CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
************
BẢN ĐĂNG KÍ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM NĂM 2015
TÊN SÁNG KIẾN:
“MỘT SỐ KINH NGHIỆM DẠY VÀ BỒI DƯỠNG
HỌC SINH GIỎI MÔN LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT CHUYÊN”
Tác giả sáng kiến: NGUYỄN THÙY HƯƠNG
Đơn vị công tác: Trường THPT Chuyên Lương Văn Tụy
1
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
************
BẢN ĐĂNG KÍ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM NĂM 2015
TÊN SÁNG KIẾN:
“MỘT SỐ KINH NGHIỆM DẠY VÀ BỒI DƯỠNG
HỌC SINH GIỎI MÔN LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT CHUYÊN”
Tác giả sáng kiến: NGUYỄN THÙY HƯƠNG
Chức danh: Giáo viên
Học vị: Cử nhân Sư phạm Lịch sử
Đơn vị công tác: Trường THPT Chuyên Lương Văn Tụy
Điều đó thể hiện Đảng và Nhà nước ta từ Trung ương đến địa phương đều rất
quan tâm đến công tác phát hiện, bồi dưỡng nhân tài, đào tạo nguồn nhân lực
chất lượng cao cho đất nước, phục vụ công cuộc công nghiệp hóa-hiện đại
3
hóa đất nước. Nhiệm vụ của các trường chuyên là vừa phải thực hiện giáo
dục toàn diện, vừa phải bồi dưỡng để phát triển năng khiếu của học sinh về
một môn học. Nhiệm vụ phát triển năng khiếu của học sinh về một môn học
nhất định nói ngắn gọn là công tác dạy chuyên và bồi dưỡng học sinh giỏi là
một nhiệm vụ chính trị thường xuyên, quan trọng của trường chuyên.
- Công tác dạy chuyên và bồi dưỡng học sinh giỏi mà kết quả của nó là có
những học sinh đạt kết quả cao trong các kì thi học sinh giỏi, nhất là cấp
Quốc gia không chỉ là mục tiêu, nhiệm vụ của Bộ Giáo dục-Đào tạo, của các
trường chuyên trên khắp cả nước mà còn là nhiệm vụ, trách nhiệm, là danh
dự nghề nghiệp của mỗi giáo viên dạy chuyên. Chính vì vậy, giáo viên dạy
chuyên thường phải chịu áp lực lớn về tỉ lệ, số lượng học sinh giỏi đạt giải
Quốc gia. Ở tỉnh ta, giáo viên dạy lớp 10, 11 chuyên lại thêm áp lực nữa là
đến khoảng đầu năm học lớp 11, học sinh phải được trang bị đầy đủ kiến thức
của chương trình toàn cấp, để các em có thể tham dự và đạt giải trong kì thi
Học sinh giỏi cấp Tỉnh lớp 12 và Học sinh giỏi cấp Quốc gia.
- Trong bối cảnh hiện nay, vị trí xã hội của bộ môn Lịch sử còn rất thấp. Mặc
dù môn Lịch sử có vai trò là “ôn cố tri tân” – học quá khứ để hiểu biết về
hiện tại và hướng tới tương lai; đồng thời còn góp phần giáo dục đạo đức,
nhân cách cho học sinh. Nhưng lâu nay, môn Sử vẫn bị coi là “môn phụ” ở
các trường từ tiểu học đến trung học. Hơn nữa, một thực tế không ai có thể
phủ nhận được là nếu học sinh chuyên tâm vào bộ môn Lịch sử thì cơ hội tốt
đối với các em rất ít, trong khi các ngành khác như kinh tế, kĩ thuật… thì lại
đảm bảo cho các em một tương lai tốt hơn. Vì vậy, nhiều học sinh dù có năng
lực bộ môn nhưng không muốn thi vào lớp chuyên Sử, hoặc không muốn
Công tác dạy và bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử ở trường chuyên có
nhiệm vụ đào tạo những học sinh giỏi bộ môn Lịch sử, cần phải đạt được 3
mục tiêu chính: giáo dưỡng (cung cấp kiến thức khoa học, chính xác có căn
cứ xác thực), giáo dục (đạo đức, phẩm chất, tư tưởng, tình cảm dựa trên cơ sở
kiến thức khoa học) và phát triển kỹ năng (khả năng tư duy và hành động).
Do đó, những học sinh giỏi bộ môn Lịch sử không chỉ là những học sinh nắm
vững những kiến thức về khoa học Lịch sử mà cần phải hiểu sâu sắc và biết
5
vận dụng những kiến thức đã học vào giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra
trong cuộc sống.
Tuy nhiên, việc dạy và bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử lâu nay vẫn
thường theo phương pháp truyền thống:
- Giáo viên:
+ Việc giảng dạy chủ yếu là truyền đạt, cung cấp kiến thức, nên ít gây
được hứng thú học tập bộ môn của học sinh.
+ Việc hướng dẫn học sinh kĩ năng học và làm bài có được chú ý
nhưng chưa thường xuyên.
+ Việc sử dụng hệ thống câu hỏi thường tập trung trong giai đoạn ôn
luyện, kiểm tra.
- Học sinh:
+ Phải học nhiều kiến thức, phải nhớ nhiều sự kiện lịch sử theo lối thụ
động, “học vẹt”, thày dạy gì – học nấy nên chưa có mục tiêu, động cơ, hứng
thú học tập.
+ Không thường xuyên được hướng dẫn kĩ năng học và làm bài môn
Lịch sử.
+ Đến giai đoạn ôn luyện mới được trang bị hệ thống câu hỏi nên
choáng ngợp trước khối lượng kiến thức đồ sộ, dễ “học tủ”, “học lệch”.
Công tác dạy và bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử theo phương
hiểu và nắm vững tri thức đã có, không có lòng ham muốn hiểu biết, ham
muốn học hỏi, tự học, tự tìm tòi, suy nghĩ, và không biết vận dụng kiến thức
đã học để hiểu biết kiến thức mới thì học sinh không thể nào giải quyết được
các vấn đề đặt ra của đề thi học sinh giỏi các cấp. Muốn học sinh có những
phẩm chất trên, vai trò của người thày là rất lớn.
Trong những năm được phân công giảng dạy ở lớp chuyên Sử và tham
gia bồi dưỡng học sinh giỏi Quốc gia môn Lịch sử, tôi đã tiến hành một số
biện pháp sau:
3.1.1.Biện pháp 1: Phải xác định mục tiêu, động cơ, hứng thú học tập lịch
sử cho học sinh
7
Về mặt lí luận, xác định mục tiêu học tập là hình thành ở học sinh động
cơ đúng đắn trong học tập. Động cơ là động lực bên trong thúc đẩy trực tiếp
con người ta hoạt động. Mọi động cơ của con người đều là biểu hiện của nhu
cầu. Nhu cầu lại được biểu hiện dưới nhiều hình thức như hứng thú, ý định,
ham muốn… Hứng thú là biểu hiện tình cảm, nhu cầu nhận thức của con
người. Nếu không có động cơ học tập, học sinh sẽ không có nhu cầu tham gia
tích cực vào bài học, không có hứng thú với bài học, do đó không học tập
một cách tích cực, không trở thành học sinh giỏi được.
Để nâng cao chất lượng dạy học lịch sử ở trường THPT nói chung, bồi
dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử nói riêng đầu tiên phải hình thành mục tiêu,
động cơ, thái độ học tập đúng đắn, tức là người thày phải khơi gợi được hứng
thú của học sinh đối với việc học tập, giúp các em xác định được mục đích
học tập. Công việc này được thường được tiến hành trong bài mở đầu, tiết
học đầu tiên, nhưng vẫn có thể được nhắc lại nhiều lần trong suốt quá trình
giảng dạy ở lớp chuyên Sử.
Động cơ học tập môn Lịch sử của học sinh có thể được tạo ra bằng sức
các kì thi học sinh giỏi môn Lịch sử. Các đề thi học sinh giỏi, nhất là đề thi
Quốc gia không đòi hỏi thí sinh học thuộc lòng sách giáo khoa để khi làm bài
chép lại như sách mà phải: trên cơ sở nắm chính xác những sự kiện cơ bản,
phù hợp với trình độ học sinh, các em phải hiểu và giải quyết được vấn đề
thực tiễn đặt ra.
Thực tế trong dạy và bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử nhiều năm,
tôi thấy: muốn trở thành một học sinh giỏi môn Lịch sử, đi thi đạt giải cao,
học sinh đó phải có những kĩ năng học và làm bài thi môn Lịch sử. Những kĩ
năng này không phải tự nhiên, hoặc ngày một ngày hai mà có. Những kĩ năng
ấy phải được các thày, cô giáo dạy Lịch sử hình thành, bồi dưỡng cho học
sinh ngay từ khi các em học lớp 10 trường THPT chuyên.
3.1.2.a. Kĩ năng ghi nhớ kiến thức lịch sử
Trí nhớ có vai trò rất quan trọng trong đời sống con người cũng như
trong học tập. Trong học tập Lịch sử, việc ghi nhớ kiến thức vô cùng quan
trọng, là cơ sở để học sinh đi sâu, tìm hiểu bản chất của các sự kiện, hiện
9
tượng lịch sử; là nền tảng để học tập bộ môn có hiệu quả, để vận dụng một
cách linh hoạt trong học tập và cuộc sống.
Lịch sử là cụ thể. Mỗi sự kiện, hiện tượng lịch sử luôn luôn gắn liền
với một không gian, thời gian, nhân vật lịch sử nhất định, mà nếu tách các
yếu tố đó ra thì chúng ta không thể hiểu Lịch sử được nữa. Vì vậy, trong quá
trình dạy học, để học sinh có kĩ năng ghi nhớ kiến thức lịch sử hiệu quả, giáo
viên cần hướng dẫn học sinh sử dụng và thường xuyên rèn luyện các cách
nhớ, dạng nhớ khác nhau bao gồm: Ghi nhớ các sự kiện, hiện tượng lịch sử
điển hình; Ghi nhớ thời gian xảy ra sự kiện, hiện tượng lịch sử; Ghi nhớ
không gian xảy ra sự kiện, hiện tượng lịch sử; Ghi nhớ nhân vật lịch sử.
3.1.2.a.1. Để ghi nhớ các sự kiện, hiện tượng lịch sử điển hình: giáo viên có
thể rèn luyện cho học sinh bằng các cách như:
giúp học sinh dễ hiểu và tạo hứng thú học tập.
Ví dụ:
Sử dụng hình ảnh về nạn đói năm 1945 để khắc sâu kiến thức về tội ác
của bọn thực dân – phát xít ở nước ta trước cách mạng tháng Tám 1945.
- Sử dụng cách nói ví von để ghi nhớ sự kiện, hiện tượng lịch sử.
Cách nói ví von, giàu hình ảnh tượng trưng, quy cái chưa biết về cái đã
biết, biến cái phức tạp thành cái đơn giản giúp học sinh dễ nhớ kiến thức lịch
sử.
Ví dụ:
Hồ Chí Minh ví chủ nghĩa đế quốc như “con đỉa có 2 vòi”.
Tình thế nước ta sau cách mạng tháng Tám 1945 được ví như “ngàn
cân treo sợi tóc”.
3.1.2.a.2. Để ghi nhớ thời gian xảy ra sự kiện, hiện tượng lịch sử: giáo viên
cần hướng dẫn học sinh nhớ nhanh, nhớ lâu các mốc thời gian quan trọng,
làm cơ sở để hiểu sâu sắc bản chất của sự kiện, hiện tượng lịch sử; đồng thời
hướng dẫn học sinh cách nhớ thời gian xảy ra sự kiện một cách hiệu quả như:
- Nhớ thời gian xảy ra sự kiện, hiện tượng lịch sử một cách tương đối dựa
theo đặc trưng của các mùa trong năm (xuân, hạ, thu, đông); nhớ theo thập
niên, thế kỉ, thiên niên kỉ.
11
Ví dụ:
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời vào mùa xuân năm 1930.
Khởi nghĩa Yên Thế kéo dài gần 30 năm cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ
XX.
- Nhớ thời gian một cách logic: Chọn một mốc thời gian quan trọng, dễ nhớ
làm điểm tựa rồi suy ra các mốc thời gian khác (so sánh các con số, tìm ra
quy luật để nhớ).
Ví dụ:
Người đốt cháy tàu Pháp trên sông Nhật Tảo là Nguyễn Trung Trực.
Người lấy thân mình lấp lỗ châu mai là Phan Đình Giót…
- Nhớ câu nói nổi tiếng của nhân vật hay câu nói của những người nổi
tiếng về một nhân vật nào đó.
Ví dụ:
Mác nói về Chie- “tên quỷ lùn khét tiếng tàn bạo”.
Lý Thường Kiệt với kế “tiên phát chế nhân”.
3.1.2.b. Kĩ năng tư duy lịch sử
Tư duy lịch sử là một hoạt động trí tuệ, giúp con người đi sâu vào nhận
thức bản chất sự kiện, hiện tượng cũng như mối liên hệ, quan hệ có tính quy
luật giữa chúng. Đặc điểm của tư duy lịch sử là: biết miêu tả, khôi phục lại
những sự kiện lịch sử quá khứ trên cơ sở tài liệu; nêu được nguyên nhân xuất
hiện của sự kiện lịch sử; xác định được điều kiện, hoàn cảnh, những mối liên
hệ của các sự kiện; nhận biết tính chất, ý nghĩa, bài học kinh nghiệm rút ra từ
sự kiện, nhất là những sự kiện lớn, quan trọng; xác định động cơ hoạt động
của những tầng lớp, tập đoàn, cá nhân trong lịch sử; biết liên hệ, so sánh, đối
chiếu sự kiện lịch sử với đời sống và rút ra bài học kinh nghiệm...
Theo tôi, đối với học sinh nói chung và học sinh chuyên Sử nói riêng,
rất cần thiết phải được phát triển kĩ năng tư duy lịch sử. Có kĩ năng tư duy
lịch sử, học sinh mới hiểu được lịch sử, say mê lịch sử và bộ môn Lịch sử
mới phát huy hết giá trị “ôn cố tri tân” của mình - tức là học quá khứ để hiểu
biết hiện tại và dự đoán tương lai. Nếu không có kĩ năng tư duy lịch sử thì đối
với học sinh, môn Lịch sử chỉ là một môn học khô khan, chán ngấy, với một
13
tập hợp khổng lồ những sự kiện cùng ngày, tháng khó học, khó nhớ, giá trị
thực tiễn không cao. Khi học sinh không có hứng thú với bộ môn, chắc chắn
sẽ không có nhân tài, không có học sinh giỏi. Để phát triển kĩ năng tư duy
lịch sử cho học sinh chuyên, tôi áp dụng các cách sau: tạo tình huống có vấn
- Sử dụng loại câu hỏi “Tìm hiểu kết quả, ý nghĩa…” của sự kiện, hiện
tượng lịch sử (ở cuối bài): để buộc học sinh phải biết tổng hợp kiến thức, tự
rút ra nhận định, đánh giá phù hợp với nội dung, diễn biến sự kiện.
- Sử dụng loại câu hỏi “Nêu đặc trưng, bản chất…” của các hiện tượng lịch
sử (ở cuối bài): loại câu hỏi này đòi hỏi học sinh phải biết phân tích, đánh giá,
bày tỏ thái độ của mình đối với sự kiện, hiện tượng lịch sử.
- Sử dụng loại câu hỏi “Đối chiếu, so sánh, các sự kiện, hiện tượng lịch sử
này với sự kiện, hiện tượng lịch sử khác” (trong ôn tập), đòi hỏi học sinh
phải đào sâu suy nghĩ để tìm ra điểm giống, khác nhau, từ đó thấy được bản
chất của sự kiện, hiện tượng lịch sử. (Xem thêm phụ lục trang 31, 32)
3.1.2.b.3. Sử dụng bảng so sánh
Bảng so sánh là loại đồ dùng trực quan qui ước dùng để đối chiếu, so
sánh nhằm làm rõ bản chất, đặc trưng của các sự kiện, hiện tượng lịch sử.
Qua việc giáo viên sử dụng Bảng so sánh khi giảng dạy và hướng dẫn học
sinh cách lập Bảng so sánh, kĩ năng tư duy đối sánh của học sinh được phát
triển.
Ví dụ:
Lập Bảng so sánh chủ trương của Đảng thể hiện qua Hội nghị Ban
chấp hành Trung ương Đảng tháng 7/1936 và tháng 11/1939.
Hội nghị Ban chấp hành
Chủ
Hội nghị Ban chấp hành
Trung ương Đảng tháng
trương
Trung ương Đảng tháng
“Thành lập chính phủ dân chủ
cộng hòa”
Kết hợp các hình thức công Phương
Bí mật, bất hợp pháp
khai-bí mật, hợp pháp-bất hợp pháp
pháp
“Mặt trận thống nhất nhân dân Hình thức “Mặt trận thống nhất dân tộc
phản đế Đông Dương” -> 1938 mặt trận
phản đế Đông Dương “
đổi thành “Mặt trận dân chủ
Đông Dương “
Với việc sử dụng Bảng so sánh trên, giáo viên giúp học sinh nhận thức
một cách sâu sắc hơn về sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng của
Đảng từ năm 1939, đồng thời học sinh thấy được sự khác nhau trong chủ
trương của Đảng qua 2 thời kì cách mạng 1936-1939 và 1939-1945.
3.1.2.c. Kĩ năng sử dụng sơ đồ lịch sử và sơ đồ tư duy trong học tập
Sơ đồ lịch sử là loại đồ dùng trực quan nhằm cụ thể hóa nội dung một
sự kiện, hiện tượng lịch sử bằng những mô hình hình học đơn giản để học
sinh nắm được những nét đặc trưng của mỗi sự kiện, hiện tượng lịch sử và
nêu lên mối liên hệ giữa các sự kiện, hiện tượng lịch sử.
Sơ đồ tư duy là một hình thức “ghi chép” bằng cách kết hợp việc sử
dụng đồng thời những “từ khóa”, hình ảnh, đường nét, màu sắc với sự tư duy
tích cực, nhằm tóm tắt những ý chính của một nội dung, hệ thống hóa kiến
thức của một chủ đề, hay cách giải của một dạng bài tập… So với sơ đồ lịch
sử, sơ đồ tư duy mới được áp dụng ở Việt Nam từ năm 2006, nhưng vẫn chưa
được ứng dụng đại trà trong dạy học Lịch sử.
- Bước 4: Hoàn thiện sơ đồ tư duy, đặt tên.
- Bước 5: Trình bày kiến thức qua sơ đồ tư duy bằng ngôn ngữ rõ ràng, ngắn
gọn, dễ hiểu. (Xem thêm phụ lục trang 35)
3.1.2.d. Kĩ năng làm bài thi môn Lịch sử
17
Thi học sinh giỏi môn Lịch sử hiện nay vẫn theo hình thức thi tự luận.
Mỗi đề thi học sinh giỏi có nhiều câu (cấp Quốc gia là 7 câu), trong một thời
gian có giới hạn (180 phút), đòi hỏi học sinh phải có kĩ năng làm bài cơ bản
mới giải quyết được đề thi. Kĩ năng làm bài gồm có: nhận thức đề, giải quyết
đề, phân phối thời gian và trình bày bài.
3.1.2.d.1. Nhận thức đề và Giải quyết đề:
Đề thi học sinh giỏi gồm nhiều câu hỏi, mỗi câu hỏi có thể đề cập tới
một hoặc nhiều sự kiện, vấn đề. Các câu hỏi trong đề thi học sinh giỏi nhất là
cấp Quốc gia thường ra theo các cấp độ nhận thức như sau:
- Nhận biết: thể hiện qua các động từ “nêu, liệt kê, trình bày, kể tên,
nhận biết…”.
- Thông hiểu: thể hiện qua các động từ “hiểu được, giải thích, phân
biệt, tại sao, vì sao, hãy lí giải, vì sao nói, khái quát…”.
- Vận dụng (bậc thấp): thể hiện qua các động từ “xác định, dự đoán,
thiết lập liên hệ, phân biệt, chứng minh, phân tích, so sánh…”.
- Vận dụng (bậc cao): thể hiện qua các động từ “bình luận, nhận xét,
đánh giá, rút ra bài học lịch sử, liên hệ với thực tiễn…”.
Để làm một bài thi tốt, cần phải xác định đúng đề bài, xác định đúng
yêu cầu về kiến thức và kĩ năng làm từng câu hỏi: câu hỏi yêu cầu trình bày
kiến thức nào, diễn ra trong thời gian nào, không gian nào; làm theo cách
nào. Vì vậy, nếu không hiểu kĩ đề và không biết cách giải quyết các câu hỏi
thì khó có thể bài bài đúng, đủ nội dung, không thể đạt kết quả cao. Để học
sinh có những kĩ năng này, tôi thường rèn luyện cho các em theo các bước
180 phút làm bài, nhưng nó quyết định một nửa thành công của bài thi.
3.1.2.d.2. Phân phối thời gian
Đề thi học sinh giỏi các cấp trong những năm gần đây thường có thời
gian làm bài là 180 phút, với 7 câu hỏi, gồm cả phần lịch sử thế giới và lịch
sử Việt Nam. Nếu học sinh không biết phân phối thời gian làm bài một cách
chính xác thì không thể nào hoàn thành bài thi, không thể đạt kết quả cao
được.
19
Để học sinh có được kĩ năng phân phối thời gian chính xác khi làm bài thi,
trong quá trình ôn tập, tôi luôn rèn luyện cho các em:
- Dành 10-15 phút để nhận thức đề.
- Chia đều thời gian làm bài cho 7 câu:
+ Câu 2,5 điểm dành khoảng 20 phút/câu, câu 3 điểm dành khoảng 25
phút/câu.
+ Cố gắng hoàn thành các câu của bài thi trong thời gian đã xác định; không
được phép dồn thời gian nhiều cho một câu, những câu còn lại thì thiếu thời
gian để làm.
Việc phân phối thời gian này không chỉ trên lí thuyết mà tôi yêu cầu
học sinh áp dụng triệt để khi làm bài (ở nhà và trên lớp). Thông thường
những học sinh đi thi đạt kết quả cao nhất là những em thực hiện đúng
nguyên tắc phân phối thời gian nêu trên.
3.1.2.d.3. Trình bày bài
Một bài thi có đạt kết quả cao hay không cũng phụ thuộc nhiều vào
phần trình bày bài của thí sinh. Kĩ năng trình bày bài bao gồm:
- Đảm bảo làm hết tất cả các câu, độ dài khoảng 11-12 trang giấy thi (khoảng
3 tờ). Sự kiện phải đúng, ý phải đủ hoặc tương đối đủ.
- Tùy từng loại câu hỏi mà có cách trình bày phù hợp: chỉ viết phần mở bài
+ Chính sách cai trị của nhà Nguyễn…
……
Kĩ năng làm bài của học sinh cần được rèn luyện thường xuyên, đặc
biệt nhất là trong thời gian ôn luyện chuẩn bị cho một kì thi. Học sinh chỉ có
thể đạt kết quả cao trong một kì thi nếu hội tụ đầy đủ các yếu tố: chuẩn bị kĩ
về mặt kiến thức và nắm chắc các kĩ năng làm bài. Do vậy, trong thời gian ôn
luyện, giáo viên cần tăng cường giao bài tập về nhà, bố trí thời gian để học
sinh làm bài kiểm tra viết ngay trên lớp, sau đó chấm, trả bài nghiêm túc kèm
những nhận xét, đánh giá khách quan, chính xác. Việc làm này giúp học sinh
nhận thức rõ ưu, nhược điểm của bản thân, rèn luyện kĩ năng viết bài của các
em ngày càng thuần thục để chinh phục các kì thi.
21
3.1.3.Biện pháp 3: Xây dựng hệ thống câu hỏi đáp ứng yêu cầu phát triển
năng lực học sinh.
Câu hỏi ôn tập lịch sử chính là những nội dung kiến thức cơ bản nhất,
quan trọng nhất của một giai đoạn lịch sử hoặc một khóa trình lịch sử được
cụ thể hóa dưới những dạng câu hỏi khác nhau, bắt buộc học sinh phải nắm
vững kiến thức mới giải quyết được.
Muốn nâng cao chất lượng dạy, học và bồi dưỡng học sinh giỏi môn
Lịch sử, trong mỗi bài, mỗi chương, mỗi giai đoạn lịch sử, người giáo viên
cần xây dựng và cung cấp cho học sinh một hệ thống câu hỏi phong phú. Hệ
thống câu hỏi đó được xây dựng theo hướng: vừa củng cố kiến thức cơ bản
của mỗi giai đoạn lịch sử đã học, vừa phải tăng cường các câu hỏi mang tính
chuyên sâu, nâng cao để bồi dưỡng học sinh giỏi bộ môn. Nghĩa là việc xây
dựng hệ thống câu hỏi đó phải góp phần phát triển năng lực học sinh, phản
ánh được ba mức độ nhận thức của học sinh:
- Nhận biết: Ở mức độ này yêu cầu học sinh nhớ được sự kiện lịch sử, kể tên
được hứng thú của học sinh đối với việc học tập; giúp học sinh xác định được
mục tiêu học tập, có động cơ học tập, từ đó kích thích tính tích cực học tập
của học sinh.
- Giáo viên trang bị và rèn luyện cho học sinh những kĩ năng học và làm bài
thi môn Lịch sử giúp cho việc học tập bộ môn trở nên thuận lợi, dễ dàng hơn;
từ đó xóa đi mặc cảm về môn Lịch sử: một môn học khô khan, khó học, khó
nhớ …
- Giáo viên trang bị cho học sinh hệ thống câu hỏi khoa học, vừa cơ bản, vừa
nâng cao trong quá trình dạy và ôn tập, góp phần củng cố kiến thức cơ bản và
bồi dưỡng học sinh giỏi bộ môn.
Như vậy, những cách thức, biện pháp sư phạm về dạy và bồi dưỡng
học sinh giỏi môn Lịch sử ở trường THPT chuyên thực sự có tác dụng nâng
cao hiệu quả dạy và bồi dưỡng học sinh giỏi bộ môn: đã rèn luyện cho học
sinh những kỹ năng học và làm bài thi; kĩ năng giải quyết các câu hỏi, bài tập
lịch sử; đặc biệt là khơi gợi được niềm say mê của các em đối với môn Lịch
sử trong bối cảnh môn Lịch sử chưa được xã hội coi trọng như hiện nay. Tuy
nhiên, để thực hiện tốt những biện pháp trên đòi hỏi người giáo viên phải có
sự chuẩn bị kỹ về nội dung và phương pháp cũng như phải có lòng nhiệt tình,
yêu nghề, yêu mến học sinh.
23
3.3.
Kết quả thực hiện giải pháp
Từ tháng 6 năm 2010, tôi chuyển về công tác tại trường THPT Chuyên
Lương Văn Tụy, được phân công giảng dạy ở lớp chuyên Sử và tham gia bồi
dưỡng học sinh giỏi, khi áp dụng các biện pháp nói trên tôi đã đạt được
những kết quả bước đầu đáng khích lệ: học sinh các lớp chuyên Sử do tôi làm
118.000.000đ (Một trăm mười tám triệu đồng).
Bên cạnh đó, nếu học sinh không được hướng dẫn các kĩ năng để học và
làm bài có hiệu quả cao, thì một học sinh chuyên Sử mỗi năm thường phải
mua khoảng 10 cuốn tài liệu tham khảo, giá trị thấp nhất mỗi cuốn khoảng
25.000đ, tiêu tốn 250.000đ/ em; mỗi lớp chuyên Sử khoảng 30 học sinh, mỗi
năm sẽ tốn: 250.000đ x 30 = 7.500.000đ/lớp (Bảy triệu năm trăm nghìn
đồng)…
Ngoài ra, việc áp dụng những giải pháp mới của đề tài còn mang lại một
số hiệu quả khác:
- Tiết kiệm được nhiều công sức và thời gian của giáo viên trong giảng dạy
và bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử.
- Đạt hiệu quả cao trong việc giảng dạy và bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch
sử các cấp.
2. Hiệu quả xã hội:
- Những biện pháp dạy và bồi dưỡng học sinh giỏi nói trên có tác dụng khơi
gợi hứng thú, hình thành những kĩ năng học và làm bài môn lịch sử có hiệu
quả, qua đó bồi đắp tình yêu môn Lịch sử cho học sinh, nhất là trong bối cảnh
hiện nay khi nhiều học sinh chán học, học kém môn Lịch sử.
- Các biện pháp dạy và bồi dưỡng học sinh giỏi nói trên góp phần hình thành
tư duy lôgic, khả năng phân tích, đánh giá, tổng hợp về những sự kiện, hiện
tượng lịch sử trong quá khứ, từ đó góp phần định hướng giá trị, hình thành kỹ
năng sống, kỹ năng ứng xử, phát triển năng lực giải quyết các vấn đề phức
hợp đặt ra trong cuộc sống thường nhật của con người.
V. KINH PHÍ THỰC HIỆN SÁNG KIẾN
Kinh phí cần thiết để thực hiện sáng kiến: không đáng kể.
VI.
ĐIỀU KIỆN VÀ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG
25