Đề tài đánh giá hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp của xã sen thủy, huyện lệ thủy, tỉnh quảng bình đề xuất một số giải pháp sử dụng đất bền vững - Pdf 35

PHẦN THỨ NHẤT
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trong vài thập kỷ trở lại đây, sự gia tăng dân số của thế giới đã thúc
đẩy nhu cầu ngày càng lớn về lương thực và thực phẩm. Song song với sự
phát triển dân số là sự phát triển về kinh tế, khoa học kỹ thuật. Và để thỏa
mãn nhu cầu ngày càng cao, nhiều hoạt động của con người đã gây ảnh hưởng
đến môi trường và các nguồn tài nguyên đất đai, một dạng tài nguyên không
tái tạo được. Do đó, việc đánh giá tài nguyên thiên nhiên làm cơ sở cho việc
sử dụng hợp lý, hiệu quả và phát triển bền vững là một nhiệm vụ khó khăn
trong giai đoạn hiện nay.
Bên cạnh đó, việc sử dụng đất nông nghiệp đạt hiệu quả cao là vấn đề
quan tâm hàng đầu trong công tác quản lý, sử dụng đất của nhà nước. Mà lĩnh
vực sản xuất nông nghiệp là một ngành kinh tế lấy đất đai làm tư liệu sản xuất
thì mỗi mục đích sử dụng đất có những yêu cầu nhất định mà đất đai cần đáp
ứng. Việc lựa chọn, so sánh các kiểu sử dụng đất hoặc cây trồng khác nhau
phù hợp với điều kiện đất đai là đòi hỏi của người sử dụng đất, các nhà làm
quy hoạch, để từ đó có những quyết định đúng đắn, phù hợp trong việc sử
dụng đất mang lại hiệu quả kinh tế và bền vững. Vì vậy, đánh giá mức độ
thích hợp tài nguyên đất đai phục vụ phát triển sản xuất nông nghiệp là một
việc làm tất yếu của bất kỳ một quốc gia, một vùng lãnh thổ hay tại một địa
phương nào đó là rất cần thiết.
Tình hình thực tế ở nước ta cho thấy, việc quản lý và sử dụng đất còn
nhiều bất cập. Đất đai nói chung và đất nông nghiệp nói riêng được quản lý và
sử dụng chủ yếu dựa vào kinh nghiệm của người dân và phụ thuộc vào thời
tiết khí hậu. Ngoài ra, việc canh tác cây trồng ít quan tâm đến bảo vệ và cải
tạo đất đai đã làm cho chất lượng đất ngày càng bị suy giảm nghiêm trọng. Vì
vậy, việc nghiên cứu đánh giá hiện trạng đất đai hợp lý, bền vững và đạt hiệu
quả cao theo hướng sản xuất hàng hóa đang được quan tâm nghiên cứu trên
phạm vi cả nước và từng vùng.


về đất đai ở trên địa bàn xã.
- Xác định các loại hình sản xuất nông nghiệp nhằm mang lại hiệu quả
cao trong việc sử dụng đất nông nghiệp, phục vụ cho phát triển bền vững.
- Đề xuất hướng sử dụng đất theo hướng bền vững.

2


1.3. YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI
- Đánh giá đúng, khách quan trung thực, toàn diện hiện trạng sử dụng
đất nông nghiệp.
- Các phương án đánh giá cần phải xây dựng trên cơ sở điều tra số liệu,
phân tích cụ thể đảm bảo tính khoa học.
- Bước đầu đề xuất các giải pháp để sử dụng đất có hiệu quả và
bền vững, có tính khả thi cao.
- Sử dụng tổng hợp các phương pháp điều tra đảm bảo độ chính xác của
số liệu.
- Nội dung đề tài có thể áp dụng vào thực tế.

3


PHẦN THỨ HAI
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN ĐÁNH GIÁ ĐẤT
2.1.1. Các khái niệm liên quan
2.1.1.1. Khái niệm về đất đai
Trong phạm vi nghiên cứu về sử dụng đất, đất đai được nhìn nhận như
một nhân tố sinh thái (FAO, 1976). Trên quan điểm nhìn nhận của FAO thì
đất đai bao gồm tất cả các thuộc tính sinh học và tự nhiên của bề mặt trái đất

trưởng và phát triển.
- Đánh giá đất đai là sự phân chia có tính chất chuyên canh về hiệu suất
của đất do những dấu hiệu khách quan (khí hậu thời tiết, thủy văn, thảm thực
vật tự nhiên, hệ động vật tự nhiên…) và thuộc tính của chính đất đai tạo nên.
- Đánh giá đất đai chỉ có ý nghĩa trong lĩnh vực một vùng có điều kiện
tự nhiên (trừ yếu tố đất), điều kiện kinh tế xã hội như nhau.
- Theo FAO (1976) đánh giá đất đai là quá trình so sánh đối chiếu
những tính chất vốn có của vạt/khoanh đất cần đánh giá với những tính chất
đất đai mà loại hình sử dụng đất yêu cầu.
Trong sản xuất nông nghiệp, việc đánh giá đất nông nghiệp được dựa
theo các yếu tố đánh giá đất với những mức độ khác nhau. Mức độ khác nhau
của các yếu tố đánh giá đất được tính toán dựa trên những cơ sở khách quan,
phản ánh các thuộc tính của đất và mối tương quan giữa chúng với năng suất
cây trồng trong nhiều năm. Nói cách khác, đánh giá đất đai trong sản xuất
nông nghiệp thường dựa vào chất lượng (độ phì tự nhiên và độ phì hữu hiệu)
của đất và mức sản phẩm mà độ phì đất tạo nên. [2]
Trong đánh giá đất đai có hai khái niệm cụ thể như sau:
- Đánh giá tiềm năng sử dụng đất đất đai: Là việc phân chia hay phân
hạng đất đai thành các nhóm dựa trên các yếu tố thuận lợi hay hạn chế trong
sử dụng như độ dốc, độ dày tầng đất, đá lẫn, tình trạng xói mòn, ngập úng,
khô hạn, …Trên cơ sở đó có thể lựa chọn những kiểu sử dụng đất phù hợp.
- Đánh giá mức độ thích hợp đất đai: Là quá trình xác định mức độ
thích hợp cao hay thấp của các kiểu sử dụng đất cho một đơn vị đất đai và
tổng hợp cho toàn khu vực dựa trên so sánh yêu cầu kiểu sử dụng đất với đặc
điểm các đơn vị đất đai.

5


2.1.1.3. Khái niệm về loại hình sử dụng đất (LUT)


6


- Những yếu tố đánh giá đất chủ yếu là:
+ Loại đất theo phát sinh.
+ Những số liệu phân tích về tính chất đất (tính chất hóa học,
tính chất lý học và các dấu hiệu khác).
- Việc lựa chọn các yếu tố đánh giá đất cần được hoàn thiện để phù hợp
với điều kiện khí hậu, điều kiện kinh tế - xã hội của vùng. [2]
b/ Luận điểm đánh giá đất của Rozop và cộng sự
Tại hội nghị Quốc tế về Đánh giá đất lần thứ 10 tổ chức tại Matscơva
(1974), một luận điểm mới về đánh giá đất của Rozop và cộng sự đã được
trình bày và nhất trí cao. Nội dung luận điểm của Rozop bao gồm những
điểm sau:
- Đánh giá đất phải dựa vào các vùng địa lý, thổ nhưỡng khác nhau có
các yếu tố đánh giá đất khác nhau.
- Đánh giá đất phải dựa vào đặc điểm của cây trồng.
- Cùng một loại cây trồng, cùng một loại đất nhưng không thể áp dụng
hoàn toàn những tiêu chuẩn đánh giá đất của vùng này cho vùng khác.
- Đánh giá đất phải dựa vào trình độ thâm canh.
- Có một mối tương quan chặt chẽ giữa chất lượng đất và năng suất
cây trồng.
Trường hợp không có sự tương quan giữa năng suất cây trồng và chất
lượng đất là do:
+ Trình độ thâm canh khác nhau.
+ Trong quá trình sản suất, tiềm năng của đất chưa có điều kiện
thuận lợi để biểu hiện cụ thể bằng năng suất. [2]
c/ Luận điểm đánh giá đất của Pháp
Theo Đôlômông, khả năng của đất ảnh hưởng rất lớn đến đặc tính dinh

liên quan đến năng suất cây trồng là độ phì nhiêu của đất. Phương pháp này
có tác dụng tốt đối với việc đánh giá đất một cách tổng quát. Khi áp dụng
đánh giá cho các tiểu vùng cụ thể thì còn mắc phải những hạn chế nhất định.
Năm 1970, nhiều nhà khoa học đất trên thế giới đã cùng nhau nghiên cứu để
đưa ra một phương pháp đánh giá đất có tính khoa học và thống nhất các
phương pháp hiện tại. Năm 1972 tổ chức lương thực thế giới (FAO) đã phác
thảo “ Đề cương đánh giá đất” và công bố vào năm 1973. Năm 1975, Hội
nghị đánh giá đất ở Rome dự thảo đề cương đánh giá đất của FAO, được các
nhà khoa học đất hàng đầu bổ sung và công bố vào năm 1976 (Khung đánh
giá đất – Frameword for Evaluation). Tài liệu này đã được nhiều nước nghiên
cứu và ứng dụng cho đến ngày nay.

8


Theo FAO, việc đánh giá đất cho các vùng sinh thái hoặc các vùng lãnh
thổ khác nhau là nhằm tạo ra một sức sản xuất mới, bền vững, ổn định và hợp
lý. Vì vậy khi đánh giá đất được nhìn nhận như là “một vạt đất xác định về
mặt địa lý, là một diện tích bề mặt của trái đất với những thuộc tính tương đối
ổn định hoặc thay đổi có tính chất chu kỳ có thể dự đoán được của môi trường
xung quanh nó như không khí, loại đất, điều kiện địa chất, thủy văn, động
thực vật, những tác động trước đây và hiện nay của con người, ở chừng mực
mà những thuộc tính này có ảnh hưởng đáng kể đến việc sử dụng vạt đất đó
trong hiện tại và trong tương lai”.
Như vậy, theo luận điểm này, đánh giá đất phải được xem xét trên
phạm vi rất rộng, bao gồm cả không gian và thời gian, cần xem xét cả điều
kiện kinh tế, tự nhiên và xã hội. Cũng theo luận điểm này thì những tính chất
đất có thể đo lường hoặc ước lượng, định lượng được. Vấn đề quan trọng là
cần lựa chọn chỉ tiêu đánh giá đất thích hợp, có vai trò tác động trực tiếp và
có ý nghĩa đối với vùng nghiên cứu. [2]

Năm 1954, đất nước ta chia làm hai miền: Ở miền Bắc cùng với công
cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, việc đánh giá đất đai bắt đầu được nghiên
cứu, chủ yếu là việc nghiên cứu ứng dụng phương pháp đánh giá đất của Liên
Xô cũ theo trường phái Đocutriev.
Ở thập kỷ 70 Nguyễn Văn Thân (Viện thổ nhưỡng nông hóa) đã tiến
hành nghiên cứu phân hạng đất với một số cây trồng trên một số loại đất. Sau
đó những tiêu chuẩn xếp hạng ruộng đất được xây dựng và thực hiện ở Thái
Bình năm 1980 – 1982.
Vào đầu những năm 1990, nước ta tiến hành nghiên cứu ứng dụng
phương pháp đánh giá đất đai của FAO trong dự án quy hoạch tổng thể
ĐBSCL năm 1990 của Phân viện quy hoạch và thiết kế nông nghiệp.
Từ năm 1992 đến nay, phương pháp đánh giá đất đai của FAO bắt đầu
được thực hiện nhiều ở nước ta. Đánh giá đất đai theo FAO được triển khai
rộng khắp ở nhiều mức độ chi tiết và tỷ lệ bản đồ khác nhau. Từ việc đánh giá
đất đai cho 9 vùng sinh thái Việt Nam của Phạm Dương Hưng, Công Phò, Bùi
Thị Ngọc Duy ở bản đồ tỷ lệ 1: 250000, tới đánh giá đất cấp tỉnh trên bản đồ
1: 100000, 1:50000, cấp huyện 1: 25000 và một số dự án nhỏ 1: 10000.
Đến nay, nước ta đã phân chia toàn bộ đất đai thành 6 hạng từ hạng I
đến hạng VI, với 3 cấp độ thích nghi. Rất thích hợp (S1), thích hợp (S2) và ít
thích hợp (S3), không thích hợp (N). Trong đó chia ra đất không thích hợp
hiện tại (N1), đất không thích hợp vĩnh viễn (N2). [2]

10


2.2. QUY TRÌNH ĐÁNH GIÁ ĐẤT
2.2.1. Các nguyên tắc đánh giá đất
- Đánh giá đất tập trung cho một số cây trồng chính: Lúa và các loại
cây lương thực khác, cây công nghiệp ngắn ngày và dài ngày, cây ăn quả…
- Đánh giá đất dựa vào điều kiện tự nhiên của đất và không đề cập đến

- Điều tra, phỏng vấn trực tiếp nông dân và cán bộ địa phương về hiệu
quả kinh tế sử dụng đất đai theo mẫu phiếu điều tra của Viện Quy hoạch và
Thiết kế nông nghiệp.
- Xem xét các tác động ảnh hưởng tới môi trường, mức độ và nguyên
nhân gây thoái hóa hoặc ô nhiễm môi trường trong khu vực điều tra, thu thập
các số liệu ảnh hưởng đã có. Nếu cần thiết thì lấy mẫu đất, mẫu nước hoặc
nông sản để phân tích theo quy định chuyên ngành.
- Báo cáo sơ bộ kết quả điều tra dã ngoại với cơ sở để tranh thủ sự tham
gia góp ý của cán bộ, nông dân địa phương.
2.2.3.3. Bước nội nghiệp (tổng hợp, xây dựng tài liệu chính thức)
- Xác định và lựa chọn loại hình sử dụng đất đai (LUTs).
- Xây dựng bản đồ đơn vị đất đai (LMUs).
- Phân tích hiệu quả kinh tế xã hội trong sử dụng đất đai:
+ Các chỉ tiêu kinh tế cần phân tích: Đầu tư cơ bản, tổng thu nhập,
thu nhập thuần, giá trị ngày công lao động, hiệu suất đồng vốn.
+ Các chỉ tiêu xã hội cần phân tích: Đảm bảo an toàn lương thực,
gia tăng lợi ích của người nông dân; đáp ứng mục tiêu chiến lược phát triển
kinh tế của vùng; thu hút nhiều lao động, giải quyết công ăn việc làm cho nông
dân; góp phần định canh, định cư và chuyển giao tiến bộ khoa học – kỹ thuật
vào sản xuất; tăng cường sản phẩm hàng hóa xuất khẩu.
+ Các chỉ tiêu phân tích được đánh giá định lượng.
- Phân tích tác động môi trường: Phân tích tác động môi trường là yêu
cầu bắt buộc trong đánh giá và sử dụng đất đai. Đó là việc xem xét thực trạng
và nguyên nhân xảy ra sự suy thoái môi trường, nhằm loại trừ các loại sử
dụng có khả năng gây ra thảm họa về môi trường sinh thái trong và
ngoài vùng.
- Phân hạng mức độ thích hợp đất đai.
+ Tổng hợp kết quả phân hạng đất đai.
+ Tổ hợp các kiểu thích hợp đất đai.
+ Xây dựng bản đồ phân hạng thích hợp đất đai.

triển để điều chỉnh.
- Chính thức đề xuất sử dụng đất đai.
- Viết báo cáo đánh giá phân hạng đất đai. [6]
2.2.4. Ý nghĩa của các công đoạn đánh giá hiện trạng sử dụng đất
- Công đoạn đánh giá đất đai giúp chúng ta biết được một cách tổng
quát toàn bộ tính chất của một loại hình nào đó về đất để sử dụng tốt cho cây
trồng và các ngành kinh tế quốc dân nói chung.

13


- Công đoạn đánh giá đất đai là gắn liền đánh giá đất đai và quy hoạch
sử dụng đất đai, coi đánh giá đất đai là một phần của quá trình quy hoạch sử
dụng đất đai.
- Công đoạn đánh giá đất đai có ý nghĩa khoa học là kết quả nghiên cứu
góp phần về cơ sở lý luận cho phương pháp đánh giá đất theo FAO ứng dụng
vào điều kiện cấp xã của nước ta nhằm phục vụ cho quy hoạch sử dụng đất
hợp lý.
- Công đoạn đánh giá đất đai có ý nghĩa thực tiễn là kết quả nghiên cứu
của đề tài phản ánh mức độ thích hợp của một đơn vị đất đai đối với mỗi loại
hình sử dụng đất hiện tại, từ đó có hướng khai thác sử dụng hợp lý trong
tương lai.
2.3. NỘI DUNG ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT
2.3.1. Đánh giá loại hình sử dụng đất đai
Loại hình sử dụng đất đai được xác định thống nhất trong cả nước. Sau
khi điều tra phân loại thực trạng sử dụng đất đai, tùy thuộc vào các loại hình
sử dụng đất sẽ đánh giá các chỉ tiêu:
- Tỷ lệ (%) diện tích so với toàn bộ quỹ đất, tổng diện tích đất đang sử
dụng và diện tích của các loại đất chính.
- Đặc điểm phân bố các loại đất trên địa bàn lãnh thổ.

Diện tích đất nông nghiệp
* Sản lượng của đơn vị diện
tích đất nuôi trồng thủy sản =

Sản lượng sản phẩm thủy sản
Diện tích đất nuôi trồng thủy sản

2.3.4. Đánh giá tính bền vững trong sử dụng đất đai
* Bền vững về kinh tế: là chỉ tiêu mô tả mối quan hệ giữa lợi ích mà
người sử dụng đất nhận được và chí phí bỏ ra để nhận được lợi nhuận đó. Đối
với những hộ sản xuất kinh doanh có hiệu quả cao thì hiệu quả kinh tế là một
nhân tố để thúc đẩy sản xuất phát triển. Bền vững về kinh tế được đánh giá
thông qua các chỉ tiêu sau:
- Tổng giá trị sản xuất (GO): Là toàn bộ giá trị của cải vật chất và dịch
vụ được tạo ra trong sản xuất trong một thời gian nhất định thường là một năm.

15


- Chi phí trung gian (IC): bao gồm các chi phí vật chất và dịch vụ được
sử dụng trong quá trình sản xuất.
- Giá trị gia tăng (VA): là kết quả cuối cùng sau khi trừ đi chi phí trung
gian của hoạt động sản xuất, kinh doanh nào đó. Đây là chỉ tiêu quan trọng để
đánh giá hiệu quả sản xuất ( VA=GO-IC).
* Bền vững về mặt xã hội: Để đánh giá hiệu quả sử dụng đất, ngoài
việc xác định hiệu quả kinh tế mang lại thì cần phải xác định hiệu quả xã hội
về việc giải quyết công ăn việc làm, nâng cao thu nhập, khả năng thu hút
lao động.
* Bền vững về mặt môi trường: Trong quá trình sản xuất để nâng cao
năng suất sản phẩm thì con người tìm mọi cách tác động một cách không hợp

- Điều tra, nghiên cứu phân tích điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội
của xã.
- Đánh giá những thuận lợi và khó khăn về điều kiện tự nhiên, kinh tếxã hội của xã.
- Tìm hiểu và đánh giá hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp của xã.
- Đề xuất một số giải pháp sử dụng đất bền vững.
3.4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.4.1. Phương pháp điều tra thu thập, số liệu, tài liệu
- Thu thập và xử lý số liệu: điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã
Sen Thủy qua các báo cáo của UBND xã.
- Điều tra, thu thập số liệu thông qua điều tra nông hộ và phỏng vấn cán
bộ xã.
3.4.2. Phương pháp khảo sát thực địa
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi đã tiến hành đi khảo sát thực địa
tại địa phương nhằm tìm hiểu về tình hình sản xuất, hình thức canh tác của
các loại cây trồng, xem xét về hiện trạng sử dụng đất, sự phân bố các hạng đất
để làm cơ sở cho việc đánh giá hiện trạng sử dụng đất của xã.

17


3.4.3. Phương pháp phân tích SWOT (Strenght, Weekness, Opportunity,
Threat/Risk)
Dựa trên sự phân tích về điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, rủi ro của một
loại hình sử dụng đất để lựa chọn loại hình sử dụng đất phù hợp.
3.4.4. Phương pháp xử lý nội nghiệp
Sau khi điều tra, thu thập số liệu ở các nguồn khác nhau, chúng tôi đã
tiến hành xử lý, tính toán để bảo bảo tính chính xác và thống nhất.

18


tháng 10, 11 thường chịu ảnh hưởng của bão, đây cũng là thời gian xảy ra lũ
lụt trên toàn xã, thời gian gần đây chịu ảnh hưởng của rét đậm, rét hại nên gây

19


ra nhiều khó khăn cho đời sống của người dân trong toàn xã. Lượng mưa lớn
nhưng phân bố không đều giữa các tháng và các năm. Tổng lượng mưa bình
quân hàng năm từ 2000 - 2500 mm.
- Mùa khô thường từ tháng 4 đến tháng 8, mấy năm nay xuất hiện từ
cuối tháng 1. Đặc biệt, vào tháng 5 và tháng 6 có sự xuất hiện của gió Lào gây
ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt cũng như sản xuất của người dân.
Nhiệt độ trung bình năm của xã là 240C. Nhiệt độ cao nhất trong năm
của xã là 390C vào tháng 7. Nhiệt độ thấp nhất trong năm của xã là 11 0C vào
tháng 2. Với độ ẩm trung bình năm là 80%. [15]
4.1.1.4. Tài nguyên đất
Do cấu trúc của địa hình nên đất đai của xã Sen Thuỷ được chia làm ba
loại chính.
- Vùng đồi núi chủ yếu là đất feralit đỏ vàng phát triển trên đá sét và
biến chất, tầng đất trung bình, thuận lợi cho trồng cây lâm nghiệp như thông,
keo các loại,…
- Vùng đồng bằng ở triền dốc phía tây của xã chủ yếu là đất nâu vàng
trên nền phù sa cổ, phù hợp cho trồng cây công nghiệp dài và ngắn ngày như
sắn, lạc, cây cao su… Ngoài ra, ở phía Đông có đất cồn cát trắng vàng và đất
cát điển hình. Đây là loại đất khai thác chưa hiệu quả, chủ yếu sử dụng để
trồng các loại sắn, khoai lang, ….
- Vùng đồng bằng thường hay bị ngập lũ vào tháng 9, 10, 11 hàng năm
chủ yếu là đất thịt pha lẫn ít phù sa, tầng đất từ trung bình đến dày, thuận lợi
cho trồng lúa và cây rau màu các loại…
4.1.1.5. Tài nguyên khoáng sản

82,95
100,00
Đất rừng sản xuất
5.668,45
75,30
90,77
Đất rừng phòng hộ
576,00
7,65
9,23
Nguồn: [14]
Tổng diện tích đất lâm nghiệp của toàn xã tương đối lớn với 6.244,45
ha, trong đó diện tích đất rừng sản xuất là 5.668,45 ha, đất rừng phòng hộ là
576,00 ha. Toàn bộ diện tích này chủ yếu là trồng cây keo lai, keo lá tràm và
một số trồng thông, phân bố rộng khắp trên các sườn đồi tương đối dốc. Tỷ lệ
che phủ ước đạt 83%. Công tác quản lý nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp,
công tác trồng rừng, chăm sóc, bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng
được các cấp, các ngành và chủ rừng quan tâm. Xã đã tiến hành bàn giao đất
trước đây do lâm trường cho 7 thôn quản lý với diện tích 420 ha, đã chuyển
đổi một số diện tích đất lâm nghiệp sang trồng cây cao su và các loại cây khác
có giá trị kinh tế cao hơn. Diện tích trồng mới cao su năm 2008 là 22 ha, diện
tích trồng rừng tập trung là 70 ha, diện tích trồng cây phân tán là 50 ha. Sản
lượng khai thác nhựa thông ước tính 25 tấn. [12], [13], [14].
4.1.1.8. Thảm thực vật
Thảm thực vật trên địa bàn xã tương đối đa dạng. Cơ cấu cây trồng
nông nghiệp chính bao gồm các loại cây: lúa, khoai lang, sắn, lạc, ngô, đậu

21



gồm 5556 người. Trong đó có 2788 nữ, chiếm 50,18% tổng dân số của xã, có
2768 nam, chiếm 49,82% tổng dân số của xã, bình quân có 4,36 người/hộ.

22


Mật độ dân số trung bình là 73,80 người/km2. Tỷ lệ gia tăng dân số tự nhiên
là 0,89%, tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên là 20,0%.
Bảng 2: Tình hình dân số xã Sen Thủy năm 2008
Chỉ tiêu
Tổng số dân
Số nam giới
Số nữ giới
Tỷ lệ gia tăng dân số

Đơn vị tính
Người
Người
Người
%

Năm 2008
5556
2768
2788
0,89

Nguồn: [11], [12], [13]
b/ Lao động và việc làm
Bảng 3: Lao động và việc làm xã Sen Thủy năm 2008


23


c/ Hệ thống điện
Tính đến cuối năm 2008 các thôn trong toàn xã đều sử dụng điện, số hộ
dùng điện đạt 100%. Với tổng chiều dài 13 km đường trung áp 0,4 KVA và
29 km đường hạ thế 220V. Bao gồm 7 trạm biến áp với tổng dung lượng
1.440 KVA từng bước nâng cao chất lượng cung cấp cho sinh hoạt và sản
xuất. Tuy nhiên, do xây dựng đã lâu, vốn chủ yếu do nhân dân tự đóng góp và
một số tập thể ở trong xã nên việc xây dựng không đồng bộ. Hiện nay đường
dây xuống cấp nghiêm trọng dẫn đến hao hụt điện năng, xảy ra sự cố mất điện
làm ảnh hưởng đến sản xuất và sinh hoạt của bà con trong toàn xã. [12], [13]
d/ Cơ sở chế biến và thu mua nông sản
Hiện nay trên địa bàn xã vẫn chưa có cơ sở chế biến quy mô lớn và thu
mua nông sản. Nhưng trên địa bàn xã đã có 10 máy xay xát gạo phục vụ nhu
cầu cuộc sống hiện tại của bà con trong toàn xã. [12], [13]
4.1.2.3. Trình độ sản xuất của người dân
Trên địa bàn xã, phần lớn người dân sản xuất chủ yếu dựa vào kinh
nghiệm. Trong những năm gần đây, thông qua các hoạt động nâng cao năng
lực của một số dự án 150 người đã được tham gia các lớp tập huấn kĩ thuật
chăn nuôi. [12], [13]
4.1.2.4. Ngành nghề dịch vụ
Hiện nay trên địa bàn xã có 136 hộ kinh doanh lớn và nhỏ, thu hút 408
lao động. Có 17 xe ô tô vận tải, 3 xe khách Bắc – Nam, một xe du lịch, một xe
con. Có 2 cơ sở là doanh nghiệp tư nhân phục vụ cho mục đích xây dựng.
Các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp khác như các cơ sở sản xuất mộc,
gò hàn, sản xuất vật liệu xây dựng tiếp tục phát triển và có những bước
chuyển biến tích cực, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống người dân.
Nguồn: [12], [13]

thu nhập.
b/ Khó khăn
- Xã Sen Thuỷ có mức sống và thu nhập chỉ đạt mức trung bình. Đây là
một nguyên nhân hạn chế khả năng đầu tư của người dân vào sản xuất và
nâng cao năng suất cây trồng, con vật nuôi.
- Tuy nguồn lao động xã dồi dào nhưng phần lớn là lao động trong
ngành nông nghiệp. Trong sản xuất nông nghiệp chủ yếu là kinh nghiệm đúc
kết được, trình độ sản xuất không cao, khả năng áp dụng tiến bộ khoa học kỹ
thuật vào sản xuất còn nhiều hạn chế.

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status