A. MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bước sang thế kỷ XXI, đói nghèo vẫn là vấn đề có tính toàn cầu. Một
bức tranh tổng thể là thế giới vời gần nửa dân số sống dưới 2USD/ngày. Vì
vậy một phong tráo sôi nổi rộng khắp trên thế giới là phải làm như thế nào để
đẩy lùi đói nghèo. Trong những năm gần đây, Việt Nam được đánh giá là một
trong những nước có công tác xóa đói giảm nghèo tốt nhất, đi lên từ nền nông
nghiệp lạc hậu, hơn nữa trải qua thời kỳ đấu tranh kéo dài. Tỉ lệ đói nghèo
chủ yếu thuộc hộ gia đình làm nông nghiệp. Mặt khác, hơn 70% dân số nước
ta làm trong lĩnh vực nông nghiệp. Vì thế đòi hỏi một sự lãnh đạo, quan tâm
đặc biệt từ phía Đảng và Nhà nươc đối với sản xuất nông nghiệp, đời sống
nông dân. Giải quyết hiệu quả công tác” Xóa đói giảm nghèo” sẽ tạo đà cho
bước chuyển mình vững chắc của nền kinh tế đất nước. Từ đó nâng xao vị thế
Việt Nam trên trường quốc tế cũng như đảm bảo vững chắc nền độc lập dân
tộc trong tiến trình hội nhập và phát triển
Xuất phát từ ý nghĩa, tầm quan trọng và sự cần thiết của vấn đề xóa đói
giảm nghèo của cả nước nói chung, tỉnh Điện Biên nói riêng trong quá trình
hội nhập và phát triển, tác giả chọn vấn đề “Vai trò lãnh đạo của Đảng đối
với Hội nông dân trong thực hiện xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Điện Biên
hiện nay” làm khóa luận tốt nghiệp.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Nghèo đói là một hiện trạng rất phổ biến trong phạm vi cả thế giới, cho
nên vấn đề này đã được rất nhiều người quan tâm nghiên cứu ở nhiều khía
cạnh khác nhau.
Cho đến nay ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều
luận văn tốt nghiệp đã đề cập đến vấn đề xoá đói giảm nghèo (XĐGN), trong
đó có các công trình như:
1
- Tập trung phân tích thực trạng đói nghèo của tỉnh Điện Biên hiện nay
và chỉ ra những nguyên nhân cơ bản gây hạn chế yếu kém trong lãnh đạo của
Đảng đối với Hội nông dân.
- Đề xuất các quan điểm, phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm
từng bước nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng.
4. Phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là xã nghèo, hộ nghèo đói thuộc
tỉnh Điện Biên thông qua việc điều tra khảo sát tình hình thực tiễn và các số
liệu hiện có trong các báo cáo tổng kết về xoá đói giảm nghèo và số liệu
thống kê của địa phương.
Khóa luận nghiên cứu vấn đề xoá đói giảm nghèo và tập trung nghiên cứu
thực trạng tình hình đói nghèo của tỉnh Điện Biên giai đoạn từ 2009 đến nay.
5. Phương pháp nghiên cứu của khóa luận
- Khóa luận dựa trên cơ sở lý luận kinh tế chính trị Mác-Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách về xoá
đói giảm nghèo của Đảng, Nhà nước để nghiên cứu.
- Khóa luận vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử và khoa học kinh tế chính trị Mác-Lênin và kết hợp
các phương pháp khác để nghiên cứu như điều tra, khảo sát, phân tích thống
kê, so sánh, tổng hợp, khái quát, hệ thống và nghiên cứu báo cáo tổng kết xoá
đói giảm nghèo của tỉnh Điện Biên.
6. Những đóng góp của khóa luận
- Phân tích, đánh giá thực trạng vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Hội
nông dân thực hiện xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Điên Biên, tìm ra những
nguyên nhân, các giải pháp chủ yếu nhằm góp phần giải quyết vấn đề đói
nghèo của tỉnh Điện Biên trong giai đoạn hiện nay.
3
nhân dân lao động và của dân tộc.
Cương lĩnh của Đảng năm 1991 xác định: Đảng Cộng sản Việt Nam là
đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích
của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc. Đảng lấy chủ
nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ
nam cho hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản.
Nghị quyết của đảng cũng nêu rõ: Đảng Cộng sản Việt Nam lấy chủ
nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ
nam cho hành động, tiếp thu tinh hoa trí tuệ của dân tộc và của nhân loại, nắm
vững quy luật khách quan và thực tiễn của đất nước để đề ra Cương lĩnh
5
chính trị, đường lối cách mạng đúng đắn, phù hợp với yêu cầu, nguyện vọng
của nhân dân.
Mục đích của Đảng là xây dựng nước Việt Nam dân chủ, giàu mạnh
theo con đường xã hội chủ nghĩa và cuối cùng là thực hiện lý tưởng cộng sản
chủ nghĩa
- Đảng lãnh đạo:
Đảng lãnh đạo là: tổng thể các hoạt động của Đảng đề ra Nghị quyết,
chủ trương đúng đắn, tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương, Nghị quyết đó
và kiểm tra, giám sát tất cả các hoạt động nhằm đảm bảo thuận lợi chủ trương,
Nghị quyết của Đảng và sự nghiệp cách mạng.
1.1.2 Khái niệm Hội nông dân
Hội Nông dân Việt Nam (tên cũ: Hội Liên hiệp Nông dân tập thể Việt
Nam trước 1991) là tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp nông dân do Đảng
Cộng sản Việt Nam lãnh đạo và là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam; cơ sở chính trị của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Hội nông dân tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, hội viên, nông dân
1.1.3 Khái niệm đói nghèo
Đói nghèo được hiểu là sự thiệt hại những điều tối thiểu để đảm bảo
mức sống của một các nhân hay một cộng đồng dân cư.
Đói nghèo có hai khái niệm cơ bản:
- Nghèo tuyệt đối là tình trạng thiếu hụt những điều kiện tối thiểu để
duy trì cuộc sống, tiếp cận những nhu cầu, các vấn đề dinh dưỡng, giáo dục
và các dịch vụ y tế, việc xác định một đối tượng là nghèo hay không phải dựa
trên các tiêu chuẩn nghèo của quốc gia và của thế giới.
- Nghèo tương đối có thể được xem như là việc cung cấp không đầy đủ
các tiềm lực vật chất và phi vật chất cho những người thuộc về một số tầng
lớp xã hội nhất định so với sự sung túc của xã hội đó.
- Khái niệm xóa đói giảm nghèo:
7
Giảm nghèo hay (xoá đói giảm nghèo) chính là làm cho bộ phận dân cư
nghèo nâng cao mức sống, từng bước thoát khỏi tình trạng nghèo. Biểu hiện ở
tỷ lệ phần trăm và số lượng người nghèo giảm xuống. Nói một cách khác, xoá
đói giảm nghèo là một quá trình chuyển một bộ phận dân cư nghèo lên một
mức sống cao hơn ở khía cạnh khác, xoá đói giảm nghèo là chuyển từ tình
trạng có ít điều kiện lựa chọn sang tình trạng có đầy đủ điều kiện lựa chọn để
cải thiện đời sống mọi mặt của mỗi người.
Nói giảm nghèo trong đó luôn bao hàm xoá đói và cũng giống như khái
niệm nghèo, khái niệm giảm nghèo chỉ là tương đối. Bởi nghèo có thể tái
sinh, hoặc khi khái niệm nghèo và chuẩn nghèo thay đổi. Do đó, việc đánh giá
mức độ giảm nghèo phải được đánh giá trong một thời gian, không gian nhất
định. Giảm nghèo là một phạm trù cũng mang tính lịch sử, do đó chỉ có thể
từng bước giảm nghèo, chứ chưa thể xoá sạch được nghèo. Chỉ khi nào xã hội
loài người đạt tới trình độ xã hội cộng sản như chủ nghĩa Mác- Lênin dự đoán
(XĐGN) là quá trình tạo điều kiện giúp đỡ người nghèo có khả năng tiếp cận
các nguồn lực của sự phát triển một cách nhanh nhất, trên cơ sở đó họ có
nhiều khả năng lựa chọn tốt hơn giúp họ từng bước thoát khỏi tình trạng
nghèo đói.
- Tiêu chí xác định chuẩn nghèo:
Theo từ điển tiếng Việt thì tiêu chí và chuẩn có các nghĩa sau đây:
Tiêu chí có nghĩa là: Tính chất, dấu hiệu làm căn cứ để nhận biết, xếp
loại một sự vật, một khái niệm [30, tr.990]. Như vậy, tiêu chí mang tính định
tính. Chuẩn có nghĩa là: cái được chọn làm căn cứ để đối chiếu, để hướng
theo đó mà làm cho đúng, vật được chọn làm mẫu để thể hiện một đơn vị đo
lường, cái được công nhận là đúng theo quy định hoặc đúng theo thói quen
trong xã hội [30, tr.181]. Như vậy, chuẩn mang tính định lượng. Từ đó ta có
thể hiểu chuẩn nghĩa là mốc giới hạn do nhà nước hay tổ chức quốc tế quy
định về mức thu nhập mà nếu ai có thu nhập thấp hơn mức này gọi là nghèo,
9
còn ai vượt qua giới hạn đó thì họ không phải là người nghèo. Chuẩn là công
cụ để phân biệt giữa người nghèo và người không nghèo. Giữa chuẩn nghèo
và tỉ lệ hộ nghèo có quan hệ tỷ lệ thuận với nhau, nếu chuẩn nghèo cao thì tỷ
lệ hộ nghèo cao và ngược lại
a. Tiêu chí xác định chuẩn nghèo của thế giới
Để đánh giá nghèo đói, UNDP dùng cách tính dựa trên cơ sở phân phối
thu nhập theo đầu người hay theo nhóm dân cư. Thước đo này tính phân phối
thu nhập cho từng cá nhân hoặc hộ gia đình nhận được trong thời gian nhất
định, nó không quan tâm đến nguồn mang lại thu nhập hay môi trường sống
của dân cư mà chia đều cho mọi thành phần dân cư. Phương pháp tính là:
Đem chia dân số của một nước, một châu lục hoặc toàn cầu ra làm 5
nhóm, mỗi nhóm có 20% dân số bao gồm: Rất giàu, giàu, trung bình, nghèo
370USD/người/năm. Với mức trên WB ước tính có trên 1,2 tỷ người trên thế
giới đang sống trong nghèo đói. Tuy nhiên, theo quan điểm chung của nhiều
nước, hộ nghèo là hộ có thu nhập dưới 1/3 mức trung bình của xã hội. Do
đặc điểm của nền kinh tế - xã hội và sức mua của đồng tiền khác nhau,
chuẩn nghèo đói theo thu nhập (tính theo USD) cũng khác nhau ở từng quốc
gia. ở một số nước có thu nhập cao, chuẩn nghèo được xác định là
14USD/người/ngày. Trong khi đó chuẩn nghèo của Malaixia là
28USD/người/tháng.
Srilanca
là
17USD/người/tháng.
Bangladet
là
11USD/người/tháng. ở Việt Nam, GDP bình quân đầu ngườihiện nay (năm
2006) khoảng 720 USD/người/năm, nên trên bình diện chung của thế giới
nước ta là nước nghèo khó, do đó không thể lấy chuẩn nghèo đói của WB để
xác định nghèo đói của Việt Nam.
Chỉ tiêu thu nhập quốc dân tính theo đầu người là chỉ tiêu chính mà
hiện nay nhiều nước và nhiều tổ chức quốc tế đang dùng để xác định giàu
nghèo. Nhưng cũng cần thấy rằng nghèo đói còn chịu tác động của nhiều yếu
tố khác như văn hoá, chính trị, xã hội. Trong thực tế nhiều nước phát triển có
11
Khu vực nông thôn miền núi, hải đảo < 320.000
Khu vực nông thôn đồng bằng
< 400.000
Khu vực thành thị
2.1. NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC PHÁT HUY VAI TRÒ
LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI HỘI NÔNG DÂN TRONG THỰC HIỆN XÓA
ĐÓI GIẢM NGHÈO TỈNH ĐIỆN BIÊN HIỆN NAY
2.1.1. Điều kiện địa lý tự nhiên
* Vị trí địa lý: Điện Biên là một tỉnh nằm ở vùng Tây Bắc, miền Bắc
Việt Nam, giáp với các tỉnh Lai Châu và Sơn La của Việt Nam, Vân Nam của
Trung Quốc ở phía Bắc, Phongsali của Lào ở phía Tây.
* Đặc điểm địa hình: Điện Biên là tỉnh miền núi biên giới thuộc vùng
Tây Bắc, cách thủ đô Hà Nội gần 500 km về phía Tây; phía Bắc giáp tỉnh Lai
Châu, phía Đông và Đông bắc giáp tỉnh Sơn La, phía Tây Bắc giáp tỉnh Vân
Nam – Trung Quốc; phía Tây và Tây Nam giáp với nước Cộng hoà Dân chủ
Nhân dân Lào
* Khí hậu: Điện Biên có khí hậu nhiệt đới gió mùa nùi cao, mùa đông
tương đối lạnh và ít mùa hạ nóng, mưa nhiều với các đặc tính diễn biến bất
thường, phân hoá đa dạng, ít chịu ảnh hưởng của bão, chịu ảnh hưởng của gió
tây khô và nóng. Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 21 – 23 0C, chất lượng mưa
trung bình từ 1.700 – 2.500 mm, độ ẩm trung bình từ 83 – 85%.
Do diện tích tự nhiên rộng, địa hình lại bị chia cắt nên khí hậu ở đây bị
phân hoá thành 3 tiểu vùng rõ rệt: tiểu vùng khí hậu Mường Nhé, tiểu vùng
khí hậu Mường Lay và tiểu vùng khí hậu cao nguyên Sơn La và thượng
nguồn sông Mã
15
* Tài nguyên thiên nhiên:
- Tài nguyên đất:
Tổng diện tích
nhóm đất mùn vàng đỏ trên núi. Những loại đất này rất phù hợp để phát triển
các loại cây lương thực, hoa màu và cây công nghiệp ngắn ngày, trồng và
khoanh nuôi tái sinh rừng. Mặt khác Điện Biên còn diện tích đất chưa sử dụng
là rất lớn chiếm 55,3% tổng diện tích đất tự nhiên
- Tài nguyên nước: Điện Biên nằm ở khu vực đầu nguồn 3 con sông lớn là
sông Đà, sông Mã và sông Mê Kông. Trong đó, riêng lưu vực sông Đà trên các
huyện: Mường Nhé, Mường Chà, Tủa Chùa, Tuần Giáo và thị xã Mường Lay có
diện tích khoảng 5.300km2, chiếm 55% diện tích tự nhiên toàn tỉnh. Hiện nay,
Điện Biên có khoảng 800 công trình thủy lợi lớn nhỏ đang hoạt động, đã phục
vụ công tác tươi tiêu cho 7.676 vụ chiêm xuân và 12.632 vụ mùa.
- Tài nguyên rừng: Hiện nay, toàn tỉnh có 348.049 ha rừng, đạt tỷ lệ che
phủ 37%. Trong rừng có nhiều loại gỗ quý hiếm, giá trị kinh tế cao như: lát,
trò chỉ, nghiến, táu, pơmu…ngoài ra còn có các loại cây đặc sản khác như
cánh kiến đỏ, song mây… Không chỉ có nhiều loại thực vật quý hiếm, rừng
Điện Biên còn có 61 loài thú, 270 loài chim, 27 loài động vật lưỡng cư, 25
loài bò sát, 50 loài cá đang sinh sống. Trong những năm gần đây do nạn đốt
rừng và săn bắt chim thú tự do nên lượng chim thú quý trong rừng ngày càng
giảm, một số loài đang có nguy cơ bị tuyệt chủng.
16
- Tài nguyên khoáng sản: Điện Biên không có nhiều loại khoáng sản,
tuy nhiên qua điều tra sơ bộ trên địa bàn tỉnh vẫn có một số loại khoáng sản
chính như than đá, đá đen, vàng, cát, sỏi và các loại vật liệu xây dựng khác…
Hiện, mỏ than mỡ Thanh An có trữ lượng khoảng 156.000 tấn; mỏ cao lanh ở
Huổi Phạ trữ lượng khoảng 51.000 tấn; mỏ đá xây dựng ở Tây Trang; vàng sa
khoáng ở thượng nguồn sông Đà; nước khoáng Mường Luân… Tuy các mỏ
này có trữ lượng không lớn, nhưng đây là nguồn lực khá quan trọng để phát
triển các ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp ở địa phương.
Nậm Mức và các dự án khai thác chế biến khoáng sản chì kẽm, vàng, đồng.
Du lịch dịch vụ và kinh tế cửa khẩu: Từng bước được đầu tư khai thác
đã bước đầu phát huy hiệu quả; khách du lịch đến Điện Biên tham quan ngày
càng tăng năm 2007 gần 200 ngàn lượt khách
* Cơ sở hạ tầng:
Đến hết năm 2007 toàn tỉnh đã có 104/106 xã, phường có đường ô tô
đến trung tâm xã với 70/106 xã đi lại được quanh năm; 100% xã, phường có
điện thoại và điểm bưu điện văn hoá xã ; trung tâm các khu đô thị, thị tứ đã
được phủ sóng điện thoại di động; 81/106 xã, phường có điện lưới quốc gia
đến trung tâm xã, 72% dân cư thành thị được sử dụng nước sạch và 61% dân
cư nông thôn được cấp nước sinh hoạt. Các mặt đời sống văn hoá tinh thần,
chăm sóc sức khoẻ của nhân dân được quan tâm, quốc phòng an ninh được
tăng cường và ổn định, quan hệ đối ngoại và hợp tác với các tỉnh Bắc Lào và
Vân Nam – Trung Quốc được mở rộng và tăng cường.
* Mạng lưới giao thông:
Hệ thống giao thông đường bộ, gồm:
•
Quốc lộ 6A: Từ Hà Nội đến thị xã Mường Lay dài 474 km, trong đó
đoạn chạy qua tỉnh dài khoảng 120km.
•
Quốc lộ 12: Từ thành phố Điện Biên Phủ đến cửa khẩu Ma Lu Thàng
dài 195 km.
18
19
hoàn thành và đóng điện vào cuối năm 2008 nâng tổng số xã được cấp điện
lưới quốc gia lên 100/106 xã, phường, thị trấn có điện đạt 94,34%.
*Hệ thống thông tin liên lạc:
Trên địa bàn tỉnh đã lắp đặt các tổng đài hoà mạng vào hệ thống truyền
thông quốc gia, từ tổng đài đã truyền dẫn thông tin đi toàn bộ các xã, huyện
trong tỉnh. Toàn tỉnh có nhiều doanh nghiệp cung cấp dịch vụ thông tin liên
lạc như: VNPT, Viettel, Mobiphone....
*Hệ thống tín dụng ngân hàng:
Hệ thống ngân hàng trên địa bàn tỉnh phát triển cung cấp các dịch vụ
tín dụng đến cấp xã, về cơ bản đã đáp ứng nhu cầu tiền mặt, tiền gửi, cho vay
phục vụ nhu cầu của các thành phần kinh tế, phát triển các loại hình dịch vụ
tiền tệ.
2.1.3 Đặc điểm về con người và trình độ dân trí
2.1.3.1 Con người
Theo niên giám thống kê tỉnh Điện Biên năm 2009, dân số toàn tỉnh là
615.620 người, chiếm 5,5% dân số vùng Trung du miền núi Bắc Bộ và chiếm
0,7% dân số cả nước. Tốc độ tăng trưởng dân số giai đoạn 2005-2009 là
1,41%/năm, giảm 0,42%/năm so với giai đoạn 2000-2005 (1,83%/năm).
2.1.3.2 Dân trí
Năm học 2007-2008 toàn tỉnh có 372 trường với 6.220 lớp và
136.384 học sinh. Đào tạo chuyên nghiệp và dạy nghề: Qui mô học sinh
đầu năm học 2007-2008 của 3 trường chuyện nghiệp là 3.645 học viên (chỉ
tính hệ chính quy).
Năm 2007 đã cấp bằng tốt nghiệp cho 1.470 sinh viên. Đào tạo nghề: 3
cơ sở đào tạo nghề đã đào tạo được 4.424 học viên, trong đó đào tạo hệ dài
hạn 4.000 học viên.
nông dân, nông nghệp và nông thôn.
21
- Hướng dẫn Hội nông dân cấp cơ sở thực hiện tốt chức năng giám sát,
phản biện xã hội đối với việc thực hiện các chính sách xã hội như: hỗ trợ
người nghèo ăn tết, vấn đề bức xúc của nông dân trong các lĩnh vực đất đai,
đền bù giải phóng mặt bằng; các khoản thu theo đầu sào, đầu khẩu; ô nhiễm
môi trường ở nông thôn; quản lý nhà nước về giá và chất lượng các mặt hàng
công nghiệp phục vụ nông nghiệp, về tiêu thụ nông sản phẩm thông qua hợp
đồng của các doanh nghiệp với nông dân; về tình trạng thiếu việc làm, tệ nạn
xã hội xâm nhập cộng đồng... các cấp Hội đã phản ánh và được các cấp, các
ngành quan tâm giải quyết thấu tình, đạt lý đã làm tăng thêm niềm tin của
nông dân vào sự lãnh đạo của Đảng, điều hành của chính quyền địa phương.
- Tạo điều kiện phối hợp giữa Hội nông dân với các tổ chức chính trị xã
hội khác hoạt động có hiệu quả. Cấp Hội đã chủ động phối hợp với các ngành
chức năng tạo nguồn vốn cho nông dân vay phát triển sản xuất như vốn Ngân
hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn, Ngân hàng Chính sách xã hội với
tổng số tiền trên 750 tỷ đồng giúp 71.024 lượt hộ vay; Hội đã liên kết với các
doanh nghiệp để cung ứng hàng chục ngàn tấn giống, phân bón, vật tư nông
nghiệp theo phương thức chậm trả cho nông dân, theo một chu kỳ sản xuất,
nông dân không phải chịu lãi suất, doanh nghiệp cam kết về chất lượng sản
phẩm, giá cả phù hợp; Tạo môi trường thi đua phát triển kinh tế với Hội phụ
nữ, thi đua thành tích với các ban ngành đoàn thể…
-Đảng chỉ đạo đẩy nhanh việc tuyên truyền phổ biến kiến thức nông
nghiệp, đưa khoa học kĩ thuật hiện đại vào sản xuất thông qua các bài giảng
kiến thức trong lĩnh vực nông nghiệp.
-Hội chủ động tổ chức cho nông dân thăm quan học tập các mô hình kinh
tế trong và ngoài tỉnh, tổng kết thực tiễn, nhân điển hình tiên tiến, biểu dương,
đã có những chuyển biến tích cực; trong 5 năm đã phối hợp tổ chức được 57
lớp tập huấn kỹ thuật với khoảng 980 lượt người tham dự về nội dung hướng
23
dẫn kỹ thuật xây dựng hầm khí Biogas, ứng dụng chế phẩm EMINA trong
trồng trọt và chăn nuôi; hai ngành đã phối hợp tổ chức thành công hội thảo
“Nâng cao hiệu quả mô hình liên kết 4 nhà phục vụ phát triển sản xuất nông
nghiệp hàng hóa ”.
- Triển khai có hiệu quả nhiều mô hình, cụ thể là mô hình 100 thùng
rau thủy canh và 55 thùng rau mầm không cần đất; xây dựng khoảng 200 mô
hình hầm Biogas, sử dụng chế phẩm Emina; thành lập 3 CLB “Khoa học kỹ
thuật nhà nông”
- Phong trào đã phát huy tinh thần hữu ái giai cấp, là cơ sở cho tinh
thần đoàn kết nông thôn và giúp đỡ được 1.761 hộ nông dân trong thoát
nghèo, góp phần giảm số hộ nghèo từ 54.15% năm 2005 xuống còn 51.04%
năm 2010, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo ở nông thôn.
Riêng năm 2013, nhận được sự quan tâm chỉ đạo đặc biệt của Đảng ủy
các cấp, đổi mới đường lối, chủ trương phát triển nông nghiệp Hội nông dân
Điện Biên đã đạt những thành tích đáng kể, làm thay đổi rõ nét đời sống
nhân dân:
- Các cấp Hội đã tổ chức buổi tuyên truyền, phổ biến các chủ trương,
đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước cho 18.600 lượt hội
viên nông dân .
- Xây dựng 124 công trình chào mừng kỷ niệm 81 năm ngày thành lập
Hội Nông dân Việt Nam; phát triển mới 3.090 hội viên, nâng tổng số hội viên
toàn tỉnh lên 170.548 hội viên.
- Giúp trên 2.000 hộ nông dân có thêm vốn đầu tư phát triển sản xuất,
tăng thu nhập, cải thiện đời sống.
2011
145 tỷ/ 14
2012
158 tỷ/ 14
2013
175tỷ/15
nghìn hộ
nghìn hộ
nghìn hộ
nghìn hộ
nghìn hộ
(9,4
(10
(10,3
(11,28
(11,67