Nghiên cứu Vai trò của công tác chuyển giao công nghệ trong nông nghiệp tới xoá đói giảm nghèo trên địa bàn huyện Anh Sơn tỉnh Nghệ An - Pdf 35

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Có nhiều vấn đề xã hội đang từng ngày, từng giờ liên tiếp xẩy ra khiến
cho hầu hết các quốc gia trên toàn thế giới đều phải đối mặt với nó: Như
chiến tranh, nghèo đói, bệnh tật, tăng dân số…, những vấn đề này làm cản trở
chung của toàn xã hội, cũng như sự tiếp cận các dịch vụ sống của chính mỗi
bản thân con người, đặc biệt là những người nghèo thì việc đó lại càng khó
khăn hơn. Đã hơn 20 năm qua nước ta tiến hành đổi mới, từ đó toàn Đảng,
toàn dân và toàn quân ta đã vượt bao khó khăn thử thách để thực hiện thành
công công cuộc đổi mới, bước đầu đã đạt được những thành tựu khả quan,
biểu hiện qua dời sống của đại bộ phận nhân dân, tốc độ tăng trưởng kinh tế
khá và đang hoà chung vào nền kinh tế toàn cầu hoá, đang thực hiện mục tiêu
là một nước CNH, HĐH.
Năm 2006, Việt Nam trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế
giới WTO, tổ chức thành công hội nghị AFEC 14, điều này đánh dấu bước
phát triển mới và qua đó nhằm quảng bá hình ảnh đất Nước, con người Việt
Nam, khẳng định và nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế. Tuy nhiên
Việt Nam vẫn là một nước nghèo. Nghèo đói vẫn đang là cản trở trên bước
đường phát triển đòi hỏi sự nỗ lực của các cấp, các ngành và toàn dân cùng
tham gia vào trong công tác xóa đói giảm nghèo, chú trọng thường xuyên xây
dựng chương trình dựa án liên quan đến xóa đói giảm nghèo. Hiện nay chúng
ta có 77% dân cư sống ở nông thôn, nông thôn chiếm 40% GĐP, 30% giá trị
xuất khẩu (Đỗ Kim Chung 2006). Ở khu vực nông thôn hiện 70% thu nhập
của nông dân vẫn từ nông nghiệp nên việc phát triển kinh tế nông nghiệp
nông thôn nước ta có một vị trí quan trọng. Để phát triển nhanh chóng nông
nghiệp nông thôn và xoá đói giảm ngheo, con đường tất yếu là phải đưa
nhanh các thành tựu khoa học công nghệ vào phục vụ sản xuất nông nghiệp
1





này cần phải đẩy mạnh việc chuyển giao KHCN phù hợp với trình độ của
nông dân để từng bước nâng cao mức sống của người dân trong thời gian tới,
đồng thời góp phần thúc đẩy nhanh quá trình CNH-HĐH nông nghiệp nông
thôn của huyện nhà.
Từ những vấn đề tìm hiểu được ở địa phương, những vấn đề còn tồn tại
trong thực tế chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu Vai trò của
công tác chuyển giao công nghệ trong nông nghiệp tới xoá đói giảm nghèo
trên địa bàn huyện Anh Sơn tỉnh Nghệ An”.
1.2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.2.1 Mục tiêu chung
Phân tích vai trò của công tác chuyển giao công nghệ trong nông
nghiệp tới xoá đói giảm nghèo của huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An, từ đó đề
xuất một số định hướng nhằm nâng cao vai trò của công tác chuyển giao công
nghệ đối với xoá đói giảm nghèo trên địa bàn huyện.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiến về xoá đói giảm nghèo và
chuyển giao công nghệ.
- Phân tích vai trò của công tác chuyển giao công nghệ đối với xoá đói giảm
nghèo trên địa bàn huyện Anh Sơn-Nghệ An. Đề xuất một số định hướng nhằm
nông cao vai trò chuyển giao công nghệ đối với xoá đói giảm nghèo trên địa bàn
huyện.
1.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu trong đề tài dựa trên chủ thể là trạm khuyện
nông huyện Anh Sơn-Nghệ An và các hộ nông dân trên địa bàn huyện.
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

năm 70, nghèo đói chỉ được coi là nghèo đói về tiêu dùng, với tư tưởng cốt lõi
là căn bản nhất để một người bị coi là nghèo đói, đó là sự “thiếu hụt” so với
một mức sống nhất định mà sự thiếu hụt này được xác định theo các chuẩn
mực xã hội và phụ thuộc vào không gian và thời gian.
Tuy nhiên quan niệm về nghèo đói hay nhận dạng về nghèo đói của từng
quốc gia hay từng vùng, từng nhóm dân cư, nhìn chung không có sự khác biệt
đáng kể, tiêu chí chung nhất để xác định nghèo đói vẫn là mức thu nhập hay
chi tiêu để thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người. Sự khác nhau
chung nhất là thoả mãn ở mức cao hay mức thấp mà thôi, điều này phụ thuộc
vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội cũng như phong tục tập quán của từng
vùng, từng quốc gia.
Việt Nam thừa nhận định nghĩa chung về nghèo đói do hội nghị chống đói
nghèo khu vực châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức tại Bangkok,
Thái Lan vào tháng 9 năm 1993: “Nghèo khổ là tình trạng một bộ phận dân
cư không có khả năng thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà
những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội, phong tục
tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận”.
Hội nghị thượng đỉnh Thế giới về phát triển xã hội tổ chức tại
Copenhagen - Đan Mạch năm 1995 đã đưa ra một định nghĩa cụ thể hơn về
5


nghèo đói như sau: “Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn
dưới 1 đô la (USD) mỗi ngày cho mỗi người, số tiền coi như đủ mua những
sản phẩm thiết yếu để tồn tại”.
Thực ra vấn đề nghèo và đói là hai vấn đề khác nhau:


Đói: Là tình trạng của một bộ phận dân cư nghèo, có mức sống


các vùng nông thôn và thành thị, nhưng cái chung nhất là dùng mức hiện vật
(gạo) để đo hiện trạng đói nghèo.

6


2.1.1.2 Nguyên nhân đói nghèo ở Việt Nam
Theo đánh giá của Bộ LĐ - TB và XH nguyên nhân đói nghèo là hậu quả
của nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân chính gây ra đói nghèo có thể
chia theo 3 nhóm như sau:
o

Nhóm nguyên nhân do điều kiện tự nhiên - xã hội: Khí hậu khắc

nghiệt, thiên tai, bão lũ, hạn hán, đất đai cằn cỗi, địa hình phức tạp, giao thông
khó khăn, kinh tế chậm phát triển, hậu quả của chiến tranh để lại.
o

Nhóm nguyên nhân thuộc cơ chế chính sách: Thiếu hoặc không đồng

bộ về chính sách đầu tư cơ sở hạ tầng cho các khu vực khó khăn, chính sách
khuyến khích sản xuất, vốn tín dụng, hướng dẫn cách làm ăn, khuyến nông,
lâm ngư, chính sách trong giáo dục - đào tạo, y tế, giải quyết đất đai, định
canh định cư, kinh tế mới và đầu tư nguồn lực còn hạn chế.
o

Nhòm nguyên nhân thuộc về bản thân hộ nghèo: Do chính bản thân

hộ nghèo không biết cách làm ăn, không có hoặc thiếu vốn để sản xuất, gia
đình đông con, ít người làm, do chi tiêu lãng phí bừa bãi, lười lao động, mắc

nghĩa là thu nhập thấp và cái vòng luẩn quẩn của sự nghèo đói hoàn tất chu kỳ
của mình.
Trong báo cáo phát triển thế giới (World Development Report 1992) nêu
rõ: “Hơn một tỷ người ngày nay đang sống trong tình trạng nghèo đói, đa số
những người này sẽ sinh ra những gia đình nghèo…”. Tuy nhiên, vấn đề
không chỉ dừng lại ở mức độ “nghèo đói duy trì sự nghèo đói” mà nó còn làm
cho tình trạng này ngày một trầm trọng hơn và lây lan sang những lĩnh vực
tưởng như không có liên quan, đó là môi trường và đạo đức xã hội. Mức sống
thấp cộng với lối sống du canh du cư đã tồn tại từ lâu đời của đồng bào miền
núi làm cho rừng bị tàn phá ngày một nặng nề hơn. Còn ở những nơi không
có rừng để tàn phá thì nghèo đói, thiếu việc làm sẽ nảy sinh tự phát dòng di
dân ra thành phố, khu công nghiệp cửa khẩu biên giới để kiến sống. Mức độ
di chuyển này ngày càng tăng là nguồn gốc gây mất an ninh trật tự và lây lan
các tệ nạn xã hội, kể cả tội phạm.
Nghèo khổ không chỉ gây nhức nhối cho người nghèo ở khía cạnh vật chất
mà còn phải kể đến nghèo khổ cả về mặt tinh thần, làm thui chột cả hệ thống
8


giá trị của con người trong cuộc sống. Nó làm giảm khả năng tham gia vào
các hoạt động của cộng đồng, thiếu niềm tin và hoài bão trong cuộc sống và
dễ bị ảnh hưởng tiêu cực chi phối.
“Vì vậy trách nhiệm của thế giới là phải làm giảm nạn nghèo khổ. Điều đó
vừa là mệnh lệnh của đạo lý, vừa là cái tất yếu để có được sự bền vững của
môi trường” (World Development Report 1992).
2.1.2 Thực tiến một số nước trên thế giới

Đói nghèo là vấn đề đang đặt ra cho tất cả các quốc gia trên thế giới, nó
trở thành vấn nạn trên toàn cầu. Trong lịch sử đã có nhiều nạn đói chết hàng
triệu người dân châu Á, châu Phi. Dân số thế giới tăng nhanh với tốc độ ngày

Kinh nghiệm của Trung Quốc

Trung Quốc là một nước có dân số đông nhất thế giới và cũng là nước có
số người nghèo chiếm tỷ lệ cao. Tỷ lệ nghèo khổ chiếm 20% dân số, trong đó
80 triệu người quá nghèo khổ chiếm 8% dân số (Số liệu của FAO, 1990).
Bước vào thời kỳ cải cách kinh tế, nông thôn Trung Quốc đã có sự thay đổi
lớn, tuyệt đại đa số nông dân đã giải quyết được vấn đề no cơm ấm áo, tỷ lệ
nghèo khổ giảm đáng kể do Trung Quốc sớm quan tâm và thực hiện rất có
hiệu quả chương trình “xoá đỏi giảm nghèo” ở trên phạm vi cả nước nhất là
khu vực nông thôn. Kinh nghiệm thành công của Trung Quốc trong công cuộc
XĐGN cho thấy tầm quan trọng của việc kết hợp tăng trưởng kinh tế gắn với
những biện pháp giải quyết việc làm ở nông thôn, mở rộng hệ thống dạy
nghề, tăng kỹ thuật mới, giảm nhẹ điều kiện việc làm, cải thiện đời sống. Phát
triển công nghiệp nông thôn nhằm thay đổi cơ cấu kinh tế, cải tạo nền kinh tế
thuần nông với phương châm “ly nông bất ly hương”. Đối với các vùng nghèo
chính phủ có các chương trình riêng như:
Giúp đỡ các huyện nghèo khó theo phương châm lấy phát triển kinh tế là
chính với mặt công tác sau: Kết hợp khai thác tổng hợp nông nghiệp, đầu tư
xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển ngành nghề địa phương, phòng chống cơ
bản về các bệnh tật, phổ cập giáo dục tiểu học nâng cao trình độ văn hoá trình
độ kỹ thuật cho người lao động. Khống chế tốc độ gia tăng dân số, khai thác
và bảo vệ tốt tài nguyên môi trường sinh thái.

10


Ngoài những nỗ lực đó còn có chính sách tín dụng cho hộ nghèo vay vốn
với lãi suất thấp thực hiện ưu đãi về thuế tín dụng. Nhà nước tăng các khoản
đầu tư vào các vùng nghèo khó, động viên các lực lượng xã hội chi viện cho
vùng nghèo khó, triển khai kế hoạch khoa học kỹ thuật và đã thu được những

việc đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, phẩm chất tốt cùng với
11


chuơng trình phát triển nông nghiệp khác đã đưa Ấn Độ từ một nước phải
nhập khẩu lương thực nay trở thành một nước có khả năng tự túc lương thực.
Chính phủ Ấn Độ đã có biện pháp giúp đỡ từng nhóm hộ gia đình phát triển
sản xuất nên đã có 15 triệu hộ gia đình với 75 triệu người thoát khỏi cảnh
nghèo khổ. Hiện nay Ấn Độ có khoảng 12 - 15% số hộ nông dân khá - giàu.
Đây là một kết quả cũng là thành tựu mà Đảng và Nhà nuớc Ấn Độ có được.


Kinh nghiệm của Nhật Bản

Nhật Bản là quốc gia đất hẹp người đông, điều kiện phát triển kinh tế rất
khó khăn, nghèo tài nguyên lại thường hay động đất… Nhưng đặc điểm của
người Nhật Bản là rất ham làm việc, biết tiết kiệm và căn cơ. Chỉ hơn 20 năm
sau chiến tranh, từ đống tro tàn đổ nát, Nhật Bản đã vươn lên thành cường
quốc về kinh tế, đời sống nhân dân tăng cao, tình trạng đói nghèo đã giảm
xuống thấp. Hiện nay 90% dân số Nhật Bản là tầng lớp trung lưu. Có được
thành quả như vậy là do Nhật Bản đã đưa ra kế hoạch và chính sách rất đúng
đắn và thực hiện tích cực, góp phần đẩy nhanh phát triển kinh tế, nâng cao đời
sống nhân dân, XĐGN bền vững.
Nhật Bản đã áp dụng các giải pháp sau:
+ Thực hiện quá trình dân chủ hoá sau chiến tranh, nhằm tạo lập một nền
kinh tế thị trường, bao gồm nhiều chủ thể có sự bình đẳng tương đối trong sản
xuất kinh doanh, thực hiện dân chủ hoá lao động.
+ Xoá bỏ cơ sở gây ra sự phân hoá giàu nghèo, tạo lập mặt bằng bình
đẳng hơn cho xã hội đối với tài sản và đất đai nhanh chóng thực hiện mục tiêu
“ruộng đất cho người cày”.



Phần cứng bao gồm: Máy móc, thiết bị, dụng cụ, kết cấu xây dựng nhà
xưởng.



Phần mềm bao gồm:
+ Phần con người : tức là đội ngũ nhân lực có sức khoẻ, có kĩ năng có
kinh nghiệm sản xuất.

+ Phần thông tin: gồm các giữ liệu, thuyết minh, dự án, phần mô tả sáng chế
chỉ dẫn kỹ thuật, điều hành sản xuất…

13


+ Phần tổ chức: Bao gồm những quan hệ, bố trí, sắp xếp, đào tạo đội ngũ
cho các hoạt động như phân chia nguồn lực, tạo mạng lưới, lập kế hoạch kiểm
tra điều hành.
+ Phần bao tiêu: Nghiên cứu thị trường đầu ra.
* Chuyển giao công nghệ là sự dịch chuyển toàn bộ một phần công nghệ từ
nhóm người này sang nhóm người khác. Khái niệm chuyển giao công nghệ
chính thức được đưa ra trong một vài thập niên gần đây. Thực tế trong nhiều
thế kỷ qua, những hoạt động này ở mức độ khác nhau đã xuất hiện. Nó được
phát triển theo thời gian cả về chiều rộng lẫn chiều sâu trong nội bộ các quốc
gia và giữa các quốc gia với nhau thông qua mua bán thương mại, chiến tranh
chinh phục và di cư.
Như vậy hoạt động chuyển giao công nghệ thường được thực hiện tham gia
của nhiều tổ chức, cá nhân, với tư cách là những chủ thể:

2.2.1.3 Mục đích của chuyển giao công nghệ.
Công tác chuyển giao công nghệ nhằm giúp nông dân có khả năng tự
giải quyết các vấn đề của gia đình và cộng đồng nhằm đẩy mạnh sản xuất,
nâng cao đời sống và dân trí, góp phần xây dựng và phát triển nông thôn mới
qua áp dụng thành công các công nghệ mới bao gồm cả những kiến thức và kĩ
năng quản lí thông tin và thi trường, các chủ trương chính Sách về nông
nghiệp và nông thôn ( FAO, 2001).
Chuyển giao công nghệ còn được nông dân liên kết lại với nhau để
phòng và chống thiên tai, tiêu thụ sản phẩm, phát triển nghành nghề, xúc tiến
thương mại giúp nông dân phát triển khả năng quản lý và điều hành và tổ
chức các hoạt động xã hội nông thôn ngày càng tốt hơn (Bộ nông nghiệp và
phát triển nông thôn 2002). Như vậy mục đích của chuyển giao công nghệ là
(Đỗ Kim Chung, 2005).
1. Đẩy mạnh sản xuất hàng hoá một cách bền vững, góp phần xây dưng
nông thôn theo hướng CNH-HĐH, dân chủ hoá và hợp tác hoá.
2. Nâng cao thu nhập của nông dân, giúp nông dân giải quyết và áp dụng
được các yêu cầu cơ bản của họ, thực hiện xoá đói giảm nghèo.
3. Nâng cao dân trí nông thôn
15


4. Phát hiện các vấn đề nảy sinh, thẩm định các kết quả nghiên cứu để
hình thành những chiến lược nghiên cứu. Công tác chuyển giao được
nông dân chấp nhận, tồn tại bền vững trong nông dân và cộng đồng góp
phần cải thiện cuộc sống của nông dân.
2.2.1.4 Đặc điểm chuyển giao công nghệ trong nông nghiệp
- Có sự kết hợp chặt chẽ giữa kĩ thuật hiện đại với kĩ thuật truyền thống
của bản địa. Khi áp dụng công nghệ vào địa phương phải tôn trọng, bảo tồn
những ưu điểm, hạn chế những nhựơc điểm của công nghệ mới, phát huy tác
dụng và khắc phục nhược điểm của công nghệ truyền thống.

Trong nông dân, có nông dân tiến bộ và nông dân bảo thủ, có nông dân
nghèo và nông dân khá giả, có nông dân thuộc dân tộc đa số và dân tộc thiểu
số, có nông dân ở vùng đồng bằng, gần đô thị lại có nông dân ở vùng sâu
vùng xa. Vì thế, tuỳ theo phạm vi và mục tiêu của chương trình chuyển giao
công nghệ, người hưởng lợi trong chuyển giao chia thành các nhóm mục tiêu
cụ thể:
o

Nông dân nghèo

o

Phụ nữ nghèo

o

Dân tộc thiểu số

o

Nông dân vùng sâu vùng xa

Bên cạnh nhóm nhận kết quả chuyển giao công nghệ là nông dân,
nhóm hưởng lợi trong chuyển giao công nghệ còn bao gồm các tổ chức, các
nhóm cá nhân tham gia thực hiện chuyển giao Công nghệ. Đó là các cơ quan
nghiên cứu và Khuyến nông, khuyến lâm, các tổ chức phát triển, các cá nhân
và doanh nghiệp. Các cơ quan nghiên cứu là người hưởng lợi vì kết quả
nghiên cứu của họ được nông dân và thị trường chấp nhận. Các cơ quan
khuyến nông nhà nứơc là người được hưởng lợi từ chương trình chuyển giao
vì họ thực hiện chức năng quản lí nhà nứơc về khuyến nông, chuyển giao

của các cơ quan liên đới trong chuyển giao. Hệ thống khuyến nông càng được
tổ chứcc phù hợp với tập quán văn hoá, xã hội của cộng đồng bao nhiêi thì
hiệu quả chuyển giao càng cao bấy nhiêu. Kiến thức và sự hiểu biết của cán
bộ khuyến nông về kĩ thuật mà họ chuyển giao cho nông dân, khả năng am
hiểu của nông dân, khả năng phân tích vấn đề và cùng nông dân xây dựng giải
pháp, sự vận dụng có hiệu quả phương pháp khuyến nông và khả năng vận
18


động quần chúng quyết định rất lớn tới sự thành công của công tác chuyển
giao.
Thứ ba là công tác lập kế hoạch khuyến nông
Kế hoạch khuyến nông bao gồm việc xác định đúng nhu cầu của
nông dân cần giải quyết, xác định các giải pháp phù hợp với người dân, tổ
chức tốt nguồn lực thục hiện, đánh giá, rà soát và hoàn thiện quy trình kĩ
thuật và công nghệ có ảnh hưởng tới sự thành công của công tác chuyển giao
công nghệ tới nông dân. Xu hướng chung là các nước đang phát triển, áp
dụng phương pháp kế hoạch khuyến nông có sự tham gia của dân vào các
hoạt động chuyển giao.
Thứ tư là bản chất của công nghệ được chuyển giao tới nông dân
Nếu công nghệ giúp nông dân giải quyết đươcj khó khăn của họ, phù
hợp với nhu cầu của dân và của thị trường, phù hợp với khả năng đầu tư, trình
độ sử dụng của nông dân thì công tác chuyển giao dễ thành công hơn. Xu
hướng chung, ở những vùng sản xuất nông nghiệp còn khó khăn, ở các nước
đang phát triển là công nghệ chuyển giao nên đơn giản, tốn ít đầu tư, phù hợp
với điều kiện sản xuất cuả nông dân.
Thứ năm là các nhân tố thuộc về nông dân
Các nhân tố này bao gồm khả năng về vốn đầu tư, kĩ năng và kiến thức
của nông dân, hình thức tổ chức sản xuất (quy mô lớn hay nhỏ), trình độ văn
hoá, giới tính, lứa tuổi, kinh nghiệm và sự tiếp xúc xã hội và cộng đồng của

hình thức thích hợp giảm dần sự trợ cấp của chính phủ, tăng cường sự tham
gia của nông dân (Đỗ Kim Chung, 2005).
Nghiên cứu tình hình chuyển giao TBKT ở các nước trên thế giới có thể rút ra
một số kinh nghiệm chủ yếu sau (Đỗ Kim Chung, 2005):
1. Chuyển giao KTTB là cần thiết trong mọi chiến lược phát triển nông
nghiệp và nông thôn. Chuyển giao KTTB cần được coi là trọng tâm
trong tổ chức hệ thống nghiên cứu và phát triển nông nghiệp và nông
thôn. Nghiên cứu và chuyển giao là hai nhiệm vụ không thể tách rời.
2. Chuyển giao KTTB lấy chiến lược hướng cầu là chủ yếu: Phải dựa vào
nhu cầu của dân và của thị trường để xác định kĩ thuật cần đưa tới cho
nông dân.
20


3. Trợ cấp cho chuyển giao nên tiến hành ở thời kì đầu để khuyến khích
sự ứng dụng kĩ thuật mới. Việc trợ cấp trong chuyển giao sẽ được giảm
dần trong quá trình lan truyền của kĩ thuật mới. Đồng thời quá trình
chuyển giao KTTB phải đảm bảo phát huy nguồn lực của nông dân, khi
thị trường công nghệ và nền sản xuất hàng hoá phát triển, người nhận
chuyển giao phải trả phí cho công tác chuyển giao mà KTTB họ sử
dụng.
4. Chuyển dần công tác chuyển giao KTTB từ Nhà nước sang trách nhiệm
của các cơ quan nghiên cứu và phát triển có sự tham gia của thành phần
kinh tế công, kinh tế tư nhân.
5. Hiệu quả của công tác chuyển giao chỉ có thể đạt được khi quá trình
chuyển giao có sự tham gia đầy đủ của nông dân trong xác định nhu
cầu, phân tích vấn đề khó khăn. lựa chọn giải pháp, đóng góp nguồn
lực, tổ chức thử nghiệm, đánh giá và hoàn thiện.
6. Các chương trình chuyển giao của Chính phủ nên tập trung vào vùng
có tài nguyên nghèo (tài nguyên rừng, đất, nước bị giảm cấp, thời tiết

2.3.2 Thực tiễn những vấn đề về chuyển giao khoa học,công nghệ và xóa đói
giảm nghèo ở Việt Nam

Ở Việt Nam, đói, nghèo đang là vấn đề kinh tế - xã hội bức xúc. Xoá
đói, giảm nghèo toàn diện, bền vững luôn luôn được Đảng, Nhà nước hết sức
quan tâm và xác định là mục tiêu xuyên suốt trong quá trình phát triển kinh tế
- xã hội và là một trong những nhiệm vụ quan trọng góp phần phát triển đất
nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong gần 20 năm đổi mới, nhờ thực
hiện tốt công tác chuyển giao KTTB đã có những đóng góp quan trọng trong
việc xây dựng mô hình trình diễn, hướng dẫn nông dân sản xuất và áp dụng
KTTB vào sản xuất, từng bước chuyển từ sản xuất tự túc, tự cấp sang nền
nông nghiệp hàng hoá đa dạng và hiệu quả, hướng mạnh xuất khẩu, phát triển
ngành nghề nông thôn mới, tăng thu nhập, xoá đói giảm nghèo. Tỷ lệ hộ
nghèo giảm nhanh trong khoảng thời gian 5 năm từ 17,2% năm 2002 với 2,8
triệu hộ, xuống còn 8,3% năm 2006 với 1,44 triệu hộ, bình quân mỗi năm
giảm 34 vạn hộ, đến cuối năm 2007 còn khoảng dưới 7% với 1,1 triệu hộ.
Ngoài ra công tác chuyển giao KTTB trong thời gian qua đã đạt một số kết
quả sau (Đỗ Kim Chung, 2005):
1- Đã đáp ứng nhu cầu chỉ đạo của Đảng và Nhà nước
22


2- Tạo lòng tin và hưởng ứng của nông dân
3- Đã thực hiện chuyển giao KTTB tới nông dân theo các chương trình
khuyến nông có hiệu quả, đặc biệt trên lĩnh vực giống cây trồng vật nuôi có
ưu thế lai.
Công tác chuyển giao KTTB góp phần duy trì tốc độ tăng trưởng từ 4
– 4,5%, phát triển nông sản hàng hoá, đời sống nhân dân được cải thiện đáng
kể, đột phá trong chuyển giao KTTB là đưa những giống cây trồng, vật nuôi
năng suất cao, chất lượng tốt vào sản xuất áp dụng kĩ thuật canh tác tiên tiến

cấp, chưa huy động được nguồn lực của địa phương và nhất là của nhân dân.
Một số nơi chưa huy động được nguồn lực của nông dân và của cộng đồng
khi tham gia.
7. Hiện nay tuy cơ chế chính sách Khuyến nông tương đối đồng bộ nhưng
chính sách cho khuyến nông cơ sở chưa rõ ràng, chưa có sự thống nhất. Do
vậy, trong thời gian tới để đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả của công tác
chuyển giao cần khắc phục những hạn chế để phát huy những mặt tích cực.

24


PHẦN III: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU

3.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

3.1.1 Điều kiện tự nhiên

3.1.1.1 Vị trí địa lí
Anh Sơn là một huyện miền núi, nằm phía Tây Nam của tỉnh Nghệ An,
cách thành phố Vinh 100km về phía Tây, trên địa bàn có 19 xã và một thị
trấn. Có quốc lộ 7 chạy xuyên suốt theo chiều dài của huyện, có đường biên
giới giáp với nước bạn Lào.
Huyện Anh Sơn nằm trong phạm vi toạ độ địa lí là:
o

Từ 104055’ - 105015’ kinh độ đông.

o





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status