Bài tiểu luận thất bại thị trường trong cung cấp hàng hóa và dịch vụ y tế công - Pdf 35

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TPHCM

KHOA: KINH TẾ

MÔN: KINH TẾ CÔNG CỘNG

ĐỀ TÀI: THẤT BẠI THỊ TRƯỜNG TRONG CUNG CẤP HÀNG
HÓA VÀ DỊCH VỤ Y TẾ CÔNG

Giảng viên hướng dẫn : Th.S TRẦN THU VÂN
Sinh viên thực hiện (nhóm 10) : NGUYỄN ĐÌNH CHIẾN-DT03
: PHAN THỊ PHƯƠNG UYÊN-DT03
: PHAN MINH NGHỊ-DT01
: DƯƠNG THỊ QUYÊN –DT01
: TRẪN THỊ MỸ UYÊN-DT02
: H JI BUÔN KRÔNG-DT03
: LÊ HOÀNG HẢO-DT03

I.

:


2
I.

Đặt vấn đề ........................................................................................................................................ 4


b.

Thông tin bất cân xứng trong cung cấp hàng hóa y tế công. .................................................... 6
i) Thông tin bất cân xứng giữa bệnh nhân và bác sỹ ................................................................... 6
ii)

2.

thông tin bất cân xứng đối với người mua bảo hiểm y tế ..................................................... 8

Ngoại tác ...................................................................................................................................... 8
a. Khái niệm .................................................................................................................................. 8
b.

Phân loại: ............................................................................................................................... 8

c. Ngoại tác tích cực và tiêu cực trong hàng hóa y tế công ............................................................. 9
i) Ngoại tác tích cực: .................................................................................................................. 9
ii)

Ngoại tác tiêu cực: ............................................................................................................ 11

Thực trạng cung cấp hàng hóa y tế công ở VN............................................................................ 12

IV.
1.

Hệ thống y tế, bệnh viện, cơ sở vật chất, trang thiết bị, kỹ thuật: ................................................. 12

2.

a. Giải pháp cho ngoại tác tích cực trong y tế công ...................................................................... 19
b.
3.

Đề xuất ý kiến cho ngoại tác tiêu cực trong y tế công ........................................................... 19
Chính sách cạnh tranh cung ứng dịch vụ kinh tế : ....................................................................... 20


3
a. Khái niệm ................................................................................................................................ 20
b.

Tính chất .............................................................................................................................. 20

c. Mục tiêu khi thực hiện chính sách ............................................................................................ 20


4

I. Đặt vấn đề
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “ Con người là nhân tố hàng đầu, là
nguồn tài nguyên quý báu nhất quyết định sự phát triển của đất nước”. Vì thế từ xưa đến
nay, dịch vụ chăm sóc sức khỏe luôn là vấn đề được xã hội quan tâm. Tuy nhiên hệ thống
chính sách và cơ chế cung ứng dịch vụ y tế ở Việt Nam hiện nay còn rất nhiều vấn đề bất
cập, nguồn lực đầu tư lớn nhưng hiệu quả sử dụng nguồn lực này để cung ứng dịch vụ y tế
chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn đặt ra, tạo ra sự bất bình đẳng trong cung ứng dịch
vụ, hàng hóa y tế công. Mà nguyên nhân chủ yếu tạo ra sự bất bình đẳng đó là do thông tin
bất cân xứng và ngoại tác. Chính vì thế nhóm chúng tôi chọn đề tài “ thất bại thị trường
trong cung ứng dịch vụ, hàng hóa y tế công” nhằm đưa ra chi tiết những thất bại thị trường
trong y tế công: thông tin bất cân xứng và ngoại tác. Từ đó đề xuất giải pháp nhằm khắc

Ví dụ: không khí trong căn phòng, giao thông trên đường vào giờ cao điểm…
ii) Hàng hoá công không thuần túy:
Là hàng hoá công có thể định suất được nhưng phải tốn chi phí.
Ví dụ: chi phí khám bệnh, giáo dục vẫn có thể tính được, ai sử dụng thì người nấy trả tiền
nhưng giá cả có sự quản lý của nhà nước để không dẫn đến quá cao.
2. Hàng hóa dịch vụ y tế
a. Khái niệm:
Hàng hóa dịch vụ y tế là “hàng hóa công cộng” vì nó mang tính không cạnh tranh,
mọi người ai cũng có thể đến các cơ sở y tế để khám chữa bệnh không phân biệt bất kì ai
Nó cũng mang tính không loại trừ vì mọi người đều được hưởng dịch vụ mà không phải
tiền (việc tiêm phòng) nhưng đối với dịch vu y tế điều này chỉ mang tính tương đối. Mang
tính chất “ngoại lai”. Khái niệm “ngoại lai” ở đây là lợi ích không chỉ giới hạn ở những
người trả tiền để hưởng dich vụ mà kể cả những người không trả tiền cũng được hưởng
những lợi ích này.
Ví dụ : Các dịch vu y tế dự phòng , giáo dục sức khỏe có lợi cho mọi người dân trong
khi họ không phải trả tiền để mua các loại dich vụ này. Chính điều này không tạo ra được
động cơ lợi nhuận cho nhà sản xuất.không khuyến khích được việc cung ứng các dịch vụ
này. Do vậy, để đảm bảo đủ cung đáp ứng đủ cho cầu cần có sự can thiệp của nhà nước
trong cung ứng các dịch vu y tế mang tính công cộng.
b. Tầm quan trọng của việc cung cấp hàng hóa dịch vụ y tế :
Ta thường hay nghe câu nói “sức khỏe là vàng”, sức khỏe là một trạng thái về cơ thể
của một con người khoẻ mạnh, không bị đau yếu. Nếu người dân khỏe mạnh thì có thể tạo
ra của cải vật chất cao hơn cho họ và gia đình, mà “dân giàu thì nước mới mạnh”, vậy sức
khỏe là một trong các vấn đề quan trọng không chỉ của riêng ai, mà còn là của đất nước.
Vì vậy chúng ta luôn luôn phải chú ý quan tâm đến việc cung cấp hàng hóa dịch vụ y
tế để đảm báo sức khỏe cho người dân.
III. Sự thất bại của thị trường trong việc cung cấp hàng hóa y tế công
1. Thông tin bất cân xứng trong y tế công
a. Khái niệm
Thông tin bất cân xứng (Asymmetric Information) là trường hợp trong giao dịch

gia nhập thị trường của nhà cung ứng dịch vụ y tế. Muốn cung ứng dịch vụ y tế cần được
cấp phép hành nghề và cần đảm bảo những điều kiện nhất định về cơ sở vật chất. Nói một
cách khác trong thị trường y tế không có sự cạnh tranh hoàn hảo.


7

So sánh giữa thị trường cạnh tranh và thị trường y tế công
Thị trường cạnh tranh

Thị trường y tế công

Có nhiều người bán

Chỉ có một số ít bệnh viện (trừ các
thành phố lớn)

Các hãng tăng tối đa hoa lợi nhuận

Các bệnh viện công hầu như không
vì lợi luận

Hàng hóa đồng nhất

Hàng hóa không đồng nhất

Người tiêu dùng thanh toán trực tiếp

Bệnh nhân chỉ trang trải một phần
chi phí

khoảng 69% dân số. Trong số đó có khoảng 14,3 triệu người nghèo và dân tộc thiểu số,
gần 2 triệu người cận nghèo có thẻ bảo hiểm y tế.
Người mua bảo hiểm phần lớn là những người có khả năng mắc bệnh cao, như vậy
công ty bảo hiểm phải chi trả một số tiền lớn cho những người này để bù đắp chi phí họ sẽ
tăng mức phí bảo hiểm cao hơn. Chính vì điều này dẫn đến những người khỏe mạnh sẽ
không tham gia bảo hiểm vì họ cho rằng lúc này, nếu tham gia thì độ hữu dụng của họ rất
thấp mà chi phí lại cao. Cuối cùng chỉ còn lại những người có khả năng mắc bệnh cao mới
đóng bảo hiểm và công ty bảo hiểm sẽ thua lỗ
Tâm lý hành xử tắc trách xuất hiện đối với những người mua bảo hiểm y tế. chẳng hạn
như bạn có bảo hiểm y tế ,bạn sẽ đến bệnh viện khám bệnh thường xuyên hơn so với lúc
bạn chưa mua bảo hiểm
2. Ngoại tác
a. Khái niệm
Ngoại tác được hiểu như là những hoạt động của một chủ thể nhất định nào đó gây
tác động đến các đối tượng này không được đền bù hoặc không phải bị đền bù.
Các chủ thể và đối tượng tác động ở đây có thể là cá nhân hoặc đơn vị hoạt động
sản xuất kinh doanh. Sự tác động của các chủ thể này là sự tác độn tốt hoặc xấu. Các chủ
thể này không chịu bất cứ một trách nhiệm kinh tế nào về sự tắc động của họ, cũng như họ
không đòi hỏi một sự đền bù nào.
Ngoại tác thể hiện mối quan hệ sản xuất - sản xuất, sản xuất - tiêu dùng, tiêu dùng tiêu dùng. Kết quả hoạt động của người này chịu ảnh hưởng bởi kết quả của người khác.
b. Phân loại:
Trên giác độ hiệu qủa kinh tế - xã hội của các yếu tố ngoại vi đến các đối tượng tác
động tác động, ngoại tác được chia làm 2 loại:
Ngoại tác tích cực: có tác động tốt đến đối tượng chịu tác động.
Ví dụ: Tiêm phòng bệnh cho trẻ em miễn phí sẽ có tác đến cộng đồng.
Ngoại tác tiêu cực: có tác động xấu đến đối tượng chịu tác động.
Ví dụ: Nhà máy thải chất thải ra song sẽ gây ô nhiểm sông, ảnh hưởng đến đòi sống của
người dân khu vực sông.



B

PE’

E’

D (MB)
E

PE

MEB

QE

QE’

Q


11

ii) Ngoại tác tiêu cực:
Tính công bằng chưa phát huy hết công dụng, một số hàng hóa công chưa tay người
nghèo, vùng sâu vùng xa.
Còn tồn tại tình trạng trục lợi, tham nhũng trong đội ngũ y tế.
Đối xử phân biệt giữa những người được hưởng chế độ ưu đãi của nhà nước và những
người trả tiền trực tiếp.
Cơ sở dịch vụ y tế vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu của người dân.



QE

Q

IV. Thực trạng cung cấp hàng hóa y tế công ở VN
O

1. Hệ thống y tế, bệnh viện, cơ sở vật chất, trang thiết bị, kỹ thuật:
Cùng với sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước, đặc biệt trong giai đoạn công
nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay, nhu cầu chăm sóc bảo vệ sức khỏe nhân dân ngày càng


13

tăng đi đôi với chất lượng của hệ thống y tế, bệnh viện, cơ sở vật chất, trang thiết bị kĩ
thuật. Hiện nay mạng lưới y tế đã trải rộng khắp nơi từ Trung ương tới các tỉnh, quận
huyện, xã phường, hải đảo các xí nghiệp, trường học để đảm bảo phục vụ chăm sóc sức
khỏe nhân dân kịp thời, hiệu quả và công bằng.
Số lượng các cơ sở bao gồm
2013
NĂM
TỔNG SỐ
Bệnh viện
Phòng khám đa khoa khu vực
Bệnh viện điều dưỡng và phục hồi
chức năng
Trạm y tế xã, phường
Trạm y tế của cơ quan, xí nghiệp
Cơ sở khác



14

đôi với đạo đức, y đức đòi hỏi trách nhiệm cao của người thầy thuốc đối với bệnh nhân,
không có sự phân biệt đối xử đối với người giàu và người nghèo. Xét về tổng thể người
giàu vẫn được hưởng lợi nhiều hơn từ nguồn hỗ trợ của Nhà nước cho các dịch vụ thăm
khám chữ bệnh so với người nghèo mặc dù chính sách hỗ trợ của Nhà nước đã hướng vào
người nghèo nhiều hơn trong những năm gần đây. Hiện nay ở nước ta đã xuất hiện nhiều
hình thức khám chữa bệnh miễn phí cho người nghèo, trong đó việc cấp Bảo hiểm y tế cho
người nghèo là hình thức phổ biến nhất. Với hình thức này, cơ quan bảo hiểm y tế cấp thẻ
Bảo hiểm y tế cho người nghèo, người dân tộc thiểu số, trẻ em dưới 6 tuổi… miễn phí
thông qua ngân sách của Nhà nước. Khi có bảo hiểm y tế người dân sẽ được khám chữa
bệnh, phát thuốc miễn phí. Tuy nhiên số lần đến khám bằng bảo hiểm y tế và số lượng
thuốc được cấp bị hạn chế. Ngoài ra còn có các hình thức cấp thẻ khám chữa bệnh miễn
phí, giấy chứng nhận khám chữa bệnh miễn phí, cấp sổ hộ nghèo cũng được áp dụng rộng
rãi ở một số địa phương. Do ngân sách Nhà nước hạn hẹp nên thực tế số lượng người dân
được cấp thẻ khám chữa bệnh, bảo hiểm y tế vẫn còn ít và khác nhau giữa các tỉnh, huyện.
Đối với các cơ sở khám chữa bệnh tuyến trên như các bệnh viện tỉnh hay ở bệnh viện
chuyên môn ở các thành phố lớn, mặc dù được miễn giảm viện phí hay phí khám chữa
bệnh tuy nhiên người dân đặc biệt là người nghèo vẫn gặp nhiều khó khăn do các chi phí
phát sinh như chi phí đi lại, ăn ở…Do tình trạng quá tải xảy ra thường xuyên ở các bệnh
viện tuyến trên nên công tác chăm khám chữa bệnh chưa được đảm bảo. Nhiều bệnh nhân
lên các bệnh viện chuyên môn lớn ở các thành phố bị rất nhiều khó khăn trong các thủ tục
giấy tờ, mất thời gian chờ đợi, tỷ lệ được bảo hiểm y tế thanh toán còn thấp, bệnh nhân đi
khám chữa bệnh nội trú hay ngoại trú được hỗ trợ thông qua hình thức miễn giảm là chính.
Hiện nay các bệnh viện lớn đã xuất hiện hình thức khám chữa bệnh theo dịch vụ tức là bỏ
tiền thêm để không phải mất thời gian, thủ tục sẽ làm nhanh hơn. Cho nên tuyến y tế cơ sở
là nơi đem lại lợi ích nhiều hơn cho người nghèo. Một hiện trạng còn xảy ra ở hầu hết các
bệnh viện trên cả nước là chất lượng chăm sóc y tế cho người dân được miễn phí kém hơn

các trình độ với 68 cơ sở đào tạo ngoài công lập. Theo thống kê của Bộ Y tế, mỗi năm
nước ta đào tạo 6.500 bác sĩ, 2.800 dược sĩ, 5.000 cử nhân điều dưỡng, kỹ thuật y học, y tế
công cộng và 5.100 cán bộ y tế có trình độ sau đại học (ĐH). Tuy nhiên con số đó vẫn
chưa là cao so với nước ngoài và trình độ, năng lực quản lý của cán bộ chưa tương xứng
với nhu cầu, nhiệm vụ quản lý được giao. Tình trạng đào tạo đội ngũ y bác sĩ ngày càng
giảm sút, nếu không khắc phục hoặc chấm dứt tình hình nhân lực ngành y tế được đào tạo
quá dễ dãi sẽ dẫn đến hậu quả hết sức nghiêm trọng, năng suất phục vụ thấp, y đức sa
sút…Bên cạnh đó, vẫn tồn tại sự mất cân đối trong phân bổ cán bộ y tế giữa các tuyến.
Việc đưa bác sĩ về xã để người nghèo, vùng nông thôn tăng khả năng tiếp cận với kỹ thuật
cao hơn vẫn đang trong quá trình giải quyết. Tình trạng nhiều bệnh viện thiếu cán bộ, thậm
chí ở một số nơi số lượng bệnh nhân rất nhiều nhưng chỉ có một vài bác sĩ làm việc. Điều
này gây ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng khám chữa bệnh cho người dân, dễ xảy ra tình
trạng khám qua loa, đội ngũ y bác sĩ nếu không có đủ y đức sẽ nhanh nản lòng và làm việc
không hết sức mình, phục vụ bệnh nhân không tận tình.
Một hiện trạng cũng hết sức cấp bách hiện nay đó là về ngành dược và các thiết bị y
tế. Hiện nay trên thị trường nổi cộm lên vấn đề cho thuê bằng dược sĩ để mở tiệm thuốc
tây. Theo quy định của Pháp lệnh về hành nghề y dược tư nhân, thì những dược sĩ đứng
tên xin giấy phép phải có mặt nơi kinh doanh. Người đang làm việc trong các cơ sở y,
dược Nhà nước chỉ được hành nghề ngoài giờ khi có sự đồng ý bằng văn bản của thủ
trưởng cơ quan. Thế nhưng Nhà nước đưa ra pháp lệnh nhưng không có người giám sát
chặt chẽ, thường xuyên kiểm tra nên hiện nay hàng loạt các nhà thuốc tư nhân mà người
bán thuốc không phải là người có tên trong giấy phép đang kí kinh doanh. Việc cho thuê
bằng trái phép và để người không có trình độ bán thuốc có thể dẫn tới những hệ lụy tiêu
cực đối với người tiêu dùng. Đó là bán thuốc không theo toa chỉ định, bán không đúng giá


16

thị trường theo quy định của Bộ y tế, thậm chí nguy hiểm hơn là bán nhầm thuốc. Người
dân luôn tin tưởng vào đội ngũ y bác sĩ dược sĩ thế nên những tình trạng trên cần được

Bộ y tế tiếp tục thực hiện tốt chính sách khám chữa bệnh cho người nghèo, trẻ em
dưới 6 tuổi, đồng bào dân tộc thiểu số, đối tượng hưởng chính sách xã hội.


17

Tuy nhiên đang có một nghịch lý đáng báo động, khi mà tỷ lệ chi từ ngân sách nhà
nước cho y tế tăng nhanh trong những năm gần đây, nhưng mức chi từ tiền túi của các hộ
gia đình vẫn chiếm tỷ lệ cao trong tổng chi khiến cho nhiều hộ gia đình rơi vào nghèo đói
ngay khi có người đau ốm. Trong những năm gần đây, mức chi từ ngân sách nhà nước cho
y tế đang tăng nhanh hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế. Cách đây sáu năm, vào năm 2008
ngân sách nhà nước chi cho y tế chỉ chiếm 4,92% tổng chi thì đến những năm gần đây, tỷ
lệ này là 8,28%.Theo Báo cáo về thực trạng hệ thống y tế Việt Nam, mức tăng chi của
ngân sách nhà nước chủ yếu để dành cho y tế dự phòng, hiện đại hóa cơ sở hạ tầng y tế
bằng các dự án như: nâng cấp hệ thống y tế cấp huyện, tỉnh và trung ương. Ngoài ra, mức
tăng chi này còn do tăng chi bảo hiểm y tế (BHYT). Cùng với việc tăng chi từ ngân sách
nhà nước, tỷ lệ chi trả từ tiền túi của người dân cho các dịch vụ y tế vẫn đang "cao ngất
ngưởng" so với nhiều nước trong khu vực. Cụ thể, theo số liệu từ Tài khoản y tế quốc gia,
nếu năm 2004, tính trung bình mỗi hộ gia đình phải chi 126,4 nghìn đồng mỗi tháng cho y
tế thì đến năm 2010 số tiền này đã tăng lên gần gấp đôi là 243 nghìn đồng và theo xu
hướng tiếp tục tăng trong những năm gần đây. So với nhiều nước có cùng điều kiện kinh
tế trong khu vực thì hệ thống y tế nước ta đang kém ưu thế hơn. Thí dụ như tỷ lệ chi từ
tiền túi các hộ gia đình ở Thái Lan chi phí cho y tế khoảng 13,1%, In-đô-nê-xi-a khoảng
45%, Ma-lai-xi-a khoảng 35% và trung bình chung của toàn thế giới khoảng xấp xỉ 20%.
WHO đã từng khuyến cáo, để bảo đảm cho sự an toàn đối với chi tiêu gia đình thì tỷ lệ chi
cho các dịch vụ y tế chỉ nên chiếm khoảng 20% đến 30% tổng chi. Trong cơ cấu ngân sách
cho khu vực chữa bệnh có sự mất cân đối khá rõ ràng. Cho dù Nhà nước ưu tiên đầu tư
theo đầu người cao hơn cho vùng núi, vùng nghèo, song khả năng đóng góp của cộng
đồng qua viện phí và bảo hiểm y tế lại rất hạn chế dẫn tới mức chi y tế bình quân đầu
người chênh lệch giữa các vùng khá lớn. Vùng càng nghèo mức chi y tế bình quân càng

cậy, được kiểm duyệt chặt chẽ, mang thông tin sức khỏe, y tế đến mọi người dân
b. Giải pháp cho thông tin bất cân xứng giữ người mua bảo hiểm y tế với nhà bảo hiểm
Để khắc phục tình trạng thông tin bất cân xứng giữa người mua bảo hiểm y tế với nhà
bảo hiểm nhóm chúng tôi xin đưa ra giải pháp là: chính phủ cần đưa ra chính sách bắt
buộc mọi người dân đều mua bảo hiểm y tế. Khi đó không còn tình trạng những người
mua bảo hiểm phần lớn là những người có khả năng mắc bệnh cao. Đây cũng được coi là
chính sách công bằng, đoàn kết xã hội, thể hiện tinh thần dân tộc một người vì mọi người,
mọi người vì một người. Chính phủ cũng cần cấp Bảo hiểm y tế miễn phí cho người
nghèo. Với hình thức này, cơ quan bảo hiểm y tế cấp thẻ Bảo hiểm y tế cho người nghèo,
người dân tộc thiểu số, trẻ em dưới 6 tuổi… miễn phí thông qua ngân sách của Nhà nước.
Đề hạn chế tâm lý hành xử tắc trách cuả người mua bảo hiểm thì có thể hạn chế số
lần khám chữa bệnh đối với một thẻ y tế. ví dụ như một thẻ bảo hiểm y tế một năm có thể
khám và chữa bệnh tối đa 10 lần (Nếu quá 10 lần thì sẽ có giải pháp khác như: phải đóng
70% tiền khám, chữa bệnh, hoặc đóng thêm tiền để gia hạn số lần chữa bệnh cho thẻ bảo
hiểm….)


19

2. Đề xuất giải pháp về vấn đề ngoại tác trong y tế công
a. Giải pháp cho ngoại tác tích cực trong y tế công
Chính phủ đã thực hiện hình thức trợ giá hoặc bù lỗ, sử dụng hình
thức trợ cấp bằng hiện vật : dược phẩm, dụng cụ y tế, cơ sở hạ tầng- vật chất để tăng sản
lượng hàng hóa cung ứng .
Để khuyến khích địa phương mở rộng cung cấp hàng hóa y tế, chính phủ cam kết là :
“ Cứ mỗi đồng địa phương chi cho y tế, chính phủ sẽ trợ giá theo tỷ lệ phần trăm nào đó”
P
MC (MSC)
MSB=MB+MEB
B

đến các dịch vụ y tế thiết yếu.
Củng cố nâng cao năng lực nhà nước về dược phẩm, phát triển mạng lưới giao
thông, phân phối và cung ứng thuốc để chủ động thường xuyên, đủ thuốc có chất lượng,
giá cả hợp lí và ổn định thị trường
Xây dựng những cơ sở y tế bình dân, cao cấp cho từng các đối tượng thu nhập xã hội. Cụ
thể :


20

 Với những người dân có khả năng chi trả trung bình và thấp, sẽ khám và chữa bệnh
ở các bệnh viện công ( bình dân ). Ở đó mọi người sẽ được đối xử bình đẳng, chi phí
hợp lí và chất lượng đảm bảo
 Với những thành phần dân cư có thu nhập cao, sẽ đăng kí ở những cơ sở y tế cao
cấp tương ứng. Tuy nhiên , giá cả sẽ cao hơn nhiều và nguồn thu ở những bệnh viện
này sẽ trích ra một phần cho các bệnh viện bình dân.
Có những chính sách khám, chữa bệnh miễn phí cho người nghèo, khuyết tật, thương
binh, liệt sỹ…. Đồng thời cũng trang bị trang thiết bị, bác sỹ có tay nghề cũng như các loại
thuốc , vắc xin đến vùng sâu, vùng xa, biên giới hải đảo
3. Chính sách cạnh tranh cung ứng dịch vụ kinh tế :
Nhận thức được thực trạng cung cấp hàng hóa y tế công ở Việt Nam vẫn còn diễn ra
một số vấn đề về ngân sách, nguồn lực, sự giám sát và minh bạch cũng như tính hiệu quả
chưa hẳn là cao của 5 đề xuất trên. Chính phủ luôn nghiên cứu, tìm tòi , học tập những
giải pháp thiết thực hơn cả về cung cấp dịch vụ kinh tế. Được nhắc đến trong những năm
gần đây chính là đề xuất thực hiện cho các nhà đầu tư cạnh tranh về cung ứng dịch vụ kinh
tế.
Việt Nam đã rất nỗ lực để đảm bảo tạo ra một sân chơi công bằng, minh bạch nhằm
thu hút các nhà thầu trong và ngoài nước có năng lực tham gia cung cấp hàng hóa y tế…
Theo đó, thông qua đấu thầu, công tác quản lý trong lĩnh vực đầu tư y tế của Nhà nước
ngày càng được nâng cao, nguồn vốn được sử dụng có hiệu quả, nhân dân được tiếp cận

Có các chính sách thu hút mạnh các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào lĩnh vực cung ứng
dịch vụ y tế chất lượng cao tại Việt Nam
Tăng cường giám sát cạnh tranh và kiểm soát chất lượng tại các đơn vị cung ứng dịch vụ y
tế. Bảo vệ và khuyến khích cạnh tranh lành mạnh.
Học tập kinh nghiệm từ các quốc gia đã và đang thực hiện hiệu quả chính sách này :
Anh, Đức, Ấn Độ…..
Xây dựng và hoàn thiện chính sách cạnh tranh trong cung ứng dịch vụ y tế là chủ trương
quan trọng của Đảng và Nhà nước ta. Đó là xu thế tất yếu, khách quan không thể đảo
ngược trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội
nhập kinh tế quốc tế.
Vì vậy, chính phủ cần đổi mới tư duy và cách tiếp cận trong cung ứng dịch vụ y tế ở
Việt nam nhằm hướng tới mục tiêu xây dựng hệ thống y tế công bằng, hiệu quả và phát
triển. Thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status