quá trình xây dựng, rèn luyện lực lượng cách mạng của đảng cộng sản đông dương trong thời kì 1939 1945 tiến tới tổng khởi nghĩa tháng tám năm 1945 - Pdf 35

M

C UYÊ

C

S

C Ấ

Ề TRẠ

È



SU

Ù G VƢƠ G

Tên chuyên đề: Quá trình xây dựng, rèn luyện lực lượng cách
mạng của Đảng Cộng sản Đông Dương trong thời kì 1939-1945
tiến tới Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945.

THÁNG 5-2015

0


ỤC ỤC
P Ầ


TKN

Tổng khởi nghĩa

LLVT

Lực lượng vũ trang

VNTTGPQ

Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân

2


P Ầ
. Í DO C Ọ

Ở ẦU

Ề TÀ

Lịch sử mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta đã
chứng minh một chân lý: để đánh thắng được kẻ thù xâm lược, giành lại nền
độc lập cho tổ quốc và cuộc sống tự do, hoà bình cho nhân dân, thì ngoài sức
mạnh tinh thần như lòng yêu nước, ý chí căm thự giặc, yêu chuộng hoà bình
cần có sức mạnh lực lượng quần chúng nhân dân. Nếu kết hợp được sức
mạnh của hai yếu tố đó thì chúng ta có thể đánh bại được bất kỳ kẻ thù xâm
lược hung mạnh nào. Điều đó đã được chứng minh bằng sự thắng lợi của


Với những lý do trên tôi đã chọn nghiên cứu đề tài “Quá trình xây
dựng, rèn luyện lực lượng cách mạng của Đảng Cộng sản Đông Dương
trong thời kì 1939-1945 tiến tới Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945”
2.

ỤC ÍC

G

Ê CỨU CỦA Ề TÀ

Mục đích nghiên cứu của đề tài nhằm làm sáng tỏ quá trình xây dựng
lực lượng cách mạng của Đảng trong giai đoạn 1939-1945, giúp cho người
đọc, đồng nghiệp, học sinh có cái nhìn toàn diện sâu sắc và đánh giá đúng
hơn, khách quan hơn về công tác xây dựng lực lượng cách mạng của Đảng
và về thắng lợi của Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam.
Đồng thời nghiên cứu đề tài cũng là để rút ra những bài học kinh nghiệm
trong quá trình xây dựng lực lượng cách mạng của Đảng, chuẩn bị cho
những bước phát triển của cách mạng Việt Nam những thời kì lịch sử sau.
3. Ố TƢỢ G, P Ạ VI NGHIÊ CỨU
. . ối tƣợng nghiên cứu
Trên cơ sở xác định mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài,
người viết tập trung vào nghiên cứu 3 vấn đề chính sau:
- Chủ trương của Đảng trong quá trình xây dựng lực lượng chính trị
cách mạng
- Chủ trương của Đảng trong quá trình xây dựng lực lượng vũ trang
cách mạng
- Chủ trương của Đảng trong quá trình xây dựng căn cứ địa cách
mạng

đã có thể phát động được toàn dân khởi nghĩa giành được chính quyền, làm
nên thắng lợi của cuộc cách mạng tháng Tám 1945.
Để có thể tập hợp rộng rãi các tầng lớp, giai cấp trong cuộc đấu tranh
giải phóng dân tộc, một vấn đề được Đảng Cộng sản Đông Dương rất quan
tâm đó là thành lập các mặt trận thống nhất dân tộc.
1.1.1. ặt trận thống nhất dân tộc phản đế ông Dƣơng
Ngày 1-9-1939, Phát xít Đức tấn công Ba Lan. Ngày 3-9-1939, sau
khi không đạt được việc đòi quân Đức rút khỏi Ba Lan, một đồng minh quan
trọng về phía Đông, chính phủ Anh và chính phủ Pháp tuyên chiến với phát
xít Đức. Cùng ngày 3-9-1939, chính phủ Mĩ tuyên bố trung lập.
Khi đẩy nước Pháp vào vòng chiến tranh nhằm tranh giành với bọn
phát xít quyền lợi thực dân trên thế giới, giai cấp thống trị nước Pháp đồng
thời đẩy nhân dân Pháp và nhân dân thuộc địa đến chỗ cùng cực dưới chế độ
phản động.
Chính phủ Đalađiê thi hành chính sách phản động, đàn áp các lược
lượng dân chủ, tiến bộ, phá vỡ Mặt trận nhân dân, đặt Đảng Cộng sản ngoài
vòng pháp luật. Chính phủ Đalađiê đồng thời thi hành chính sách phản động
đối với thuộc địa.
Ở Việt Nam và Đông Dương nói chung, bọn thực dân phản động Pháp
thủ tiêu những quyền lợi mà nhân dân ta giành được trong thời kì Mặt trận
dân chủ, giải tán các đoàn thể quần chúng, các tổ chức dân chủ, trước hết
nhằm tiêu diệt Đảng Cộng Sản Đông Dương. Ngày 28-9-1939, toàn quyền
Đông Dương ra nghị định cấm mọi hoạt động trực tiếp hoặc gián tiếp tuyên
truyền cộng sản, cấm lưu hành tàng trữ mọi tài liệu của Cộng sản…Pháp
đóng cửa nhiều tòa soạn sách báo cách mạng và tiến bộ, củng cố bộ máy kìm
kẹp, bắt giam những chiến sĩ cộng sản, những nhà yêu nước…

5



chống các lực lượng cách mạng, các lực lượng giải phóng dân tộc trên thế
giới. Cuộc chiến tranh do chúng gây ra sẽ gieo rắc đau thương, tang tóc
không sao kể siết cho nhân loại. Nhưng tiền đồ của cách mạng thế giới cũng
rất sáng sủa: “Một thế giới quan minh rực rỡ sẽ thay thế cho cái thế giới tốt
tăm, mục nát này”.
Về tình hình Đông Dương Hội nghị nhận định Đông Dương đang bị
lôi cuốn vào guồng máy chiến tranh do đế quốc gây ra. Phát xít Nhật sẽ xâm
chiếm Đông Dương. Bộ máy cai trị ở Đông Dương đang từng bước phát xít
hóa, một thứ phát xít tàn bạo, và những kẻ đứng đầu bộ máy đó đang mưu
toan thỏa hiệp, đầu hàng phát xít Nhật.
Cuộc chiến tranh đế quốc, chính sách phản động của thực dân Pháp ở
Đông Dương đã đẩy nhân dân đến chỗ cùng cực, đã lay động hầu hết các
giai cấp, các tầng lớp xã hội làm cho mâu thuẫn xã hội vốn sâu sắc giữa đế
quốc Pháp với các tầng lớp nhân dân càng thêm sâu sắc. Nhiệm vụ giải
phóng dân tộc đặt ra cấp thiết “ Những thảm trạng do chiến tranh đế quốc
gây nên sẽ làm cho trình tự cấp tiến hóa và cách mệnh hóa quần chúng hết

7


sức mau chóng…Cuộc khủng hoảng kinh tế chính trị gây nên bởi chiến
tranh đế quốc lần này sẽ nung nấu cách mệnh Đông Dương bùng nổ”.
Xuất phát từ sự phân tích, nhận định tình hình trên đây, Hội nghị đi
đến xác định nhiệm vụ cấp bách nhất và mục tiêu chiến lược lớn nhất của
cách mạng Việt Nam và của cách mạng Đông Dương nói chung là đánh đổ
đế quốc và tay sai, giải phóng các dân tộc khỏi ách đế quốc, dù là Pháp hay
Nhật, làm cho Việt Nam (và Đông Dương) hoàn toàn độc lập. Hội nghị vạch
rõ “ Bước đường sinh tồn của các dân tộc Đông Dương không có con đường
nào khác hơn là con đường đánh đổ đế quốc Pháp, chống lại tất cả ách ngoại
xâm vô luân da trắng hay da vàng để tranh lấy giải phóng dân tộc”.

được mở rộng và có vai trò to lớn trong việc tập hợp, rèn luyện lực lượng
chính trị cách mạng, mở đường đi tới thắng lợi của cách mạng tháng Tám
năm 1945 sau này.
Do đường lối cách mạng có sự chuyển hướng một cách cơ bản đó mà
phương pháp đấu tranh cũng đòi hỏi có sự thay đổi, từ đấu tranh đòi quyền
dân sinh, dân chủ sang đấu tranh trực tiếp đánh đổ chính quyền của đế quốc
tay sai, từ hoạt động hợp pháp và nửa hợp pháp sang hoạt động bí mật và bất
hợp pháp, đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang, khởi nghĩa vũ
trang.
Chủ trương chuyển hướng đấu tranh của Đảng Cộng Sản Đông
Dương tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương tháng 11-1939 đã mở ra
thời kì cách mạng mới- thời kì vận động giải phóng dân tộc. Sự chuyển
hướng đấu tranh đó thể hiện sự nhạy bén sáng tạo của Đảng trong điều kiện
có chiến tranh đế quốc và trong điều kiện nước thuộc địa nửa phong kiến.
Do đó nó không chỉ có giá trị to lớn về mặt thực tiễn mà cả trong lĩnh vực lí
luận, đã bước đầu khắc phục những hạn chế của Luận cương chính trị tháng
10 năm 1930. Đồng thời khẳng tính đúng đắn sáng tạo của bản Cương lĩnh
chính trị đầu tiên của Đảng tháng 2-1930.
1.1.2. ặt trận Việt am ộc lập ồng minh
Năm 1941, Chiến tranh thế giới thứ hai bước sang năm thứ 3 ngày
càng ác liệt.
Sau khi thôn tính hầu hết các nước Tây Âu, phát xít Đức chuẩn bị tấn
công Liên Xô.
Tháng 9-1940, Nhật bản vượt biên giới Việt- Trung đánh chiếm Lạng
Sơn, mở đầu quá trình xâm lược và biến Đông Dương thành thuộc địa và
căn cứ chiến tranh. Khi Nhật vào Đông Dương, Pháp nhanh chóng đầu hàng
và cấu kết với Nhật đàn áp bóc lột nhân dân Đông Dương.
Sự cấu kết giữa hai đế quốc phát xít Pháp – Nhật, chính sách phản
động của chúng ở Đông Dương đã gây hậu quả tai hại đến nền kinh tế đất
nước, đến mọi mặt của đời sống nhân dân…đẩy nhân dân Việt Nam vào tình

Quảng- Cao Bằng) là nơi đầu tiên được Người chọn đặt cơ quan lãnh đạo
cách mạng.
Về đến Tổ quốc, Nguyễn Ái Quốc bắt tay ngay vào việc xây dựng cơ
sở cách mạng, tổ chức quần chúng, chuẩn bị tiến tới Hội nghị Ban Chấp
hành Trung ương Đảng. Tại Pác Bó, người dành nhiều thời gian đi vào quần
chúng, hòa mình với nhân dân các dân tộc Tày, Nùng, Dao, Hoa…tìm hiểu,
giáo dục, giác Ngộ, đoàn kết họ trong đại gia đình Việt Nam. Người tiếp tục
mở lớp huấn luyện chính trị nhằm bồi dưỡng lí luận cách mạng, bồi dưỡng
về kinh nghiệm công tác Đảng, công tác quần chúng. Người còn lược dịch
cuốn Lịch sử Đảng Cộng sản Liên Xô, biên soạn nhiều tài liệu lí luận, kinh
nghiệm chính trị, quân sự để dùng làm tài liệu học tập.
Sau một thời gian chuẩn bị, thay mặt Quốc tế cộng sản Nguyên Ái
Quốc triệu tập hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 8. Hội nghị
họp tại Pắc Bó, từ ngày 10 đến 19-5-1941, do người chủ trì. Tham dự hội
nghị có các đồng chí Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt,
Phùng chí Kiên… cùng một số đại biểu của Xứ ủy Bắc Kì, Trung Kì và một
số đại biểu hoạt động ở nước ngoài.
10


Hội nghị phân tích sâu sắc tình hình thế giới và trong nước. Về tình
hình thế giới, hội nghị nhận định rằng chiến tranh thế giới đang lan rộng,
phát xít Đức đang ráo riết đánh Liên Xô, phát xít Nhật sắp gây ra cuộc chiến
tranh Thái Bình Dương. Từ đó hội nghị đi đến khẳng định: Chiến tranh sẽ
làm cho các nước đế quốc suy yếu, phong trào cách mạng thế giới sẽ phát
triển nhanh chóng, Liên Xô nhất định chiến thắng và cách mạng nhiều nước
nhân đó mà giành được thắng lợi, và “Nếu cuộc chiến tranh đế quốc lần
trước đã đẻ ra Liên Xô – một nước xã hội chủ nghĩa thì cuộc chiến tranh đế
quốc lần này sẽ đẻ ra nhiều nước xã hội chủ nghĩa.”
Hội nghị dồng thời khẳng định cách mạng Việt Nam lần này vẫn coi

Đông Dương cần thiết có một mặt trận dân tộc thống nhất. Ở Việt Nam, hình
thức phù hợp nhất được Nguyễn Ái Quốc đề nghị và được Hội nghị của
Đảng chấp thuận, quyết định thành lập là Mặt trận Việt Nam độc lập đồng
minh, gọi tắt là Việt Minh. Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng
sản Đông Dương lần thứ 8 (5-1941) đã quyết định thành lập Mặt trận Việt
Nam độc lập đồng minh với những tổ chức quần chúng trong mặt trận là
những hội cứu quốc. Mặt trận Việt Minh ra đời nhằm “Liên hiệp hết thảy
các giời đồng bào yêu nước, không phân biệt giàu nghèo, già trẻ , gái trai,
không phân biệt tôn giáo và xu hướng chính trị đặng cùng nhau mưu cuộc
dân tộc giải phóng và sinh tồn”.
Còn ở Lào và Campuchia, Hội nghị của Đảng chủ trương hết sức giúp
đỡ hai nước thành lập mặt trận riêng của mình: Đó là Ai Lào động lập đồng
minh, Cao Miên độc lập đồng minh. Trên cơ sở ra đời ba mặt trận ở ba nước,
tiến tới thành lập mặt trận chung Đông Dương, gọi tắt là Đông Dương độc
lập đồng minh.
Một chủ trương khác, đó là vấn đề mối quan hệ giữa ba dân tộc trên
bán đảo Đông Dương. Do có chung kẻ thù là Pháp Nhật mà trong cuộc đấu
tranh của mình các dân tộc Đông Dương không thể không đoàn kết nhau lại.
Sau khi đánh đuổi được Pháp Nhật thì “Các dân tộc sống trên cõi Đông
Dương sẽ tùy theo ý muốn tổ chức thành liên bang cộng hòa dân chủ hay
đứng riêng thành một dân tộc quốc gia tùy ý”.
“Sự tự do độc lập của các dân tộc sẽ được thừa nhận và coi trọng”.
Riêng đối với nước ta thì Hội nghị chủ trương sẽ thành lập một chính phủ
nhân dân của Việt Nam dân chủ cộng hòa, lấy là cờ đỏ ngôi sao vàng năm
cánh làm lá cờ toàn quốc”.
Một trong những chủ trương quan trọng nhất của Hội nghị lần này là
chủ trương về khởi nghĩa vũ trang. Vấn đề này trước đây, trong các Hội nghị
BCH Trung ương tháng 11/1939 và tháng 11/1940 đã có những dự kiến và
phác họa bước đầu. Nay nhờ cớ kinh nghiệm của các cuộc khởi nghĩa Bắc
Sơn (9-1940), Nam Kì (11-1940) và cuộc Binh biến Đô Lương (1-1941),

nghị BCH Trung ương tháng 11-1939, nhằm thực hiện mục tiêu số một của
cách mạng là giải phóng dân tộc.
Cùng với Hội nghị BCH Trung ương tháng 11-1939, Hội nghị lần thứ
tám năm 1941 có ý nghĩa quyết định trong việc vận động toàn đảng toàn dân
tích cực chuẩn bị cho cách mạng, góp phần quyết định vào thắng lợi của
Cách mạng tháng Tám năm 1945.
Mặt khác, những quyết định của Hội nghị đã khắc phục hoàn toàn
những hạn chế của bản Luận cương chính trị tháng 10 nă 1930, khẳng định
tính đúng đắn sáng tạo của bản Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng.
2.2. Kết hợp chặt chẽ việc xây dựng với rèn luyện lực lƣợng chính trị
2.2.1. Khởi nghĩa Bắc Sơn, am Kì và cuộc binh biến ô ƣơng
Chiến tranh đế quốc với sự đầu hàng và chính sách phản động của
Pháp ở Đông Dương đã thúc đẩy quá trình cách mạng hóa nhân dân Đông
Dương, đưa đến sự bùng nổ mạnh mẽ của các phong trào đấu tranh.
Khởi nghĩa Bắc Sơn

13


Đêm 22-9-1940, Nhật tiến công Lạng Sơn. Quân Pháp ở Đông Dương
tuy Đông, nhưng chỉ sau vài ngày chiến đấu đã tan rã, phần lớn đầu hàng,
phần còn lại tháo chạy về Thái Nguyên, qua đường Bắc Sơn. Chính quyền
thực dân ở những vùng này lung lay.
Nhân cơ hội đó, nhân dân Bắc Sơn dưới sự lãnh đạo của các Đảng bộ
địa phương, nổi dậy chặn đánh tàn quân Pháp, tước vũ khí của chúng để
trang bị cho mình. Đêm 27-9-1940, nhân dân Bắc Sơn nổi dậy chiếm đồn
Mỏ Nhài. Chính quyền địch ở Bắc Sơn tan rã. Chính quyền cách mạng thành
lập. Nhân dân hoàn toàn làm chủ châu lị. Cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn giành
thắng lợi nhanh chóng.
Để đối phó với cuộc nổi dậy ở Bắc Sơn, Pháp-Nhật đi đến hòa hoãn.

cuộc khởi nghĩa xứ ủy Nam Kì cử đại biểu ra Bắc xin chỉ thị của Trung
ương.
Khởi nghĩa Nam kì dự định nổ ra cuối tháng 11-1940, nghĩa là một
tháng sau thất bại của cuộc khởi nghĩa mở đầu thời kì- khởi nghĩa Bắc Sơn
cho thấy Hội nghị BCH Trung ương Đảng Cộng Sản Đông Dương đã dự
đoán chính xác tình hình cách mạng Đông Dương là sẽ phát triển mau lẹ.
Nhưng mặt khác qua khởi nghĩa Bắc Sơn cũng cho thấy sự non kém của lực
lượng cách mạng. Tình hình đó đòi hỏi Đảng có những chủ trương để phát
huy những điều kiện thuận lợi, khắc phục những khó khăn, yếu kém.
Tháng 11-1940, Hội nghị BCHTW Đảng Cộng Sản Đông Dương
được triệu tập tại làng Đình Bảng (Bắc Ninh) do đồng chí Trường Chinh chủ
trì.
Hội nghị nhận định cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai ngày càng lan
rộng và ác liệt, Pháp bại trận. Nhật sẽ nhân cơ hội này mở rộng chiến tranh
chiếm các thuộc địa của Mĩ, Anh, Pháp, Hà Lan ở Viễn Đông. Cuộc chiến
tranh đế quốc có thể chuyển thành chiến tranh giữa phát xít với Liên Xô.
Tình hình sẽ gay go, quyết liệt, nhưng nhất định Liên Xô và cách mạng thế
giới sẽ chiến thắng lực lượng phát xít.
Hội nghị khẳng định chủ trương chuyển hướng đấu tranh, giương cao
ngọn cờ giải phóng dân tộc, tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất của Hội
nghị BCHTW Đảng Cộng Sản Đông Dương tháng 11-1939 là đúng và nhận
định kẻ thù chính của cách mạng Đông Dương là Pháp –Nhật.
Hội nghị nhận định sự câu kết giữa Pháp và Nhật làm sâu sắc thêm
mâu thuẫn giữa chúng với các dân tộc Đông Dương, làm tăng nỗi thống khổ
của nhân dân. Chống lại Pháp-Nhật, nhân dân ta dùng đến cả hình thức cao,
đấu tranh chính trị, đấu tranh vũ trang, tuy chưa trở thành hình thức đấu
tranh phổ biến quyết liệt. Nhưng “một cao trào cách mạng nhất định sẽ nổi
dậy. Đảng phải chuẩn bị để giành lấy cái sự mạng thiêng liêng lãnh đạo các
dân tộc bị áp bức Đông Dương võ trang bạo động giành lấy quyền tự do độc
lập”.

vũ trang và một cuộc binh biến. Ba cuộc nổi dậy không thành nhưng đã nêu
cao tinh thần quật khởi và quyết tâm cao của nhân dân ta không bỏ lỡ cơ hội
đứng lên đánh Pháp, đuổi Nhật, giáng những đòn nặng nề đầu tiên vào
chúng, trực tiếp chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền
trong toàn quốc vào tháng Tám năm 1945. “Đó là những tiếng súng báo hiệu
của cuộc khởi nghĩa toàn quốc, là bước đầu đấu tranh bằng võ lực của các
dân tộc Đông Dương”.
2.2.2. Tiếp tục xây dựng lực lƣợng chính trị cách mạng
Ngày 6-6-1941, sau kết thúc Hội nghị lần thứ Tám BCHTW Đảng
Cộng Sản Đông Dương, Nguyễn Ái Quốc gửi thư toàn dân đoàn kết đánh
đuổi Pháp- Nhật. Trong thư Người viết:

16


“Nay cơ hội giải phóng đã đến rồi, đế quốc Pháp bên Âu đã không thể
tự cứu, càng không thể cứu bọn thực dân Pháp ở ta. Đế quốc Nhật đã bị sa
lầy ở Trung Hoa, lại đang gay go với Anh, Mĩ. Hiện thời muốn đánh Pháp,
Nhật, ta chỉ cần một điều: toàn dân đoàn kết”.
“ Trong lúc quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy, chúng ta
phải đoàn kết lại đánh đổ bọn đế quốc và bọn Việt gian đặng cứu giống nòi
ra khỏi nước sôi lửa nóng”.
“Việc cứu nước là việc chung, ai là người Việt Nam đều phải kề vai
gánh vác một phần trách nhiệm. Người có tiền góp tiền, người có của góp
của, người có sức góp sức, người có tài năng góp tài năng”.
Thực hiện nghị quyết của Đảng, đáp lời kêu gọi cứu nước khẩn thiết
của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, toàn dân ta đoàn kết một lòng ra sức xây dựng
lực lượng cách mạng, gấp rút chuẩn bị sẵn sàng những điều kiện chủ quan
tiền lên cuộc khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền khi có những điều kiện
khách quan thuận lợi. Đó là những nhiệm vụ cấp bách của cách mạng, thực

kiều ở Đông Dương có tinh thần chống phát xít.
Ra sức phát triển báo chí của Đảng và Mặt trận: như tờ Giải phóng,
Cờ giải phóng, Cứu quốc, Việt Nam độc lập, chặt xiềng…góp phần quan
trọng vào việc tuyên truyền đường lối chính sách của Đảng, đấu tranh chống
mọi thủ đoạn chính trị văn hoá của địch, thu hút đông đảo quần chúng vào
hàng ngũ cách mạng.
2.2.3 Khởi nghĩa từng phần
Từ sau Hội nghị lần thứ 8 BCH Trung ương Đảng Cộng sản Đông
Dương, mặt trận Việt Minh phát triển mạnh, các đội Cứu quốc quân và Việt
Nam tuyên truyền giải phóng quân ra đời và đẩy mạnh hoạt động.
Năm 1945, chiến tranh thế giới thứ hai đã đi tới những ngày cuối
Ở mặt trận châu Âu, quân đội Liên Xô mở cuộc tiến công về phía
Béclin, lần lượt giải phóng các nước Trung và Đông Âu. Quân Anh - Mĩ đổ
bộ lên đất Pháp, mở mặt trận mới tấn công phát xít Đức, tháng 8- 1944 Pari
được giải phóng.
Ở mặt trận châu Á – Thái Bình Dương, quân Đồng Minh giáng cho
Phát xít Nhật những đòn nặng nề.
Ở Đông Dương, lực lượng Pháp theo phái Đờ Gôn ráo riết hoạt động,
chờ thời cơ phản công quân Nhật Bản, mâu thuẫn đối kháng Nhật- Pháp trở
nên gay gắt. Trước tình hình đó, quân đội Nhật Bản ra tay trước.
Vào 20 giờ ngày 9-3-1945, Nhật đảo chính Pháp...quân Pháp chống
cự yếu ớt ở một vài nơi rồi nhanh chóng đầu hàng. Đông Dương từ chỗ là
thuộc địa của Pháp- Nhật nay trở thành thuộc địa của Nhật.
Đang lúc Nhật đảo chính Pháp, Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp
tại làng Đình Bảng (Từ Sơn- Bắc Ninh). Ngày 12-3-1945, Ban Thường vụ
Trung ương Đảng ra chỉ thị “Nhật- Pháp bắn nhau và hành động của chúng
ta”; Hội nghị quyết định phát động một “Cao trào kháng Nhật cứu nước
mạnh mẽ làm tiền đề cho cuộc tổng khởi nghĩa”.
18


năm 1945.
2. Quá trình xây dựng và phát triển lực lƣợng vũ trang cách mạng
2.1. Từ 939 đến trƣớc 9/ / 945
Quán triệt quan điểm cách mạng bạo lực, Đảng Cộng sản Đông
Dương không chỉ đẩy mạnh xây dựng và phát triển lực lượng chính trị mà
còn không ngừng xây dựng phát triển lực lượng vũ trang cách mạng để tiến
tới cuộc khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền.
19


Tháng 9/1940, Nhật vào Đông Dương, ngày 22/9/40 quân Nhật tràn
qua biên giới Việt –Trung tiến công quân Pháp ở Lạng Sơn. Tàn binh Pháp
thua bỏ chạy qua châu Bắc Sơn. Đảng bộ Bắc Sơn cùng tù chính trị nhà lao
Lạng sơn thoát ra lónh đạo nhân dân KN tước vũ khí quân Pháp, giải tán
chính quyền địch ở địa phương thiết lập quyền làm chủ.Đội du kích Bắc Sơn
ra đời. Đến Hội nghị 11/1940 quyết định duy trì lực lượng vũ trang Bắc Sơn
làm vốn quân sự cho cách mạng. Một bộ phận lực lượng vũ trang khởi
nghĩa, phân tán vào rừng núi để hđ du kích về sau phát triển thành cứu quốc
quân. Đây là lực lượng nòng cốt để xây dựng căn cứ địa Bắc Sơn- Vũ Nhai,
phát triển các đoàn thể cứu quốc trong quần chúng.
Cao Bằng cũng là 1 trung tâm chuẩn bị cho KN, trên cơ sở lực lượng
chính trị phát triển mạnh, các đội tự vệ cứu quốc được thành lập.
Cuối năm 1941, theo chỉ thị của Nguyễn Ái Quốc, 1 đội vũ trang nhỏ
gồm 12 người được thành lập, làm các nhiệm vụ bảo vệ cơ quan đầu não,
giao thông liên lạc và huấn luyện tự vệ cứu quốc.
Cuối năm 1944 HCM về nước (sau khi thoát khỏi nhà tù Tưởng Giời
Thạch), giữa lúc Ủy ban Việt Minh tỉnh Cao Bắc Lạng đang chuẩn bị phát
động 1 cuộc KN ở địa phương, Người quyết định hoãn cuộc KN vì chưa đủ
điều kiện. Người ra bản chỉ thị thành lập đội Việt Nam Tuyên truyền giải
phóng quân (VNTTGPQ), xác định nguyên tắc tổ chức, phương thức hành

nghĩa, thành lập chính quyền cách mạng và đội du kịch Ba Tơ.
4-1945, Hội nghị quân sự cách mạng Bắc kì được triệu tập. Hội nghị
quyết định thống nhất các lực lượng vũ trang, phát triển hơn nữa lực lượng
vũ trang và nửa vũ trang; mở trường đào tạo cấp tốc cán bộ quân sự và chính
trị, tích cực phát triển chiến tranh du kích; xây dựng chiến khu chuẩn bị cho
cuộc tổng khởi nghĩa khi thời cơ đến.
Trong các đô thị, nhất là ở các đô thị lớn như Hà Nội, Huế, Sài Gòn
hoạt động vũ trang tuyên truyền diệt ác trừ gian được đẩy mạnh, tạo điều
kiện phát triển các đoàn thể cứu quốc và xây dựng lực lượng tự vệ cứu quốc.
Tại nhiều chiến khu cm như Trần Hưng Đạo, Quang Trung,.... nhiều
đội du kích chiến khu được thành lập và đẩy mạnh hoạt động tác chiến.
Tháng 6/1945 khu giải phóng Việt Bắc ra đời do những hoạt động
nổi dậy của quần chúng kết hợp với chiến tranh du kích của lực lượng vũ
trang. Đây là căn cứ địa chung của cách mạng.
Nhìn chung trong cao trào kháng Nhật cứu nước lực lượng vũ trang
và bán vũ trang đều phát triển mạnh, với nhiều hình thức hoạt động chủ yếu
là chiến tranh du kích cục bộ, góp phần pt lực lượng và rèn luyện lực lượng
về mọi mặt để tiến lên chớp thời cơ TKN.
2.3. ực lƣợng vũ trang trong TK ( 4/8 đến 28/8/1945)
Ngay sau khi ub KN phỏt đi bản quõn lệnh số 1, ngày 16/8/1945
chấp hành quân lệnh số 1, đội VNTTGPQ xuất phát từ Tân Trào về gp thị xã
Thái Nguyên, mở đầu cho tkn toàn quốc.
Ở một số nơi tuy chưa nhận được lệnh Kn nhưng do thấm nhuần
bản chỉ thị “Nhật- Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” các địa
21


phương đó chủ động phát động cuộc khởi nghĩa gắn liền với những hoạt
động hỗ trợ tích cực của lực lượng vũ trang địa phương, nhất là của các đội
du kích ở các chiến khu…

lượng chính trị, vũ trang và căn cứ địa cách mạng và đây là cơ sở quyết định
để Đảng ta có thể phát động được một cuộc khởi nghĩa vũ trang giành chính
quyền vào năm 1945 lập nên Nước Việt Nam Dân Chủ cộng hòa.
22


P Ầ KẾT UẬ
Từ vấn đề nghiên cứu trên đây chúng ta có thể đi đến kết luận: Cách
mạng tháng Tám năm 1945 thành công là nhờ quá trình chuẩn bị chu đáo về
lực lượng cách mạng của Đảng Cộng sản Đông Dương, kết hợp với điều
kiện khách quan thuận lợi, phát xít Nhật đầu hàng đồng minh không điều
kiện. Tuy nhiên sự chuẩn bị chu đáo về lực lượng cách mạng của Đảng là
nhân tố quyết định. Từ đó có thể khẳng định Cách mạng tháng Tám năm
1945 thành công ở Việt Nam dứt khoát không phải là “một sự ăn may” hay
là do “thời cơ bỏ ngỏ” mà là kết quả của quá trình xây dựng lực lượng cách
mạnh và lãnh đạo quần chúng đấu tranh của Đảng, là kết quả của quá trình
chuẩn bị lâu dài và chớp thời cớ của Đảng.

23


1.
2.
3.
4.


ỆU T A K ẢO
Văn kiện đảng 1930-1945. NXB CTQGHCM. 1995
Hồ Chí Minh. Tuyển tập, NXB ST. H. 1960


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status