tổng hợp đề cương môn xây dựng Văn bản pháp luật có đáp án - Pdf 35

Luật K37A - Đại học luật Huế.
Tài liệu ôn thi môn VĂN BẢN PHÁP LUẬT
Bài soạn bao gồm đầy đủ nội dung cấu trúc đề thi: Nhận định đúng- sai; Câu hỏi tự luận
phân tích 1 vấn đề; viết một văn bản hoàn chỉnh theo yêu cầu của đề. Mình vừa mới thi xong
cũng trúng vài câu trong này. Chúc các bạn có mùa thi đạt kết quả tốt!
Nhận định đúng sai
1. Chủ tịch UBND cấp tỉnh có quyền ban hành văn bản QPPL - > Sai. Chủ tịch ủy ban nhân
dân cấp tỉnh không có quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật nhưng có quyền ban
hành văn bản áp dụng phạm pháp luật.
2. 2.Tổng Cục trưởng Tổng Cục Thuế có quyền ban hành văn bản QPPL. Đúng - > Ví dụ:
Tổng Cục trưởng Tổng Cục Thuế Ban hành quyết định quy trình hoàn thuế.
3. Văn bản bị đình chỉ thi hành thì hết hiệu lực.->Sai. VBPL bị đình chỉ thi hành thì ngưng
hiệu lực cho đến khi có quyết định xử lí của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Nếu cấp
có thẩm quyền ra quyết định hủy bỏ, bãi bỏ thì văn bản pháp luật hết hiệu lực còn không
bị hủy bỏ, bãi bỏ thì văn bản pháp luật tiếp tục có hiệu lực.
4. Tất cả các văn bản nhà nước đều ghi số, ký hiệu kèm theo năm ban hành.-> SAI. Đối với
VBADPL số/tên văn bản -tên cơ quan ban hành hoặc tên chức danh ban hành hoặc tên
loại việc giải quyết chứ không ghi năm. Ví dụ: Số: 01/QĐ-KT, Số:02/QĐ-UBND
5. Mọi chủ thể đều có thẩm quyền ban hành văn bản pháp luật. (sai, vì chỉ có những các cơ
quan nhà nước, các tổ chức và cá nhân được nhà nước trao quyền mới có quyền ban hành
văn bản pháp luật.)
6.

Mọi văn bản pháp luật có thể đánh số theo loại văn bản, theo loại việc hoặc đánh số tổng
hợp. (sai, vì k2 đ7 luật BHVBQPPL 2008)

7. Ký thay được áp dụng khi cấp trên uỷ quyền cho cấp dưới ký khi vắng mặt. (sai, vì theo
điều 10 nghị định 110/2004/NĐ-CP về Công tác văn thư quy định: “ở cơ quan, tổ chức
làm việc theo chế độ thủ trưởng, người đứng đầu cơ quan, tổchức có thẩm quyền ký tất cả
các văn bản của cơ quan tổ chức. Người đứng đầucơ quan, tổ chức có thể giao cho cấp
phó của mình ký thay (KT.) các văn bản thuộc các lĩnh vực được phân công phụ trách.)

Quốc hội.
14. Thẩm tra là thủ tục bắt buộc đối với mọi dự thảo của văn bản quy phạm pháp luật. (sai,
-

Căn cứ vào điều 41 Luật BHVBQPPL năm 2008 Thủ tục thẩm tra áp dụng đối với dự
án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, UBTV Quốc hội;

-

Căn cứ vào điều 27, điều 31 Luật BHVBQPPL của HĐND và UBND năm 2004 thủ
tục thẩm tra áp dụng cho dự thảo nghị quyết của HĐND cấp tỉnh và cấp huyện.

-

Còn các văn bản quy phạm pháp luật khác không áp dụng thủ tục thẩm tra.

15. Văn bản áp dụng pháp luật luôn có hiệu lực thi hành ngay.
-

Sai, vì đoạn 1 k1 d83 luật 2008 luật BHVBQPPL năm 2008 về VBQPPL được áp
dụng từ thời điểm bắt đầu có hiệu lực.

16. Văn bản áp dụng pháp luật mới được ban hành thì không làm mất hiệu lực của những văn
bản áp dụng pháp luật khác.
-

Sai, vì Căn cứ vào điều 83 luật Ban Hành VBQPPL năm 2008 quy định do tính chất
cá biệt nên khi có hiệu lực văn bản áp dụng pháp luật không làm mất hiệu lực của
những văn bản áp dụng pháp luật khác tuy nhiên có một số ngoại lệ như văn bản mới
thay thế văn bản cũ do cách giải quyết cùng một sự việc có khác nhau.)

Sai, vì khoản 3 d11luật 2008) quy định cụ thể NQ của Quốc hội được ban hành để QĐ nhiệm
vụ phát triển KT-XH , dự toán ngân sách nhà nước phân bổ ngân sách TW…
24. Nghị định của Chính phủ chỉ là loại văn bản dùng để cụ thể hoá thi hành Luật,Pháp lệnh,
Nghị quyết của Quốc hội, UBTVQH.
Sai.Vì căn cứ vào điều 15 Luật BHVBQPPL năm 2008 Nghị định của Chính phủ còn dung
để quy định các vấn đề khác, như: quy định các biện pháp cụ thể để thực hiện chính sách
kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, tài chính, tiền tệ, quy định nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức
bộ máy của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các cơ quan khác thuộc
thẩm quyền của Chính phủ…
25. Văn bản pháp luật là văn bản có chứa đựng quy phạm pháp luật. (đúng, d1 luật 2008)


Đúng.Vì Căn cứ vào luật BHVBQPPL của HĐNDvà UBND năm 2004, điều 1 luật
BHVBQPPL năm 2008 quy định VBQPPL là VB do cơ quan nhà nước Ban hành hoặc phối
hợp ban hành theo thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục được quy định trong luật này.
26. Chính phủ được quyền ban hành Nghị quyết là văn bản quy phạm pháp luật.
Đúng. Vì căn cứ vào điều 2 Luật BHVBQPPL năm 2008 Chính phủ được quyền ban hành
Nghị quyết là văn bản quy phạm pháp luật khi ban phối hợp ban hành cùng với cơ quan trung
ương của tổ chức chính trị xã hội đó là nghị quyết liên tịch
27. Văn bản áp dụng pháp luật là văn bản chứa đựng quy phạm pháp luật.
Đúng, vì VBADPL Do nhà nước có thẩm quyền ban hành điều chỉnh các quan hệ xã hội
chứa đựng quy tắc cụ thể áp dụng một lần cho 1 chủ thể nhất định ban hành trên cơ sở VBQPPL)
28. Chủ tịch UBND có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
Sai, vì căn cứ vào điều 2 Luật BHVBQPPL năm 2008 chỉ có các chủ thể được quy định tại
điều 2 mới có quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật, trong đó thẩm quyền ban hành văn
bản quy phạm pháp luật là thẩm quyền chung của UBND không phải là thẩm quyền của Chủ tịch
UBND)
29. Tất cả các cơ quan Nhà nước đều có quyền ban hành thông tư liên tịch.
Sai, Vì Căn cứ vào điều 2 luật BHVBQPPL năm 2008 quy định cơ quan ban hành thông tư
liên tịch là của VTVKSND, CATANDTC, bộ trưởng và các thủ trưởng cơ quan ngang bộ)

Đúng, Vì Cần phải hiểu và xác định rõ tầm quan trọng của ngôn ngữ. Đây không chỉ là vấn
đề hình thức mà ngôn ngữ còn ảnh hưởng tới nội dung của văn bản. Trước hết, người soạn thảo
cần chú ý rằng ngôn ngữ được soạn thảo không phải chỉ để dành cho những cán bộ, công chức
nhà nước mà phải làm cho mọi người dân ở các trình độ học vấn khác nhau, học vấn thấp cũng
đều có thể hiểu được.
35. UBND được quyền ban hành chỉ thị.
Đúng. Vì Căn cứ vào điều 2 luật BHVBQPPL năm 2008 quy định UBND được ban hành
VBQPPL
36. Đối với văn bản không có tên loại thì phần trích yếu nằm dưới phần số, kí hiệu (đúng, Vì
Căn cứ theo thông tư liên tịch số 55/2005 thể thức văn bản quy định cụ thể)
37. Chánh án TANDTC không có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
Sai.Vì Căn cứ vào điều 2 luật BHVBQPPL năm 2008 quy định Chánh án TANDTC được
ban hành VBQPPL là thông tư, thông tư liên tịch.
38. Trong trường hợp sáp nhập hai tỉnh, thì tỉnh nào áp dụng văn bản của Tỉnh đó.
Sai.Vì Căn cứ Vào khoản 2 điều 50 luật BHVBQPPL của HĐND, UBND năm 2004 quy
định “ Trong trường hợp nhiều đơn vị hành chính được sáp nhập thành một đơn vị hành chính
mới thì văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân của đơn vị hành
chính được sáp nhập có hiệu lực đối với đơn vị hành chính đó cho đến khi Hội đồng nhân dân,
Uỷ ban nhân dân của đơn vị hành chính mới ban hành văn bản quy phạm pháp luật thay thế”
39. Quyết định của Thủ tướng chính phủ về bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật do mình ban
hành là văn bản quy phạm pháp luật. (đúng, khoản 1 điều 9 luật 2008)
40. Không được sử dụng dấu chấm hỏi trong Nghị định của Chính phủ vì không đảm bảo
tính dễ hiểu.
Đúng, d22 thông tư 25/2011 Về thể thức, kỹ thuật trình bày văn bản quy phạm pháp luật của
Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ và văn bản quy
phạm pháp luật liên tịch quy định Việc sử dụng dấu câu trong văn bản phải tuân thủ các nguyên
tắc chính tả của tiếng Việt. Không được sử dụng dấu chấm hỏi, dấu chấm than, dấu chấm lửng


trong văn bản.)

QPPL liên tịch (sai, khoản 1 điều 4 luật 2008)
56. Đối với văn bản do các bộ trưởng ban hành mà có quy định khác nhau về cùng một vấn


đề thì áp dụng văn bản được ban hành sau
57. Văn bản QPPL của Thủ tướng chính phủ ghi số kí hiệu như sau: Số: 4/2015/QĐ-TTCP.
(sai, điểm b khoản 1 điều 8 TT01/2011, số: 4/2015/QĐ-TTg)
58. Quyết định của UBND cấp tỉnh luôn luôn có hiệu lực sau 10 ngày kể từ ngày chủ tịch
UBND cấp tỉnh kí hoặc muộn hơn. (sai, đoạn 4 khoản 1 điều 51 luật 2004)
59. Nghị quyết 71/2006/QH11 của quốc hội phê chuẩn nghị định thư gia nhập hiệp định
thành lập tổ chức thương mại thế giới (WTO) có giá trị như văn bản luật. (đúng, vì có số
năm)
60. Tất cả văn bản QPPL của HĐND và UBND cấp huyện phải được gửi đến sở tư pháp để
kiểm tra trong thời hạn chậm nhất là 7 ngày kể từ ngày kí văn bản. (sai, khoản 3 điều 9
luật 2004)
61. Nghị quyết của HĐTP TANDTC được ban hành để hướng dẫn tòa án áp dụng thống nhất
pháp luật trong lĩnh vực tố tụng. (sai, điều 17 luật 2008)
62. Nghị quyết là văn bản pháp luật chỉ được sử dụng để đặt ra chủ trương, chính sách,
đường lối của nhà nước. (sai, vì nghị quyết còn được sử dụng để trực tiếp áp dụng pháp
luật như bầu thành viên UBND cùng cấp, hủy bỏ, bãi bỏ…nghị quyết sai trái)
63. Tổng cục trưởng tổng cục thuế có quyền ban hành vbqppl. (sai, d2 luật 2008 không quy
định thẩm quyền ban hành vbqppl của tổng cục trưởng tổng cục thuế)
64. Cơ quan có quyền thẩm tra tất cả các dự án luật là hội đồng dân tộc và ủy ban pháp luật.
(sai, k1 điều 41 luật 2008)
65. Văn bản bị đình chỉ thi hành thì hết hiệu lực. (sai, k1 điều 80 luật 2008)
66. Văn bản chỉ thị luôn luôn trình bày theo phương pháp chia mục chia điểm. (sai, điểm b
khoản 1 điều 11 TT01/2011, chỉ thị cá biệt)
67. UBND cấp tỉnh có quyền bãi bỏ văn bản trái pháp luật của UBND cấp huyện. (sai,
khoản 1 điều 18 nđ40/2010)
68. Chủ tịch UBND cấp tỉnh có quyền bãi bỏ nghị quyết sai trái của HĐND cấp huyện. (sai,

các biện pháp hỗ trợ cho những hộ nghèo trên địa bàn tỉnh. (sai, khoản 2 điều 51 luật
2004)
81. Hoạt động thẩm định của cơ quan tư pháp là hoạt động bắt buộc đối với tất cả các quy
trình xây dựng vbqppl của chính quyền địa phương. (sai, chương 3,4 luật 2004, HĐND
cấp huyện xã, UBND cấp huyện xã thì không có thẩm định mà chỉ có thẩm tra, mà thẩm
tra thì không thuộc thẩm quyền của cơ quan tư pháp)
82. Phòng tư pháp có quyền thẩm định dự thảo nghị quyết của HĐND cấp huyện. (sai, điều
31
luật
2004)


1.

Phân tích đặc điểm của văn bản quản lý nhà nước.

Văn bản là phương tiện lưu giữ và truyền đạt thông tin bằng ngôn ngữ hay ký hiệu nhất
định.
Văn bản quản lý nhà nước là những quyết định và thông tin quản lý thành văn (được văn
bản hoá) do các cơ quan quản lý Nhà nước ban hành theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục, hình thức
nhất định và được Nhà nước đảm bảo thi hành bằng những biện pháp khác nhau nhằm điều chỉnh
các mối quan hệ quản lý nội bộ nhà nước hoặc giữa các cơ quan nhà nước với các tổ chức và
công dân.
Khi nói đến văn bản quản lý nhà nước là nói đến loại văn bản của tổ chức đặc biệt trong xã
hội, đó là Nhà nước. Tính đặc biệt của văn bản quản lý nhà nước thể hiện ở những đặc điểm sau:
Thứ nhất, về chủ thể ban hành:
- Văn bản quản lý nhà nước do các cơ quan Nhà nước, người có thẩm quyền soạn thảo và
ban hành. Chỉ có những văn bản do người đúng thẩm quyền ban hành mới có ý nghĩa pháp lý.
- Không phải chủ thể nào cũng được ban hành mọi loại văn bản quản lý mà chỉ được ban
hành những loại văn bản nhất định trong phạm vi thẩm quyền để thực hiện chức năng nhiệm vụ

nhất định và được Nhà nước đảm bảo thi hành bằng những biện pháp khác nhau nhằm điều chỉnh
các mối quan hệ quản lý nội bộ các cơ quan nhà nước hoặc giữa các cơ quan nhà nước với các tổ
chức và công dân.
Văn bản quản lý nhà nước có các chức năng cơ bản là chức năng thông tin, chức năng quản
lý, chức năng pháp lý, chức năng thống kê, chức năng văn hoá - xã hội.
Thứ nhất, chức năng thông tin: Chức năng thông tin là thuộc tính cơ bản quan trọng, bản chất
của văn bản, là nguyên nhân hình thành văn bản và là cơ sở để thực hiện các chức năng khác.
Chức năng thông tin của văn bản thể hiện ở các mặt sau:
- Ghi lại các thông tin quản lý.
- Truyền đạt thông tin quản lý từ nơi này đến nơi khác trong hệ thống quản lý hay giữa hệ
thống với bên ngoài.
- Giúp cho cơ quan thu nhận thông tin cần cho hoạt động quản lý.
- Giúp các cơ quan xử lý, đánh giá các thông tin thu được thông qua hệ thống truyền đạt
thông tin khác.
Ví dụ: Các thông tin dự báo về cơn bão số 6 (bão Xangsane) vừa qua giúp cho các cơ quan
quản lý Nhà nước, các tổ chức và nhân dan biết, chủ động có biện pháp phòng chống bão.
Thứ hai, chức năng quản lý: Đây là chức năng có tính chất thuộc tính của văn bản quản lý. Chức
năng quản lý của văn bản thể hiện ở những khía cạnh sau:
- Thông tin trong văn bản quản lý Nhà nước giúp cho việc tổ chức tốt công việc của các
nhà lãnh đạo, làm cơ sở ban hành các quyết định quản lý.
- Văn bản ghi lại và truyền đạt các quyết định quản lý tới đối tượng thực hiện, tham gia vào
tổ chức thực hiện quyết định.
- Là phương tiện hữu hiệu để phối hợp, kiểm tra, đánh giá hiệu quả hoạt động quản lý.
Ví dụ: Căn cứ các thông tin dự báo về cơn bão số 6 (bão Xangsane), các cơ quan quản lý
Nhà nước Trung ương và địa phương đã đưa ra các quyết định quản lý đúng đắn trong công tác
chỉ đạo phòng chống bão
Thứ ba, chức năng pháp lý: Chức năng pháp lý của văn bản biểu hiện trước hết là:
- Ghi lại các quy phạm pháp luật và các quan hệ pháp lý tồn tại trong xã hội do pháp luật
điều chỉnh. Khi đã sử dụng hình thức văn bản để ghi lại và truyển tải quyết định và thông tin
quản lý, cơ quan nhà nước đã sử dụng thẩm quyền trong đó. Mệnh lệnh chứa trong văn bản có

nhà nước.
Trong hoạt động của các cơ quan, đơn vị, nhu cầu phục vụ về thông tin rất lớn, đa dạng và
biến đổi. Văn bản quản lý nhà nước cung cấp các loại thông tin sau:
+ Thông tin về chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước liên quan đến mục tiêu,
phương hướng hoạt động lâu dài của cơ quan, đơn vị.
+ Nhiệm vụ, mục tiêu hoạt động cụ thể của từng cơ quan, đơn vị.
+ Phương thức hoạt động, quan hệ công tác giữa các cơ quan, đơn vị với nhau.
+ Về tình hình đối tượng bị quản lý, sự biến động của cơ quan, chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn của cơ quan, đơn vị.
+ Các kết quả đạt được trong quá trình quản lý...
Để văn bản phát huy hiệu quả vai trò cung cấp thông tin đảm bảo cho hoạt động của từng
bộ phận, từng đơn vị có hiệu quả, vấn đề không chỉ là cung cấp thông tin mà quan trọng là chất
lượng của thông tin.
Chất lượng của văn bản phụ thuộc vào chất lượng của thông tin có trong văn bản. Đến lượt
mình, chất lượng thông tin phụ thuộc vào tính chính xác, chân thực, tính cập nhật, đồng bộ, toàn
diện, tính thuyết phục của van ban. Trên thực tế, vẫn còn văn bản kiểu "làm láo báo cáo hay",
hoặc 1 Thông tư hướng dẫn đáng ra phải ban hành từ cách đây vài năm, đến khi ban hành đã mất
đi tính thời điểm cấp bách của nó, hay văn bản thiếu thống nhất, mâu thuẫn, chồng chéo với
những văn bản đã ban hành thì không thể nói văn bản đó đã đảm bảo thông tin có chất lượng
trong hoạt động quản lý.
2. Văn bản là phương tiện truyền đạt các quyết định quản lý.
Các quyết định hành chính được truyền đạt sau khi đã được thể chế hoá thành các văn bản
mang tính quyền lực nhà nước. Các quyết định quản lý cần phải được truyền đạt nhanh chóng và
đúng đối tượng, được đối tượng bị quản lý thông suốt, hiểu được nhiệm vụ và nắm được ý đồ
của lãnh đạo để nhiệt tình, yên tâm và phấn khởi thực hiện.
Việc truyền đạt các quyết định quản lý là vai trò cơ bản hệ thống văn bản quản lý nhà
nước. Bởi lẽ khi tổ chức, xây dựng ban hành và chu quyền một cách khoa học, hệ thống đó có


khả năng truyền đạt các quyết định quản lý một cách nhanh chóng chính xác và có độ tin cậy

được chú trọng. Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản quy định về soạn thảo và xử lý văn bản,
đặt cơ sở pháp lý cho công tác xây dựng và ban hành văn bản, làm cho chất lượng của các văn
bản được nâng lên rõ rệt. Về hình thức, các văn bản ngày càng hoàn chỉnh, những sai sót về cơ
quan ban hành, số, ký hiệu văn bản, sử dụng không đúng loại văn bản hay ký không đúng thẩm
quyền, không đúng thể thức ngày càng ít. Về nội dung, các văn bản ngày càng phản ánh sát hợp
và kịp thời chủ trương, đường lối của Đảng, phù hợp với pháp luật, với đối tượng thực thi văn
bản, với thực trạng của vấn đề mà văn bản quy định và với quy luật phát triển của đời sống xã
hội. Giữa các văn bản đã có sự hài hoà, thống nhất. Ranh giới giữa các loại văn bản khác nhau,
giữa các văn bản do các cơ quan khác nhau ban hành được phân định khá rõ ràng. Về thủ tục xây
dựng văn bản ngày càng được các cơ quan hữu quan coi trọng, đặc biệt là các khâu, các bước cần
thiết bảo đảm chất lượng của từng văn bản. Việc sử dụng ngôn ngữ trong văn bản cũng tiến bộ rõ


rệt, tạo nên văn phong riêng phù hợp với môi trường quản lý nhà nước, góp phần giữ gìn và phát
huy các giá trị của ngôn ngữ dân tộc
Tuy nhiên, công tác xây dựng và ban hành văn bản quản lý nhà nước vẫn còn một số ton
tai nhất định, đó là:
- Chưa thống nhất trong việc xây dựng và sử dụng mẫu văn bản. Vẫn còn những trường
hợp sử dụng loại văn bản chưa hợp lý, do vai trò của từng loại văn bản trong quản lý nhà nước
chưa được làm rõ.
- Các văn bản do nhiều cơ quan, nhiều cấp ban hành nhưng thiếu tính kế hoạch, thiếu sự
phối hợp kịp thời, nhịp nhàng giữa các cơ quan nên văn bản chậm đi vào thực tiễn đời sống xã
hội
- Việc xây dựng văn bản trong nhiều trường hợp chưa được tiến hành đủ các khâu, các
bước cần thiết hay tiến hành thiếu khách quan, chưa khoa học, chưa chú trọng mối quan hệ giữa
văn bản với toàn hệ thống văn bản nên chưa hoàn toàn hài hoà, thống nhất, đồng bộ giữa các văn
bản. Nhiều văn bản chồng chéo, mâu thuẫn nhau vừa khó thực hiện vừa làm giảm hiệu lực của
văn bản. Đồng thời, việc kiểm tra các văn bản sau khi đã ban hành ít được chú ý nên nhiều văn
bản đã hết hiệu lực, ít giá trị hoặc không có giá trị thực tế vẫn tồn tại làm lu mờ nhu cầu ban
hành văn bản mới, dẫn đến tình trạng vừa thừa vừa thiếu văn bản, cản trở các quan hệ xã hội phát

- Dựa vào cách phân loại theo đặc trưng của văn bản để tìm ra loại văn bản mà mình cần, chẳng
hạn: văn bản quy phạm pháp luật, văn bản cá biệt.
Các tiêu chí để phân loại: Căn cứ vào mục đích sử dụng và nội dung có các tiêu chí phân loại
như sau:
Phân loại theo tác giả.
- Các văn bản được phân biệt với nhau theo tên cơ quan đã xây dựng và ban hành chúng.
- Theo tiêu chí này, văn bản có thể là: Văn bản của Quốc Hội, Chủ tịch nước, HĐND, văn bản
của TANDTC, văn bản của Trưòng ĐHKHXH &NV...
Phân loại theo tên loại: Văn bản có thể bao gồm: Nghị quyết, Quyết định, Chỉ thị, Thông tư,
thông báo, báo cáo...
Phân loại theo nội dung: Văn bản được sắp xếp theo từng vấn đề được đưa ra trong trích yếu của
văn bản: Văn bản về nhập khẩu, văn bản về xử phạt hành chính, văn bản về hộ tịch...
Phân loại theo mục đích biên soạn và sử dụng: Để giúp thấy được mục đích của việc xây dựng
các văn bản trong quá trình hoạt động của các cơ quan cũng như mục tiêu sử dụng chúng trong
thực tế, dựa vào chức năng của các cơ quan quản lý, có thể phân chia thành các loại như: văn bản
để đôn đốc, văn bản để trao đổi, văn bản thống kê, văn bản quản lý cán bộ...
Phân loại theo thời gian, địa điểm ban hành.
- Theo địa điểm ban hành: Văn bản có thể là của Hà Nội, Hà Tĩnh, Hà Nam.
- Theo thời gian: Văn bản năm 1999, văn bản năm 2000, văn bản năm 2001 hoặc văn bản của
các tháng khác nhau.
Phân loại theo lĩnh vực chuyên môn: Văn bản ngoại giao, văn bản tài chính; văn bản kỹ thuật
trong các lĩnh vực như: văn bản xây dựng, văn bản kiến trúc...
Phân lọai theo ngôn ngữ: Văn bản tiếng Việt, văn bản tiếng Nga, văn bản tiếng Anh...
Phân loại theo hiệu lực pháp lý: Văn bản quản lý nhà nước được phân loại theo các tiêu chí sau:
- Văn bản quy phạm pháp luật.
- Văn bản cá biệt.
- Văn bản hành chính thông thường.
- Văn bản chuyên môn - kỹ thuật.
Bằng các ví dụ thực tế, hãy chứng minh rằng văn bản là công cụ quản lý quan trọng và là
thước đo trình độ văn minh, văn hoá quản lý trong cơ quan nhà nước.

văn hoá quý báu của dân tộc được tích luỹ từ cuộc sống của nhiều thế hệ. Như vậy, văn bản là
nguồn tư liệu lịch sử quý giá giúp cho chúng ta hình dung được toàn cảnh bức tranh và trình độ
văn minh quản lý nhà nước của mỗi thời kỳ lịch sử cụ thể ở mỗi quốc gia. Những văn bản được
soạn thảo đúng yêu cầu về nội dung và thể thức có thể được xem là một biểu mẫu văn hoá không
chỉ có ý nghĩa đối với đời sống hiện nay mà còn cho tương lai.
Qua văn bản thể hiện, phản ánh được trình độ văn hoá và nằm trong xã hội nhà nước nào.
Văn bản góp phần phản ánh xã hội và làm thay đổi bộ mặt xã hội. Thông qua văn bản, chúng ta
thấy được văn hoá quản lý của từng nhà nước; phản ánh quan hệ xã hội và có tác động trực tiếp
đến sự phát triển xã hội. Nói cách khác, văn bản là thước đo trình độ văn minh, văn hoá quản lý
trong cơ quan Nhà nước. Văn bản thể hiện lề lối, trật tự, nề nếp, quy trình, trách nhiệm từng cơ
quan, đơn vị, cá nhân; thể hiện trình độ, năng lực, phẩm chất, thái độ của người soạn thảo.
Muốn văn bản là thước đo trình độ văn minh, văn hoá quản lý trong cơ quan nhà nước thì
việc soạn thảo văn bản phải tuân theo đúng những chuẩn mực nhất định về yêu cầu thể thức, văn
phong ngôn ngữ chuẩn mực, quy trình soạn thảo và ban hành văn bản....; lao động xây dựng văn
bản càng nghiêm túc thì văn bản càng có tính văn hoá cao.
Vì sao cần phân biệt văn bản quy phạm pháp luật với các loại văn bản khác được sử dụng
trong quản lý nhà nước? Nếu không phân biệt chính xác các loại văn bản trong quá trình
soạn thảo thì sẽ có tác hại gì khi sử dụng văn bản? Anh (chị) hãy nêu ví dụ để làm sáng tỏ
nhận định của mình.?
Cần phải phân biệt văn bản quy phạm pháp luật với các loại văn bản khác được sử dụng


trong quản lý nhà nước vì văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm
quyền ban hành theo thủ tục, trình tự luật định, trong đó có các quy tắc xử sự chung được Nhà
nước bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Nó là loại văn bản duy nhất có thẩm quyền và hình thức do luật định, có chứa đựng các quy tắc
xử sự chung, đó chính là những chuẩn mực mà các cơ quan, tổ chức, cá nhân phải tuân theo khi
tham gia quan hệ xã hội mà quy tắc đó điều chỉnh. Là loại văn bản rất điển hình mang tính cưỡng
chế thi hành và nó được áp dụng trong phạm vi thời gian, không gian, đối tượng nhất định. Nó
được áp dụng nhiều lần và chỉ hết hiệu lực khi có một văn bản quy phạm pháp luật khác ra đời



các công việc cụ thể thuộc thẩm quyền của mình. Ví dụ, quyết định bổ nhiệm, tặng thưởng Huân,
Huy chương, khen thưởng, kỷ luật cán bộ.
Cấu trúc nội dung của quyết định cá biệt: Nội dung của quyết định cá biệt gồm phần căn cứ
và phần nội dung chính:
1. Cấu trúc của căn cứ:
Trong phần căn cứ ban hành văn bản cần nêu các căn cứ pháp lý là các văn bản pháp luật
đang còn hiệu lực vào thời điểm ban hành và cơ sở thực tiễn để ban hành quyết định.
- Căn cứ pháp lí gồm có hai nhóm:
+ Căn cứ pháp lý về thẩm quyền ban hành: Viện dẫn văn bản pháp luật quy định chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức ban hành văn bản, ví dụ: đối với Quyết định của
UBND tỉnh viện dẫn căn cứ thẩm quyền là: Căn cứ Luật Tổ chức HĐND và UBND ngày
26/11/2003;
+ Căn cứ pháp lý cho nội dung của văn bản: Viện dẫn các văn bản pháp luật quy định
những vấn đề liên quan trực tiếp đến nội dung quyết định. Thường dẫn theo thứ tự từ cao đến
thấp về tính chất pháp lý của loại hình văn bản. Đối với văn bản có tính chất pháp lý ngang nhau
thì xếp theo thứ tự thời gian. Ví dụ, đối với quyết định về bổ nhiệm cán bộ, công chức lãnh đạo,
viện dẫn căn cứ nội dung có thể là: Căn cứ Quyết định số 27/2003/QĐ-TTg ngày 19 tháng 02
năm 2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, luân
chuyển, từ chức, miễn nhiệm cán bộ, công chức lãnh đạo;
- Cơ sở thực tiễn: Để ban hành một Quyết định phải dựa trên cơ sở thực tiễn, do cơ quan,
thủ trưởng đơn vị có thẩm quyền đề nghị, trình ban hành Quyết định. Phần này cần nêu cụ thể đề
nghị của ai, tại văn bản nào hay dựa trên cơ sở thực tiễn nào. Thông thường phần căn cứ thực
tiễn được bắt đầu bằng cụm từ mang tính khuôn mẫu như: “Xét đề nghị của…”; “Xét đơn…”;
“Xét tờ trình của …”…
2. Nội dung chính của quyết định
- Điều 1 quy định thẳng vào nội dung điều chỉnh chính của Quyết định.
- Điều 2 và các Điều tiếp theo quy định các hệ quả pháp lý nảy sinh liên quan đến nội dung
điều chỉnh chính của Quyết định.

Đưa ra quy tắc xử sự chung Giải quyết vụ việc cụ thể, cá
(đưa ra chuẩn mực mà mọi biệt hay quy phạm nội bộ
cơ quan, tổ chức, cá nhân
phải tuân theo khi tham gia
vào quan hệ xã hội mà quy
tắc đó điều chỉnh)

Đối tượng áp dụng

Toàn xã hội hoặc 1 bộ phận Một cá nhân hoặc một nhóm
xã hội, trong phạm vi toàn cụ thể, trong phạm vi không
quốc hay từng địa phương
gian và thời gian nhất định

Hiệu lực thời gian

Nhiều lần

Thẩm quyền, hình thức, Chặt chẽ do luật định
thủ tục, trình tự ban
hành

Một lần hay trong phạm vi nội
bộ một cơ quan, tổ chức
Phù hợp với chức năng, nhiệm
vụ, thủ tục đơn giản hơn.

Số và ký hiệu

Có năm ban hành ở số và Không ghi năm ban hành ở số

hình thức luật định, có giá trị bắt buộc thi hành. Còn đối với văn bản hành chính thông thường,
mọi cơ quan, tổ chức đều có thể ban hành. Văn bản hành chính thông thường chứa đựng thông
tin quản lý thông thường, không mang tính chế tài bắt buộc. Nếu dùng văn bản hành chính thông
thường để đưa ra các quy phạm pháp luật thì dẫn đến hiệu lực của mệnh lệnh trong văn bản bị
ảnh hưởng, không tạo ra được căn cứ pháp lý đề thực hiện và giải quyết các tranh chấp nảy sinh,
không tạo được tính bắt buộc thi hành của quy định đưa ra..
Hiện nay, trên thực tế nhiều (đến 30%) văn bản hành chính thông thường (công văn, thông
báo...) có chứa quy phạm pháp luật.
Một số biện pháp khắc phục tình trạng này là:
- Cán bộ, công chức soạn thảo văn bản cần nắm rõ đặc điểm của từng loại văn bản để lựa chọn
hình thức tên gọi phù hợp.
- Nắm vững quy định pháp luật về kỹ thuật soạn thảo văn bản.
- Tăng cường kiểm tra, xử lý kịp thời các văn bản hành chính thông thường có chứa quy phạm
pháp luật.
- Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức về kiến thức và nghiệp vụ soạn thảo văn bản.
- Có biện pháp chế tài đối với cơ quan, cá nhân ban hành văn bản sai trái.
Văn phong của văn bản quản lý nhà nước có ý nghĩa như thế nào đến chất lượng văn bản?
Hãy nêu các ví dụ để làm sáng tỏ những đặc điểm về văn phong của văn bản quản lý nhà
nước.
Văn bản quản lý hành chính nhà nước được viết theo văn phong hành chính - công vụ, đó là
dạng ngôn ngữ tiếng Việt văn học tạo thành hệ thống tương đối khép kín, hoàn chỉnh các phương
tiện ngôn ngữ viết đặc thù nhằm phục vụ cho các mục đích giao tiếp bằng văn bản trong lĩnh vực
hoạt động pháp luật và hành chính. Văn phong hành chính - công vụ được sử dụng trong giao
tiếp bằng văn bản tại các cơ quan nhà nước, trong công tác điều hành - quản lý ở toà án, trong
hội đàm công vụ và ngoại giao. Đó là văn phong của các văn bản pháp luật, các quyết định quản
lý, các văn kiện chính thức khác nhau, thư tín công vụ, diễn văn, các bài phát biểu tại các cơ
quan bảo vệ pháp luật, các chỉ dẫn mang tính pháp lý. Việc đảm bảo văn phong, ngôn ngữ văn
bản giúp cho văn bản thực hiện được các chức năng của mình, giúp cho văn bản đạt được mục
đích của việc ban hành.
Văn phong hành chính - công vụ có 5 đặc điểm:

sinh, Thông báo tuyển dụng cán bộ, công chức.
Các trường hợp ban hành thông báo:
-

Thông báo 1 hoặc 1 vài vấn đề trong hoạt động công vụ được tạo nên do 1 văn bản quy
phạm pháp luật đã ban hành.

-

Thông báo 1 số hoạt động đang thực hiện hoặc dự kiến xẩy ra, ví dụ như mở lớp bồi
dưỡng, đào tạo...

-

Thông báo kế hoạch mới, đề nghị mới lên cấp trên,...

Nêu kết cấu nội dung mỗi loại:
-

Đặt vấn đề: Không trình bày lý do mà giới thiệu trực tiếp những vấn đề cần thông báo.

-

Nội dung thông báo:

Đối với Thông báo truyền đạt chủ trương, chính sách, quyết định, chỉ thị cần nhắc lại tên văn
bản cần truyền đạt, tóm tắt nội dung cơ bản của văn bản đó và yêu cầu cần quán triệt, triển khai,
thực hiện.
Đối với Thông báo về kết quả các hội nghị, cuộc họp phải nêu ngày giờ họp, thành phần tham
dự, người chủ trì, tóm tắt nội dung hội nghị, các quyết định, nghị quyết nếu có của hội nghị,

kiến thẩm định văn bản và có quyền tiếp thu hay không tiếp thu các ý kiến đó.
Điểm khác nhau giữa hoạt động lấy ý kiến đóng góp dự thảo văn bản và hoạt động thẩm định
văn bản trong quy trình lập quy:

Tiêu chí

Đóng góp ý kiến

Thẩm định

ý nghĩa

Phát huy tính dân chủ và tập
trung trí tuệ tập thể

Tăng cường tính kiểm tra văn bản
trước khi ban hành

Trình tự

Thực hiện trước thẩm định

Thực hiện sau đóng góp ý kiến

Chủ thể
thực hiện

Các cơ quan, tổ chức, cá
nhân hữu quan, các chuyên
gia, nhà khoa học và đối

phạm vi điều chỉnh của văn bản;
tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống
nhất của văn bản trong hệ thống
pháp luật; tính khả thi của văn
bản; kỹ thuật soạn thảo văn bản (từ
ngữ, câu chữ, tiêu đề, bố cục văn
bản, văn phong...)
Gửi thêm tài liệu hay trả lời trực
tiếp về những vấn đề cơ quan thẩm
định đề nghị

Không phải chịu trách nhiệm
pháp lý về ý kiến đóng góp

Chịu trách nhiệm pháp lí về ý kiến
thẩm định

Một số kiến nghị để hoàn thiện 2 hoạt động này :
-

Tuyên truyền, phổ biến về quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của công dân và tổ chức trong
việc tích cực tham gia đóng góp ý kiến dự thảo văn bản;

-

Tránh tính trạng lấy ý kiến một cách hình thức.

-

Cần có cơ quan chuyên môn tư vấn, thẩm định riêng về tính khả thi, tính khoa học của

trên, ngang cấp hay cấp dưới.
Đề nghị, yêu cầu đối tượng
nhận văn bản làm cái gì đó.
Đề nghị cấp trên phê duyệt một hoạt động hay văn bản nào
đó.
Đề nghị cho phép hay đảm bảo cung cấp các điều kiện cần
Chỉ dừng lại ở mức độ đưa ra thiết để chủ thể ban hành được thực hiện công việc nào đó.
đề nghị
Yêu cầu phê duyệt chương trình, đề án, kế hoạch, văn bản
khác đã dự thảo
Phải cụ thể, chi tiết hơn:
- Phân tích căn cứ thực tế làm nổi bật nhu cầu bức thiết của
vấn đề cần trình duyệt, ý nghĩa mọi mặt của đề nghị đó
- Phân tích khó khăn, phản ứng có thể xảy ra khi thực hiện
đề nghị mới đó và biện pháp giải quyết, kèm theo dự án,
chương trình, kế hoạch thực hiện nó
- Nội dung có tính khả thi, thể hiện bằng ngôn ngữ mang
tính thuyết phục cao để tạo sự tin tưởng của cấp trên.
Vì sao khi soạn thảo và ban hành văn bản cần tuân theo một quy trình khoa học? Anh (chị)
hãy phân tích ý nghĩa của các bước cơ bản trong quy trình soạn thảo văn bản hành chính
thông thường.
Văn bản quản lý nhà nước bao gồm rất nhiều loại khác nhau về nội dung và vai trò đối với
hoạt động của bộ máy nhà nước nên quy trình xây dựng chúng rất khác nhau. Văn bản càng quan
trọng thì quy trình xây dựng càng phức tạp, chặt chẽ, văn bản ít quan trọng thì quy trình xây
dựng đơn giản, linh hoạt. Như vậy quy trình xây dựng và ban hành văn bản quản lý nhà nước
được hiểu là việc thực hiện thứ tự các bước trong quá trình xây dựng và ban hành văn bản quản
lý nhà nước của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 quy định chặt chẽ quy trình soạn thảo
và ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Việc tuân thủ quy trình nhằm đảm bảo tuân thủ pháp
luật về trình tự soạn thảo và ban hành, đảm bảo văn bản ban hành có tính hợp hiến, hợp pháp và

nhất định và được Nhà nước đảm bảo thi hành bằng những biện pháp khác nhau nhằm điều chỉnh
các mối quan hệ quản lý nội bộ nhà nước hoặc giữa các cơ quan nhà nước với các tổ chức và
công dân.
Nhà quản lý cần ban hành văn bản trong các trường hợp:
- Cần truyền đạt thông tin quản lý; cần lưu giữ lại thông tin: Đây là chức năng cơ bản
quan trọng, bản chất của văn bản, là nguyên nhân hình thành văn bản và là cơ sở để thực hiện
các chức năng khác. Văn bản giúp nhà quản lý lưu giữ lại các thông tin quản lý; truyền đạt thông
tin quản lý từ nơi này đến nơi khác trong hệ thống quản lý hay giữa hệ thống với bên ngoài. Ví
dụ: Các thông tin dự báo về cơn bão số 6 (bão Xangsane) của cơ quan khí tượng thuỷ văn Trung
ương; các Công điện khẩn của Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các địa phương phòng chống bão số
6.
- Để tạo căn cứ pháp lý và làm chứng cứ pháp lý: Văn bản giúp ghi lại các quy phạm
pháp luật và các quan hệ pháp lý tồn tại trong xã hội do pháp luật điều chỉnh. Bản thân văn bản
là chỗ dựa pháp lý, khung pháp lý ràng buộc mọi mối quan hệ, là cơ sở pháp lý cho hoạt động


của các cơ quan, tổ chức. Nó giúp xác định các quan hệ pháp lý giữa các cơ quan quản lý và bị
quản lý, tạo nên sự ràng buộc trách nhiệm giữa các cơ quan, cá nhân có quan hệ trao đổi văn bản,
theo phạm vi hoạt động của mình và quyền hạn được giao.
- Để làm cơ sở kiểm tra, đánh giá hoạt động quản lý: Đây là chức năng có tính chất thuộc
tính của văn bản quản lý. Thông tin trong văn bản quản lý Nhà nước giúp cho việc tổ chức tốt
công việc của các nhà lãnh đạo, làm cơ sở ban hành các quyết định quản lý. Ghi lại và truyền đạt
các quyết định quản lý tới đối tượng thực hiện, tham gia vào tổ chức thực hiện quyết định. Đồng
thời là phương tiện hữu hiệu để phối hợp, kiểm tra, đánh giá hiệu quả hoạt động quản lý. Ví dụ:
Căn cứ các thông tin dự báo về cơn bão số 6 (bão Xangsane), các cơ quan quản lý Nhà nước
Trung ương và địa phương đã đưa ra các quyết định quản lý đúng đắn trong công tác chỉ đạo
phòng chống bão.
Nêu ví dụ cụ thể các trường hợp ban hành văn bản quy phạm pháp luật, văn bản cá biệt,
văn bản hành chính thông thường, văn bản chuyên môn kỹ thuật để làm sáng tỏ yêu cầu cần thiết
phải có văn bản để nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý nhà nước.

+ Viết dự thảo lần thứ nhất.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status