiên cứu hoặc kiểm
chứng một hiện tượng vật lý nào đó trong bài học. Hoạt động học tập của học
sinh được tiến hành theo nhóm và cùng một nhịp độ, liên tục có qui tắc tuân theo
một chương trình thống nhất của cả lớp, với một thời gian qui định. Giáo viên
kiểm tra trực tiếp được quá trình làm việc của các nhóm học sinh trên lớp trong
một tiết dạy. Học sinh thể hiện rõ nét tính tập thể hổ trợ, cộng tác, hợp tác nhau
trong quá trình làm thí nghiệm nhóm.
Thí nghiệm do học sinh giữ vai trò rất quan trọng, nó có tác dụng hổ trợ
bổ sung kiến thức cho thí nghiệm biểu diễn và chuẩn bị tích cực cho thí nghiệm
thực hành. Thí nghiệm học sinh có ưu điểm ở chổ có nhiều nhóm học sinh tiến
hành cùng một thí nghiệm, nên có thể thu được một số kết quả cùng lúc, các kết
quả có thể so sánh với nhau và rút ra kết luận. Điều đó cho học sinh thấy được
tính khách quan của các hiện tượng, qui luật đang được nghiên cứu trong môn
học vật lý.
Với loại thí nghiệm do học sinh làm giáo viên phải triệt để khai thác hoạt
động nhóm và thường xuyên tạo cho học sinh có thói quen tự tìm tòi các phương
án làm thí nghiệm đông thời tự tạo ra các dụng cụ thí nghiệm bằng các vật dụng
trong đời sống hàng ngày.
Ví dụ: Khi dạy bài: “ Sự nở vì nhiệt của chất khí”, giáo viên nên cho học
sinh dựa vào các kiến thức đã học về sự nở vì nhiệt của chất lỏng và chất rắn để
yêu cầu học sinh chuẩn bị ở nhà các dụng cụ để nghiên cứu tìm hiểu về sự nở vì
nhiệt của chất khí. Học sinh đã tìm các dụng cụ thay thế như: Dùng vỏ cái chai
nhựa đậy kín( hay đựng nước uống, dùng vỏ hộp sữ bằng giấy để đựng không
khí khi nhúng vào nước ấm. hoặc dùng bóng bay là một vật rất gần gũi với các
em để tìm hiểu về sự nở vì nhiệt của chất khí. Học sinh sẽ thấy hứng thú hơn và
gần gũi hơn với môn học, đồng thời các em sẽ thấy tin tưởng hơn, dễ nhớ hơn
các kết luận rút ra.
13
viên không sử dụng DDTB dạy học. Đưa việc sử dụng phương tiện dạy học vào
tiêu chuẩn phấn đấu dánh giá cán bộ giáo viên để chấm dứt tình trạng giáo viên
không có thói quen sử dụng phương tiện dạy học, chấm dứt tình trạng giáo viên
sử dụng thiết bị không thành thạo nên ngại không muốn sử dụng TBDH.
14
Có kế hoạch mua sắm TBDH thiết thực, phù hợp đảm bảo nâng cao chất
lượng giờ lên lớp. Khi có trang thiết bị phải gắn liền với tập huấn cho giáo viên
sử dụng TBDH.
Tăng cường kiểm tra, dự giờ lên lớp của giáo viên để theo dõi việc sử
dụng thiết bị dạy học của giáo viên, góp ý cùng tổ chuyên môn về những chuyên
đề sử dụng thiết bị dạy học sao cho có hiệu quả cao nhất.
Chỉ đạo các tổ nhóm chuyên môn thường xuyên tổ chức các buổi sinh
hoạt chuyên đề đưa ra bàn bạc trao đổi những vấn đề trong đổi mới phương pháp
dạy học. Từ đó rút ra những kinh nghiệm, những bài học bổ ích trong việc sử
dụng đồ dùng thiết bị dạy học sao cho có hiệu quả cao nhất nhằm không ngừng
đổi mới để nâng cao chất lượng dạy học.
Cần quan tâm hơn nữa vai trò của công nghệ thông tin, công nghệ hiện
đại vào lĩnh vực giáo dục. Tổ chức các buổi hội thảo, chuyên đề sử dụng các
thiết bị và phương tiện nghe nhìn, trao đổi và học tập cách sử dụng các thiết bị
công nghệ thông tin trong tổ chuyên môn, tham gia thảo luận,hội thảo cách soạn
và sử dụng giáo án điện tử.
Tổ chức chỉ đạo cho giáo viên thường xuyên kiểm tra, tu bổ, bảo dưỡng
TBDH để có thể sử dụng lâu bền hơn.
Hàng năm duy trì và tổ chức hội thi tự làm đồ dùng dạy học nhằm khích
lệ phong trào. Kích thích giáo viên tích cực tham gia phong trào làm ĐDDH của
trường và các đợt dự thi làm ĐDDH của ngành: nghiên cứu trong bài dạy phần
nào, chương nào ĐDDH còn thiếu mà khả năng có thể thực hiện được để lên kế
hoạch, dự trù kinh phí làm và tham gia dự thi. Có ý kiến đề xuất với tổ chuyên
Trước hết đó là việc sắp xếp đồ dùng ở phòng thiết bị cũng như phòng bộ môn
phải khoa học hợp lí đúng từng danh mục. Phải lau chùi sạch sẽ và lau khô thiết
bị sau khi thực hành xong. Các thiết bị về điện như nguồn pin, đèn pin,...phải để
ở vị trí khô ráo và để xa các loại đồ dùng về chất lỏng, dung môi. Các loại kim
nam châm không được để gần với các nam châm có từ tính mạnh. Phải tiến hành
kiểm tra công tác bảo quản thường xuyên và lau chùi thiết bị đúng định kì.
Đối với dụng cụ thí nghiệm vật lí, trong quá trình giảng dạy người giáo
viên phải xác định được những loại đồ dùng nào dễ hỏng, dễ khắc phục và loại
đồ dùng nào việc hỏng hóc ít xảy ra.
3. Hiệu quả kinh tế và xã hội đạt được
Sau khi áp dụng một số giải pháp trên, qua điều tra chúng tôi thấy việc sử
dụng TBDH ở các trường THCS thuộc địa bàn huyện Hoa Lư đã có nhiều khả
quan hơn cụ thể như sau:
1. 1. Đối với giáo viên
Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức về việc sử dụng thiết bị dạy
- học vào đổi mới phương pháp giảng dạy.
16
Trường THCS Ninh An đã có 100% giáo viên đã đăng ký sử dụng thiết bị
phù hợp với mục tiêu, yêu cầu của bài dạy, giáo viên đã sử dụng giáo án điện tử,
phát huy được vai trò của hệ thống ti vi đã được trang bị ở các lớp học.
Thường xuyên tham gia báo cáo chuyên đề sử dụng ĐDDH ở tổ.
100% Giáo viên trong trường đã tham gia học tốt và có chứng chỉ A và
50% giáo viên có chứng chỉ B tin học, hầu hết phát huy được tác dụng trong
việc nghiên cứu giảng dạy. Việc soạn giảng và sử dựng trình chiếu Powerpoint
được 100% giáo viên thực hiện thành thạo.
Đề tài kinh nghiệm giúp các giáo viên phát huy tốt phương pháp dạy học
theo hướng tích cực.
Mặc dù còn gặp rất nhiều khó khăn, nhưng nhiều giáo viên đã đầu tư mua
46 %
3
4
Bộ TN tĩnh điện
Bộ TN điện
57,5 %
62,1%
43,5 %
37,9%
5
Bộ TN từ và cảm ứng
59,7%
41,3%
6
Bộ TN cơ học
75,8%
24,2%
Bước đầu giúp học sinh nắm bắt, tiếp thu được bài giảng qua lĩnh vực
công nghệ thông tin trong học tập bộ môn.
* Kết quả đại trà:
Khối 6
Khối 7
Khối 8
Khối 9
Năm học
Điểm
5
Điểm
8
Điểm
5
Điểm
8
Điểm
5
Điểm
8
66%
89,5% 58,8% 92,8%
59%
2013-2014
94%
55,2% 92,8%
74%
92,1% 62,5%
93,5
68%
2014-2015
96.5%
96,5%
72%
56%
2
2
1
2
2
2012- 2013
2
2
1
2
3
2013-2014
2
2
1
Vì vậy chúng ta phải thấy được tầm quan trọng của đề tài “ Chỉ đạo nâng
cao hiệu quả việc sử dụng thiết bị dạy học vật lý ”. Đề tài giúp chúng ta chuyển
biến nhận thức cần quan tâm hơn nữa trong việc nghiên cứu, tìm tòi phát huy sự
sáng tạo của các cá nhân và tập thể vào phong trào “ khai thác và sử dụng thiết
bị dạy học vật lý ”. Kịp thời khắc phục những vướng mắc khi sử dụng ĐDDH,
tăng cường khai thác tốt ĐDDH cũng như phương tiện nghe nhìn trong giảng
dạy vật lý, đồng thời phải tích cực tiếp thu và chuyển hoá mạnh mẽ các thành
tựu khoa học kỹ thuật và công nghệ thông tin vào việc dạy học trong giai đoạn
mới của thế kỷ XXI mà cả thế giới đang đón nhận sự bùng nổ tri thức khoa học
và công nghệ, nhằm góp phần nâng cao chất lượng bộ môn.
Đề tài kinh nghiệm giúp bản thân từng giáo viên phát huy tốt phương
pháp dạy học theo hướng tích cực. Từng bước đã đầu tư nghiên cứu soạn giảng
giáo án điện tử và phục vụ giảng dạy qua máy tính kết nối với Projektor.
Đề tài kinh nghiệm được tổ chuyên môn, BGH đồng tình và đánh giá cao,
đã áp dụng có hiệu quả trong giảng dạy vật lý ở trường.
Sau khi áp dụng đề tài giáo viên tích cực sử dụng TBDH hơn làm học
sinh phát triển toàn diện, rèn tính cần cù, cẩn thận, kiên trì, trung thực, kỹ năng,
kỹ xảo, tính khoa học, hiện đại. Nhận thức thế giới một cách khoa học, giúp học
sinh hiểu sâu sắc hơn về bản chất sự vật và hiện tượng tự nhiên, chinh phục tự
nhiên, chinh phục thế giới.
Đề tài góp phần để bộ môn Vật lý được thực sự giảng dạy như môn khoa
học thực nghiệm trước hết các thiết bị giáo dục phải được sử dụng có hiệu quả
cao nhất, đáp ứng yêu cầu về nội dung và phương pháp được quy định trong
chương trình.
2. Khuyến nghị
Để sử dụng tốt TBDH bộ môn Vật lý tôi xin có một số khuyến nghị sau:
19
Chính quyền địa phương cùng với ngành giáo dục sớm mở lớp đào tạo