Nêu đặc điểm nội dung, bản chất và các hình thức công cụ mệnh lệnh kiểm soát và công cụ kinh tế sử dụng trong công tác quản lý môi trường - Pdf 35

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA ĐÀ NẴNG
KHOA MÔI TRƯỜNG


TIỂU LUẬN MÔN HỌC

KINH TẾ MÔI TRƯỜNG
Đề tài: Nêu đặc điểm nội dung, bản chất và các hình thức công cụ
mệnh lệnh kiểm soát và công cụ kinh tế sử dụng trong công tác
quản lý môi trường. Nhận xét những điểm mạnh, điểm yếu của mỗi
hình thức công cụ và đề nghị những biện pháp để nâng cao hiệu
quả và hiệu lực quản lý cho các công cụ trong điều kiện Việt Nam
hiện nay.
Giáo viên hướng dẫn : TS. LÊ THỊ KIM OANH
Họ và tên học viên

: Nguyễn Thị Ngọc Hân

Chuyên ngành

: Công Nghệ Môi Trường

Lớp

: K23 Cao học Môi trường

Đà Nẵng - 2012


Kinh Tế Môi Trường


thức sản xuất quản lý và bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, do các công cụ quản lý
hiện nay vẫn chưa được hoàn thiện và việc áp dụng còn nhiều lỏng lẻo và chưa
thực sự phù hợp trong điều kiện đất nước cho nên các vấn đề về môi trường vẫn
chưa được giải quyết triệt để.
Trong bài tiểu luận này, tôi được giao nhiệm vụ trình bày về công cụ mệnh lệnh
kiểm soát và công cụ kinh tế và đề xuất những biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả
và hiệu lực quản lý cho các công cụ đó trong điều kiện Việt Nam hiện nay.

HV: Nguyễn Thị Ngọc Hân

Page 3


Kinh Tế Môi Trường

GV: TS. Lê Thị Kim Oanh

Rất mong nhận được sự góp ý chân tình của giáo viên. Xin chân thành cảm ơn!

HV: Nguyễn Thị Ngọc Hân

Page 4


Kinh Tế Môi Trường

GV: TS. Lê Thị Kim Oanh

II. CÁC CÔNG CỤ QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG
II.1. Khái niệm:


HV: Nguyễn Thị Ngọc Hân

Page 5


Kinh Tế Môi Trường

GV: TS. Lê Thị Kim Oanh

Công cụ mệnh lệnh – kiểm soát bao gồm các văn bản về luật quốc tế, luật quốc gia,
các văn bản khác dưới luật (pháp lệnh, nghị định, qui định, các tiêu chuẩn môi
trường, giấy phép môi trường...), các kế hoạch, chiến lược và chính sách môi
trường quốc gia, các ngành kinh tế và các địa phương.


Luật quốc tế về môi trường là tổng thể các nguyên tắc, quy phạm quốc tế

điều chỉnh mối quan hệ giữa các quốc gia, giữa quốc gia và tổ chức quốc tế trong
việc ngăn chặn, loại trừ thiệt hại gây ra cho môi trường của từng quốc gia và môi
trường ngoài phạm vi sử dụng của quốc gia. Cho đến nay đã có hàng nghìn văn
bản luật quốc tế về môi trường mà Việt Nam đã tham gia ký kết nhiều văn bản
trong số đó. Pháp luật quốc tế về bảo vệ môi trường do nhiều nước ký kết hoặc
tham gia không có hiệu lực trực tiếp trên lãnh thổ quốc gia cụ thể. Muốn thi hành
trên lãnh thổ nào đó, các qui phạm của Luật quốc tế về bảo vệ môi trường cần phải
được chuyển hóa thành quy phạm pháp luật quốc gia, nghĩa là Nhà nước phải phê
chuẩn các văn bản này.


Luật môi trường quốc gia là tổng hợp các quy phạm pháp luật, các nguyên



Quy chế là các quy định về thể lệ tổ chức quản lý bảo vệ môi trường, chẳng

hạn như quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan, Bộ, Sở khoa
học công nghệ, Sở tài nguyên môi trường..


Tiêu chuẩn môi trường là các chuẩn mực giới hạn cho phép được quy định

làm căn cứ để quản lý môi trường. Tiêu chuẩn môi trường có quan hệ mật thiết với
sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia. Việc xây dựng tiêu chuẩn môi trường một
mặt dựa trên các quy định đã được kiểm nghiệm thực tế, mặt khác phải có nhiều
căn cứ khoa học, nhằm đảm bảo cho tiêu chuẩn môi trường phù hợp với nhu cầu
bảo vệ sinh thái, đồng thời khả thi về mặt kinh tế, xã hội. Hệ thống tiêu chuẩn môi
trường phản ảnh trình độ khoa học, công nghệ, tổ chức quản lý và tiềm lực kinh tế
xã hội có tính đến dự báo phát triển. Các dạng tiêu chuẩn môi trường:


Tiêu chuẩn môi trường xung quanh: Qui định đặc tính của môi trường tiếp

nhận, ví dụ như nồng độ tối đa của hợp chất nitrat trong nước uống, hay SO2 trong
bầu không khí, hoặc mức độ tối đa trong khu dân cư. Các tiêu chuẩn này hình
thành các mục tiêu môi trường cần đạt được bằng các công cụ chính sách khác
nhau;


Tiêu chuẩn phát thải: Là mức tối đa cho phép xả thải các chất ô nhiễm ra

môi trường, ví dụ mức BOD tối đa được xả vào nước hoặc mức SOx tối đa được

đảm bảo lợi ích hoặc bảo vệ các hoạt động kinh tế khỏi tác động có hại;


Tiêu chí về công nghệ: Tiêu chuẩn có thể dựa trên công nghệ đã có và đang

được áp dụng trong một số nhà máy và dễ dàng được chuyển giao công nghệ đang
có hiện thời; tiêu chuẩn dựa trên cơ sở công nghệ tốt nhất đang có;


Tiêu chí về kinh tế: Làm thế nào chi phí bỏ ra là nhỏ nhất trong điều kiện có

thể; một tiêu chuẩn lý tưởng là tiêu chuẩn mà doanh nghiệp có thể đạt được với chi
phí thấp nhất;


Tiêu chí về chính trị: Khi xác lập công cụ chính sách, người ta đưa ra quyết

định phải đối mặt với một số ràng buộc về chính trị như: tính công bằng, khả năng
cảnh báo, đảm bảo khả năng chấp nhận được và đơn giản.

HV: Nguyễn Thị Ngọc Hân

Page 8


Kinh Tế Môi Trường

GV: TS. Lê Thị Kim Oanh

Chính sách bảo vệ môi trường là những chủ trương, biện pháp mang tính chiến

HV: Nguyễn Thị Ngọc Hân

Page 9


Kinh Tế Môi Trường

GV: TS. Lê Thị Kim Oanh

II.3. Công cụ kinh tế
II.3.1. Công cụ kinh tế
Công cụ kinh tế trong quản lý môi trường có tác động trực tiếp tới thu nhập hoặc
hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh, nhằm ngăn ngừa các tác động
tiêu cực tới môi trường. Công cụ kinh tế có thể tác động trực tiếp đến các nhà sản
xuất dưới dạng thuế môi trường, lệ phí xả thải hoặc trực tiếp vào người tiêu thụ
dưới dạng phí sử dụng. Trong tất cả các trường hợp đó, công cụ kinh tế đều có mục
đích chung là hạn chế chất lượng chất thải phát sinh, giảm ảnh hưởng của việc tiêu
thụ tài nguyên và năng lượng.
II.3.2. Đặc điểm nội dung, bản chất của công cụ kinh tế
Công cụ kinh tế rất đa dạng gồm thuế môi trường, phí và lệ phí môi trường, quỹ
môi trường, quôta môi trường, ký quỹ môi trường, trợ cấp tài chính, nhãn sinh
thái...Mỗi công cụ kinh tế có những ưu điểm trong từng nội dung quản lý cụ thể.
1. Thuế tài nguyên
Thuế tài nguyên là một khoản thu của Ngân sách Nhà nước đối với các doanh
nghiệp về việc sử dụng các dạng tài nguyên thiên nhiên trong quá trình sản xuất.
Mục đích của thuế tài nguyên là:


Hạn chế các nhu cầu không cấp thiết trong sử dụng tài nguyên;


tổn thất tài nguyên, đặc biệt các tài nguyên không tái tạo.
Trong thực tế khi áp dụng thuế tài nguyên người ta thường phân biệt tài nguyên
thành 2 loại theo mức độ xác định trữ lượng:


Loại tài nguyên đã xác định trữ lượng: thuế được tính sẽ dựa trên trữ lượng

địa chất (hoặc trữ lượng công nghiệp) của loại tài nguyên mà doanh nghiệp được
phép khai thác;


Loại tài nguyên chưa xác định trữ lượng hoặc xác định chưa chính xác trữ

lượng: Có thể sử dụng sản lượng khai thác làm cơ sở tính thuế trong khi chờ các
thăm dò địa chất về trữ lượng bổ sung.
Ngoài ra, thuế tài nguyên cũng phải được áp dụng từ từ từng bước để tránh làm
mất cân bằng kinh tế nên công bố thời hạn áp dụng.

HV: Nguyễn Thị Ngọc Hân

Page 11


Kinh Tế Môi Trường

GV: TS. Lê Thị Kim Oanh

2. Thuế và phí tài nguyên
Thuế và phí môi trường được sử dụng phổ biến tại các nước công nghiệp phát triển
(OECD) từ hơn hai thập kỉ qua và đã bước đầu được áp dụng có kết quả tại các

Thuế/phí đánh vào nguồn ô nhiễm được xác định trên cơ sở khối lượng và

hàm lượng (nồng độ) các chất gây ô nhiễm.
HV: Nguyễn Thị Ngọc Hân

Page 12


Kinh Tế Môi Trường


GV: TS. Lê Thị Kim Oanh

Thuế/phí đánh vào sản phẩm gây ô nhiễm được áp dụng đối với những loại

sản phẩm gây tác hại tới môi trường một khi chúng được sử dụng trong quá trình
sản xuất, tiêu dùng hay hủy bỏ chúng. Loại phí được áp dụng đối với các loại sản
phẩm có chứa các chất độc hại cho môi trường như kim loại nặng, PVC, CFCs,
xăng pha chì, thủy ngân, các loại vỏ hộp, vỏ chai, giấy bao gói...
Phí đánh vào sản phẩm có thể được sử dụng thay cho phí gây ô nhiễm nếu vì lí do
nào đó, người ta không thể trực tiếp tính được phí đối với các chất gây ô nhiễm.
Loại phí này có thể đánh vào sản phẩm là nguyên liệu đầu vào, sản phẩm trung
gian hay thành phẩm, tùy theo từng trường hợp.
Phí đánh vào sản phẩm được sử dụng rộng rãi ở các nước OECD dưới dạng phụ
phí đánh vào giá xăng dầu, phân bón, thuốc trừ sâu, bột tẩy giặt...


Phí đánh vào người sử dụng là tiền phải trả do được sử dụng các hệ thống

dịch vụ công cộng xử lý và cải thiện chất lượng môi trường như phí vệ sinh thành

giấy phép thải khí và nước thải, người bán là các đơn vị sở hữu giấy phép, người
mua là các đơn vị cần giấy phép để xả thải. Thị trường này vận hành theo quy luật
cung – cầu như các thị trường thông thường nhưng lại có đặc điểm gần giống với
thị trường chứng khoán ở chỗ giao dịch các chứng chỉ, các giấy phép mang một giá
trị nhất định với giá cả được định đoạt theo chủ quan, kì vọng và dự báo các bên
tham gia giao dịch. Nguyên lý cơ bản của thị trường giấy phép (hay thị trường môi
trường) là việc đặt ra giới hạn tối đa về lượng khí thải hoặc nước thải nào đó ở mức
thống nhất với chỉ tiêu môi trường tại một vùng hay khu vực cụ thể. Một khi tổng
lượng thải cho phép thấp hơn lượng thải mà các đơn vị hoạt động trong vùng muốn
thải sẽ tạo nên sự khan hiếm về quyền được thải và làm cho nó có giá ở thị trường.
Để thực hiện công cụ này trước hết nhà nước phải xác định mức sử dụng môi
trường chấp nhận được để trên cơ sở đó phát hành giấy phép. Việc này không đơn
giản và cũng đòi hỏi chi phí thực hiện khá lớn. Sau khi qui định mức thải tối đa
trong vùng, có thể phát không giấy phép cho doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn
trên một số căn cứ nào đó hoặc tổ chức bán đấu giá. Cách thực hiện được nhiều
HV: Nguyễn Thị Ngọc Hân

Page 14


Kinh Tế Môi Trường

GV: TS. Lê Thị Kim Oanh

người tán thành nhất là phân phối giấy phép dựa vào mức độ ô nhiễm hoặc hiện
trạng đánh giá tác động môi trường của từng doanh nghiệp, nói cách khác là thừa
kế quyền được thải quá khứ. Khi đã có giấy phép các doanh nghiệp tự do giao
dịch, mua đi bán lại số giấy phép đó; giá giấy phép trên thị trường sẽ điều tiết nhu
cầu trong phạm vi tổng hạn mức.
Ưu điểm đáng kể nhất của loại công cụ này là sự kết hợp giữa tín hiệu giá cả và

Page 15


Kinh Tế Môi Trường

GV: TS. Lê Thị Kim Oanh

trường hợp khác đi, việc trao đổi mua bán chỉ còn là hình thức hoặc kém hiệu lực,
do đó có gian lận trong việc xác định quota và kiểm soát ô nhiễm.
4. Hệ thống đặt cọc hoàn trả
Đặt cọc – hoàn trả được sử dụng trong hoạt động bảo vệ môi trường bằng cách
quy định các đối tượng tiêu dùng các sản phẩm có khả năng gây ô nhiễm môi
trường phải trả một khoản tiền (đặt cọc) khi mua hàng, nhằm đảm bảo cam kết sau
khi tiêu dùng sẽ đem sản phẩm đó (hoặc phần còn lại của sản phẩm đó) trả lại cho
các đơn vị thu gom phế thải hoặc tới những địa điểm đã quy định để tái chế, tái sử
dụng hoặc tiêu hủy theo cách an toàn đối với môi trường.
Nếu thực hiện đúng người tiêu dùng sẽ nhận lại khoản đặt cọc do các tổ chức thu
gom hoàn trả lại. Mục đích của hệ thống đặt cọc – hoàn trả là thu gom những thứ
mà người tiêu thụ đã dùng vào một trung tâm để tái chế hoặc tái sử dụng một cách
an toàn đối với môi trường.
Đặt cọc – hoàn trả được coi là một trong những ứng cử viên sáng giá cho các chính
sách nhằm giúp nền kinh tế thoát khỏi chu trình sản xuất tuyến tính (khai khoáng
→ nguyên liệu thô → sản phẩm→ phế thải) và hướng tới chu trình tuần hoàn trong
đó các tài nguyên được tái chế, tái sử dụng tới mức tối đa có thể được.
Phạm vi sử dụng của hệ thống đặt cọc – hoàn trả bao gồm:


Các sản phẩm mà khi sử dụng có khả năng gây ô nhiễm môi trường nhưng

có thể tái chế hoặc tái sử dụng;

chai nhựa, thủy tinh, nhôm, sắt, thép, phế liệu, ắc quy, xăm lốp, dầu nhớt, giấy
loại...
Theo kinh nghiệm của các nước, mức đặt cọc là một trong những yếu tố quan trọng
tác động đến hiệu quả của hệ thống đặt cọc – hoàn trả. Các mức đặt cọc thấp sẽ
không tạo ra động lực kinh tế đủ mạnh cho việc thu gom và tái chế phế thải. Ngoài
ra các yếu tố như nhận thức và ý thức của người sản xuất và tiêu dùng đối với vấn
đề thu gom phế thải, khả năng tổ chức và quản lý hệ thống thu gom cũng như vấn
đề công nghệ tái chế đều có ảnh hưởng không nhỏ đến sự hoạt động và thành công
của hệ thống.
5. Ký quỹ môi trường
Ký quỹ môi trường là công cụ kinh tế áp dụng cho các hoạt động kinh tế có tiềm
năng gây ô nhiễm và tổn thất môi trường.
HV: Nguyễn Thị Ngọc Hân

Page 17


Kinh Tế Môi Trường

GV: TS. Lê Thị Kim Oanh

Nguyên lý hoạt động của hệ thống ký quỹ môi trường cũng tương tự như hệ thống
đặt cọc – hoàn trả. Nội dung chính của ký quỹ môi trường là yêu cầu các doanh
nghiệp các cơ sở sản xuất kinh doanh trước khi tiến hành hoạt động đầu tư phải ký
gửi một khoản tiền (hoặc kim loại quý, đá quý, hoặc các giấy tờ có giá trị như tiền)
tại ngân hàng hay tổ chức tín dụng nhằm bảo đảm sự cam kết về thực hiện các biện
pháp để hạn chế ô nhiễm, suy thoái môi trường.
Mục đích chính của việc ký quỹ là làm cho người có khả năng gây ô nhiễm, suy
thoái môi trường luôn nhận thức được trách nhiệm của họ từ đó tìm ra các biện
pháp thích hợp ngăn ngừa ô nhiễm và suy thoái môi trường.

các dạng sau:


Trợ cấp không hoàn lại;



Các khoản cho vay ưu đãi;



Cho phép khấu hao nhanh;



Ưu đãi thuế (miễn, giảm thuế).

Chức năng chính của trợ cấp môi trường là giúp đỡ các ngành công – nông nghiệp
các ngành khác khắc phục ô nhiễm trong điều kiện khi tình trạng ô nhiễm môi
trường quá nặng nề hoặc khả năng tài chính của doanh nghiệp không chịu đựng
được đối với việc xử lý ô nhiễm. Trợ cấp cũng còn nhằm khuyến khích các cơ quan
nghiên cứu và triển khai các công nghệ sản xuất có lợi cho môi trường hoặc các
công nghệ xử lý ô nhiễm.
Tuy nhiên, trợ cấp có thể gây ra sự không hiệu quả. Các nhà sản xuất có thể đầu tư
quá mức vào kiểm soát và xử lý ô nhiễm (làm giảm ô nhiễm nhiều hơn so với mức
tối ưu cũng là không hiệu quả).
Trường hợp ngược lại, trợ cấp không được hoạch toán toàn bộ vào chi phí giảm ô
nhiễm mà một phần được dùng để hạ thấp chi phí cá nhân, làm tăng lợi nhuận.
Trợ cấp môi trường chỉ ra biện pháp tạm thời, nếu vận dụng không thích hợp hoặc
kéo dài sẽ dẫn đến hiệu quả kinh tế vì trợ cấp đi ngược lại với nguyên tắc “người

phẩm và của nhà sản xuất.
Những sản phẩm được dán nhãn:
HV: Nguyễn Thị Ngọc Hân

Page 20


Kinh Tế Môi Trường

GV: TS. Lê Thị Kim Oanh



Sản phẩm tái chế từ phế thải;



Sản phẩm thay thế cho các sản phẩm xấu tới môi trường;



Sản phẩm có tác động tích cực đối với môi trường trong sản xuất và tiêu

dùng.
8. Quỹ môi trường
Quỹ môi trường là một thể chế hoặc một cơ chế được thiết kế để nhận tài trợ vốn
từ các nguồn khác nhau, và từ đó phân phối các nguồn này để hỗ trợ quá trình
thực hiện các dự án hoặc các hoạt động cải thiện chất lượng môi trường.
Nguồn thu cho quỹ môi trường có thể được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau
như:

Hỗ trợ do quỹ môi trường cung cấp thường dưới hình thức hỗ trợ tài chính với các
điều khoản ưu đãi chẳng hạn như các khoản trợ cấp không hoàn lại, các khoản vay
HV: Nguyễn Thị Ngọc Hân

Page 21


Kinh Tế Môi Trường

GV: TS. Lê Thị Kim Oanh

vốn dài hạn với lãi suất thấp hơn lãi suất hiện hành trên thị trường để khuyến khích
các dự án đầu tư bảo vệ môi trường, hỗ trợ các dự án nghiên cứu triển khai, đào tạo
truyền thông môi trường , các dự án kiểm soát và xử lý ô nhiễm của các doanh
nghiệp. Quỹ môi trường thậm chí còn hỗ trợ tiền cho việc điều trị của các nạn nhân
ô nhiễm.
Sử dụng các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường là biện pháp các nhà kinh tế
cho là hiệu quả cao xét từ góc độ chi phí thực hiện. Đồng thời do đặc tính linh hoạt
của bản thân công cụ, vận hành trên cơ sở sử dụng sức mạnh của thị trường và
nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả, công cụ kinh tế có khả năng khắc phục
những thất bại của thị trường, có hiệu quả trong việc thay đổi hành vi gây ô nhiễm,
khuyến khích sự năng động và tự giác của người gây ô nhiễm. Thực tế việc sử
dụng công cụ kinh tế ở các nước trên thế giới cho thấy những tác động tích cực
như các hành vi môi trường được điều chỉnh một cách tự giác, các chi phí xã hội
cho công tác bảo vệ môi trường có hiệu quả hơn, khuyến khích việc nghiên cứu
triển khai kỹ thuật công nghệ có lợi cho bảo vệ môi trường, gia tăng nguồn thu
phục vụ cho công tác bảo vệ môi trường và cho ngân sách nhà nước, duy trì tốt các
giá trị môi trường của quốc gia.
Theo kinh nghiệm của các nước đi trước, để có thể áp dụng thành công các công cụ
kinh tế vào quản lý môi trường, cần xem xét cân nhắc các điều kiện dưới đây:



Năng lượng quản lý hành chính bao gồm: năng lực của các cơ quan trong

việc thiết kế và thực hiện công cụ, giám sát việc thực hiện, cưỡng chế các điều kiện
áp dụng công cụ, giám sát việc thực hiện, cưỡng chế các điều kiện áp dụng công cụ
và điều chỉnh các công cụ cho phù hợp với điều kiện thực tế. Để đảm bảo nâng cao
năng lực quản lý hành chính, rõ ràng cần có các nguồn tài chính cho việc nghiên
cứu, đào tạo nhân lực và trang bị hệ thống giám sát thực hiện.


Ý thức chính trị: Việc áp dụng công cụ kinh tế đòi hỏi sự chấp nhận của cơ

quan chức năng, của các đối tượng gây ô nhiễm và của các tổ chức phi lợi nhuận
đại diện cho các nạn nhân của sự xuống cấp môi trường. Trong thực tế các cơ quan
đã quen với công cụ mệnh lệnh – kiểm soát cũ và không muốn thay đổi đòi hỏi
những kỹ năng và công nghệ mới; các đối tượng gây ô nhiễm cũng có thể phản đối
khi cho rằng việc áp dụng các công cụ kinh tế sẽ tạo thêm những khoản chi phí cho
họ.
Các điều kiện cần cho việc áp dụng công cụ kinh tế nêu trên thường khó định
lượng. Trong thực tế, không phải bao giờ và ở đâu các điều kiện đều được thỏa
mãn. Mặt khác, không phải tất cả các công cụ kinh tế cần phải có đủ điều kiện trên
mới áp dụng được; một số loại như thuế, phí, trợ cấp hệ thống đặt cọc – hoàn trả có
thể được áp dụng từng bước trong những điều kiện tương đối “dễ dàng” hơn.
HV: Nguyễn Thị Ngọc Hân

Page 23


Kinh Tế Môi Trường

Những ưu điểm của công cụ này:


Bình đẳng đối với mọi người gây ô nhiễm và sử dụng tài nguyên môi trường

vì tất cả mọi người phải tuân thủ những quy định chung, đảm bảo được mối quan
tâm của cộng đồng về vấn đề sức khỏe và an toàn với môi trường;


Quản lý chặt chẽ các loại chất thải độc hại và các tài nguyên quý hiếm thông

qua các quy định mang tính cưỡng chế cao trong thực hiện.
III.1.2. Hạn chế
Những nhược điểm của công cụ này:


Việc thực thi thường khó và yếu do những hạn chế về mặt quản lý;



Rất dễ rơi vào trường hợp thỏa thuận giữa cơ sở gây ô nhiễm và nhà chức

trách. Đặc biệt các ngành công nghiệp có thế lực về chính trị, có khả năng tác động
đến công cụ này;


Công cụ thiếu tính năng động và thiếu khuyến khích về mặt kinh tế;




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status