MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong thời gian qua, nền kinh tế Việt Nam không những phải đối mặt
với những khó khăn chung của kinh tế thế giới mà còn phải đối mặt với
nhiều bất ổn của kinh tế vĩ mô trong nước như tốc độ tăng trưởng kinh tế
chậm lại, thâm hụt ngân sách lớn và tỷ lệ lạm phát tăng cao. Điều đó đã làm
cho nền kinh tế nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng gặp nhiều khó
khăn, thách thức. Hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) tuy đã có
những chuyển biến mạnh mẽ, tăng trưởng nhanh về số lượng, nâng cao chất
lượng, mở rộng mạng lưới hoạt động, đáp ứng tốt hơn các nhu cầu của nền
kinh tế nhưng cũng đã bộc lộ một số hạn chế, yếu kém như tính cạnh tranh
và tính thanh khoản thấp, nhiều ngân hàng lâm vào tình trạng khó khăn về
tài chính, tỷ lệ nợ xấu tăng, trình độ quản trị yếu, xuất hiện những nguy cơ
hiện hữu gây mất ổn định kinh tế vĩ mô. Để giải quyết những vấn đề bất ổn
này, mua lại và sáp nhập cùng với một số cơ chế khác là những giải pháp
cần thiết giúp hệ thống NHTM tránh khỏi tình trạng đổ vỡ, giữ an toàn hệ
thống, khắc phục những hạn chế, yếu kém, nâng cao năng lực cạnh tranh,
đồng thời giúp các NHTM nhỏ gia tăng thị phần, qua đó hình thành các
ngân hàng lớn có sức cạnh tranh hơn trên thị trường trong nước và khu vực.
Pháp luật về mua lại, sáp nhập doanh nghiệp nói chung và đối với
NHTM ở Việt Nam đã được hình thành trong thời gian gần đây, góp phần
hoàn thiện hệ thống pháp luật, giải quyết được một số mục tiêu, yêu cầu cụ
thể của nền kinh tế và hệ thống ngân hàng nhưng còn có những hạn chế và
bất cập. Khung pháp lý về mua lại, sáp nhập còn sơ khai, chồng chéo và
mâu thuẫn, còn có những khoảng trống pháp lý để điều chỉnh các quan hệ
xã hội phát sinh trong thực tiễn khi thực hiện mua lại, sáp nhập và chưa tạo
được cơ sở pháp lý vững chắc để thúc đẩy hoạt động này. Trên thực tế đã có
nhiều bất cập khi thực hiện mua lại, sáp nhập NHTM thời gian qua, trong
đó có nhiều vấn đề liên quan đến cơ chế pháp lý cần phải giải quyết.
Nghiên cứu về mua lại, sáp nhập NHTM và pháp luật về mua lại, sáp
nhập NHTM trong thời gian gần đây đã trở thành chủ đề thu hút sự quan
+ Nghiên cứu, phân tích, đánh giá đúng đắn thực trạng pháp luật về
mua lại, sáp nhập doanh nghiệp nói chung và trong lĩnh vực NHTM; thực
tiễn thực hiện pháp luật về mua lại, sáp nhập NHTM ở Việt Nam góp phần
tạo luận cứ khoa học cho việc hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này.
+ Đưa ra phương hướng và các giải pháp cụ thể hoàn thiện pháp luật
về mua lại, sáp nhập NHTM ở Việt Nam hiện nay.
2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận án là pháp
luật về mua lại, sáp nhập NHTM và hoạt động mua lại, sáp nhập NHTM
dưới góc độ pháp lý.
- Phạm vi nghiên cứu: Luận án nghiên cứu pháp luật về mua lại, sáp
nhập NHTM ở Việt Nam trên các phương diện về tiêu chuẩn, điều kiện
mua lại, sáp nhập; trình tự, thủ tục mua lại, sáp nhập; hệ quả pháp lý khi
mua lại, sáp nhập và giải quyết tranh chấp khi mua lại, sáp nhập. Luận án
nghiên cứu một số văn bản pháp luật được ban hành từ năm 2004 đến năm
2015 và có hiệu lực thi hành trong khoảng thời gian từ khi được ban hành
đến hết năm 2015; nghiên cứu một số trường hợp mua lại, sáp nhập NHTM
đã thực hiện trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2015. Luận án không
nghiên cứu tất cả các loại hình NHTM, chỉ tập trung nghiên cứu về ngân
hàng thương mại cổ phần.
4. Những điểm mới của luận án
* Về lý luận:
Thứ nhất, NHTM là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt bởi chính
những đặc điểm của NHTM. Do đó việc nghiên cứu để phát hiện chính xác
và đầy đủ các đặc điểm của NHTM sẽ giúp xây dựng được một cơ chế pháp
lý hiệu quả nhằm giải quyết những vấn đề phát sinh khi thực hiện mua lại,
sáp nhập NHTM. Hoạt động ngân hàng có những đặc thù mà các lĩnh vực
Thứ tư, việc tìm ra những đặc điểm của pháp luật về mua lại, sáp
nhập ngân NHTM sẽ giúp xác định đúng những nội dung điều chỉnh chủ
yếu của pháp luật trong lĩnh vực này. Những đặc điểm chính của pháp luật
về mua lại, sáp nhập NHTM được xác định như: hoạt động mua lại, sáp
nhập NHTM được điều chỉnh bằng cả hệ thống luật chung và luật chuyên
ngành về ngân hàng; việc thành lập, hoạt động và tổ chức lại NHTM chịu
sự điều chỉnh trực tiếp của pháp luật về ngân hàng; khi thực hiện mua lại,
sáp nhập NHTM, ngoài việc sử dụng khung pháp lý như các doanh nghiệp
thông thường nhưng cần có những điều chỉnh riêng đối với loại hình này;
pháp luật chỉ cho phép NHTM được tiến hành mua lại, sáp nhập đối với
TCTD mà không cho phép TCTD hay các doanh nghiệp mua lại, sáp nhập
với NHTM; để thực hiện mua lại, sáp nhập NHTM cần phải tuân theo
những tiêu chuẩn, điều kiện chặt chẽ hơn so với các doanh nghiệp khác;
trình tự, thủ tục mua lại, sáp nhập NHTM phải tuân thủ nghiêm ngặt theo
quy định của pháp luật, có mức độ phức tạp cao hơn so với doanh nghiệp
khác; để đảm bảo an toàn hệ thống ngân hàng, tài chính, tiền tệ quốc gia,
đối với các NHTM yếu kém, có nguy cơ mất khả năng chi trả, mất khả năng
thanh toán, cơ quan quản lý ngân hàng có quyền yêu cầu NHTM đó phải
thực hiện tái cơ cấu, buộc sáp nhập, hợp nhất, mua lại.
4
Thứ năm, những nội dung điều chỉnh chủ yếu của pháp luật về mua
lại, sáp nhập NHTM được xác định là: tiêu chuẩn, điều kiện mua lại, sáp
nhập; trình tự, thủ tục mua lại, sáp nhập; hệ quả pháp lý khi mua lại, sáp
nhập và giải quyết tranh chấp khi mua lại, sáp nhập. Ngoài ra, còn có nhiều
quan hệ xã hội khác phát sinh khi thực hiện mua lại, sáp nhập NHTM cần
phải có pháp luật điều chỉnh.
* Về đánh giá thực trạng pháp luật và thực hiện pháp luật về mua
lại, sáp nhập ngân hàng thương mại ở Việt Nam hiện nay:
việc NHNN mua lại bắt buộc một số NHTM yếu kém trong thời gian qua
là để giải quyết tình thế nhưng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng nhằm tránh
nguy cơ đổ vỡ hệ thống ngân hàng, bảo đảm an toàn hệ thống tài chính,
tiền tệ quốc gia, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, bảo vệ quyền lợi của
người gửi tiền, đồng thời có tác dụng hữu hiệu trong việc ngăn chặn tình
trạng bất tuân thủ các yêu cầu, điều kiện bảo đảm an toàn đối với hoạt
động ngân hàng. Trong quá trình thực hiện, còn có nhiều vấn đề liên quan
đến cơ chế pháp lý cần phải giải quyết khi NHNN mua lại bắt buộc một số
NHTM yếu kém này. Xét trên góc độ pháp luật thì đã có căn cứ pháp lý
để NHNN mua lại bắt buộc đối với các ngân hàng này. Tuy nhiên việc
NHNN mua lại bắt buộc toàn bộ tài sản của NHTM với giá 0 đồng, không
phải mua lại toàn bộ số cổ phần thuộc quyền sở hữu của tất cả cổ đông,
nhưng tất cả cổ đông của NHTM bị chấm dứt toàn bộ quyền, lợi ích và tư
cách cổ đông là chưa có cơ sở pháp lý vững chắc.
* Về một số giải pháp sửa đổi, bổ sung pháp luật về mua lại, sáp
nhập ngân hàng thương mại ở Việt Nam hiện nay, luận án đã đề xuất
một số giải pháp mới như sau:
Thứ nhất, luận án kiến nghị thống nhất hình thức pháp lý về tổ
chức lại doanh nghiệp được quy định trong các văn bản pháp luật. Bổ
sung mua lại là một trong những hình thức pháp lý tổ chức lại doanh
nghiệp trong Luật doanh nghiệp để phù hợp với quy định của Luật cạnh
tranh. Luật các TCTD cần quy định cụ thể việc mua lại, sáp nhập đối với
NHTM, thay vì quy định chung là tổ chức lại TCTD dưới hình thức chia,
tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi hình thức pháp lý. Luật các TCTD và
các văn bản pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành cần bổ sung
các quy định khi thực hiện mua lại, sáp nhập NHTM về: tiêu chuẩn, điều
kiện mua lại, sáp nhập; trình tự, thủ tục mua lại, sáp nhập; hệ quả pháp lý
khi mua lại, sáp nhập và giải quyết tranh chấp khi mua lại, sáp nhập.
Thứ hai, luận án kiến nghị cần tiếp tục hoàn thiện, sửa đổi, bổ sung
các quy định về mua lại, sáp nhập NHTM, cụ thể là: định giá ngân hàng;
Chương 4: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về mua
lại, sáp nhập ngân hàng thương mại ở Việt Nam.
7
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
VÀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về mua lại, sáp nhập doanh
nghiệp, ngân hàng dưới góc độ kinh tế, tài chính và pháp lý. Các công trình
nghiên cứu này đã cung cấp những lý luận, kiến thức cơ bản về mua lại, sáp
nhập. Nhiều cuốn sách còn được coi là cẩm nang về mua lại, sáp nhập cho
các doanh nghiệp. Về cơ bản các công trình nghiên cứu này chủ yếu tiếp
cận dưới góc độ kinh tế, tài chính, không có nhiều công trình nghiên cứu về
mua lại, sáp nhập ngân hàng dưới góc độ pháp lý. Một số nội dung có liên
quan và đáng chú ý được một số nghiên cứu đề cập như hệ thống quy định
điều chỉnh chung hoạt động mua lại, sáp nhập ngân hàng, quá trình ra quyết
định của cơ quan quản lý ngân hàng, các vấn đề pháp lý cần lưu ý khi tham
gia giao dịch mua lại, sáp nhập. Những nghiên cứu này có giá trị tham khảo
quan trọng trong việc hình thành và phát triển ý tưởng khi thực hiện nghiên
cứu đề tài luận án.
1.1.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Nhiều nghiên cứu trong nước được thực hiện trong thời gian qua đã
tập trung phân tích, phản ảnh về mua lại, sáp nhập; pháp luật về mua lại,
sáp nhập doanh nghiệp, NHTM và các nghiên cứu có liên quan đến đề tài
luận án. Các công trình này đã phân tích và cung cấp thông tin về cơ sở lý
luận mua lại, sáp nhập và pháp luật về mua lại, sáp nhập đối với doanh
cứu, có sự lý giải thấu đáo để hoàn thiện pháp luật.
Nhìn chung, nhiều công trình đã công bố ở trong và ngoài nước có
những đóng góp quan trọng trong việc giải quyết những vấn đề lý luận,
thực tiễn, giúp hoàn thiện pháp luật mua lại, sáp nhập NHTM ở Việt Nam,
có thể tham khảo, kế thừa có chọn lọc trong quá trình nghiên cứu của đề tài
luận án.
1.2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.2.1. Cơ sở lý thuyết: Một số lý thuyết được sử dụng trong luận
án như sau:
+ Lý thuyết về phát triển NHTM;
+ Lý thuyết về tổ chức và hoạt động của NHTM trên cơ sở lý thuyết
chung về tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp;
+ Lý thuyết về hiệu quả trong hoạt động của tổ chức tín dụng;
+ Lý thuyết về M&A doanh nghiệp;
9
1.2.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, luận án sử dụng phương pháp tiếp cận đa
ngành và liên ngành. Để giải quyết tốt các nội dung của nghiên cứu, luận án
sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như:
- Phương pháp hệ thống hóa;
- Phương pháp tổng hợp, phân tích, thống kê;
- Phương pháp luật so sánh;
- Phương pháp nghiên cứu trường hợp;
- Phương pháp thống kê, điều tra xã hội học;
- Phương pháp xử lý, phân tích thông tin, dữ liệu.
Ngoài ra, phương pháp luận trong quá trình nghiên cứu của đề tài
luận án được thực hiện trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng và các
lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp mục tiêu; (2) Thực hiện hoạt động mua
lại, sáp nhập theo nguyên tắc tự nguyện, đáp ứng quyền tự do kinh doanh
của các chủ thể; (3) Tiêu chuẩn, điều kiện mua lại, sáp nhập được đặt ra
đối với một số loại hình doanh nghiệp; (4) Khi thực hiện mua lại, sáp
nhập phải tuân theo những trình tự, thủ tục nhất định; (5) Phát sinh những
hệ quả pháp lý khi thực hiện mua lại, sáp nhập.
2.1.1.3. Các phương thức mua lại, sáp nhập doanh nghiệp
Tùy thuộc vào mục tiêu, cấu trúc sở hữu, đặc điểm quản trị, văn hóa
công ty sẽ có cách thức thực hiện mua lại, sáp nhập chủ yếu như: phương
thức thương lượng; phương thức thu gom cổ phiếu; phương thức chào mua
11
công khai cổ phiếu trên thị trường chứng khoán; phương thức lôi kéo cổ đông
bất mãn; phương thức mua lại tài sản.
2.1.2. Pháp luật về mua lại, sáp nhập doanh nghiệp
2.1.2.1. Khái niệm pháp luật về mua lại, sáp nhập doanh nghiệp
Pháp luật về mua lại, sáp nhập doanh nghiệp được hiểu là tổng hợp
các quy phạm pháp luật thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau để điều chỉnh các
quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thực hiện mua lại, sáp nhập
doanh nghiệp.
2.1.2.2. Nội dung pháp luật về mua lại, sáp nhập doanh nghiệp
Pháp luật về mua lại, sáp nhập doanh nghiệp cần đáp ứng vai trò là
điều kiện khung pháp lý để một giao dịch mua lại, sáp nhập doanh nghiệp
được diễn ra trên thực tế và an toàn. Theo đó, pháp luật về mua lại, sáp
nhập doanh nghiệp bao gồm các nội dung chính: Thứ nhất, xác định nguyên
tắc pháp lý khi thực hiện mua lại, sáp nhập. Thứ hai, xác định điều kiện
mua lại, sáp nhập. Thứ ba, xác định trình tự, thủ tục mua lại, sáp nhập. Thứ
tư, xác định hệ quả pháp lý khi mua lại, sáp nhập. Thứ năm, xác định giải
quyết tranh chấp phát sinh khi mua lại, sáp nhập. Bên cạnh việc xác định
2.2.1.2. Các đặc trưng cơ bản về mua lại, sáp nhập ngân hàng
thương mại
Những đặc trưng cơ bản của hoạt động mua lại, sáp nhập NHTM
được xác định như sau: Một là, NHTM thực hiện mua lại, sáp nhập với tư
cách là bên mua lại hoặc nhận sáp nhập với NHTM khác; các doanh nghiệp
khác trừ ngân hàng không được mua lại, nhận sáp nhập với chủ thể bên kia
là ngân hàng. Hai là, khi mua lại, sáp nhập NHTM trong tất cả các giai
đoạn trước, trong và sau khi thực hiện đều phải đáp ứng hoạt động ngân
hàng liên tục, ổn định, không ảnh hưởng đến quyền lợi người gửi tiền và
quyền, nghĩa vụ của các bên có liên quan. Ba là, trình tự, thủ tục khi thực
hiện mua lại, sáp nhập NHTM phức tạp hơn so với các loại hình doanh
nghiệp khác. Bốn là, khi thực hiện mua lại, sáp nhập MHTM trước tiên phải
bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền, sau đó mới tính đến
quyền lợi của bên thứ ba và quyền lợi của nhà nước. Năm là, thời điểm
chuyển giao quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp giữa các bên khi thực hiện
mua lại, sáp nhập NHTM có ý nghĩa quan trọng.
2.2.1.3. Bản chất pháp lý của mua lại, sáp nhập ngân hàng
thương mại
Bản chất pháp lý khi mua lại, sáp nhập NHTM chính là việc giành
quyền kiểm soát doanh nghiệp thông qua các hoạt động đầu tư, tổ chức lại
doanh nghiệp; việc chuyển giao tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp
giữa các bên, đồng thời xác định tư cách pháp lý của các bên sau khi thực
hiện mua lại, sáp nhập.
2.2.1.4. Phương thức thực hiện mua lại, sáp nhập ngân hàng
thương mại
13
Các phương thức thực hiện mua lại, sáp nhập NHTM cũng như đối
với các doanh nghiệp thông thường, đó là: thương lượng; chào mua, chào
NHTM đó phải thực hiện tái cơ cấu, buộc sáp nhập, hợp nhất, mua lại. Chín
là, ngân hàng sau mua lại, sáp nhập phải tuân thủ những chuẩn mực quốc
gia và tiếp cận các tiêu chuẩn quốc tế về an toàn vốn.
14
2.2.4. Những nội dung điều chỉnh chủ yếu của pháp luật về mua
lại, sáp nhập ngân hàng thương mại
Trên cơ sở lý thuyết chung về mua bán, sáp nhập doanh nghiệp cùng
với những đặc thù của NHTM, mua lại, sáp nhập NHTM, pháp luật về mua
lại, sáp nhập NHTM được xác định bao gồm các nội dung điều chỉnh chủ
yếu như sau:
2.2.4.1. Xác định tiêu chuẩn, điều kiện mua lại, sáp nhập
Xác định tiêu chuẩn, điều kiện mua lại, sáp nhập bao gồm các nội
dung: Thứ nhất, tiêu chuẩn, điều kiện về tập trung kinh tế khi thực hiện
mua lại, sáp nhập NHTM. Thứ hai, tiêu chuẩn, điều kiện về vốn, an toàn
vốn khi thực hiện mua lại, sáp nhập NHTM. Thứ ba, tiêu chuẩn, điều kiện
về tỷ lệ sở hữu vốn cổ phần khi thực hiện mua lại, sáp nhập NHTM. Thứ
tư, tiêu chuẩn, điều kiện về giải quyết quyền và lợi ích hợp pháp của
người gửi tiền, người lao động khi thực hiện mua lại, sáp nhập NHTM.
Thứ năm, tiêu chuẩn, điều kiện về phương án mua lại, sáp nhập và sự chấp
thuận phương án mua lại, sáp nhập của cơ quan quản lý có thẩm quyền
khi thực hiện mua lại, sáp nhập NHTM. Căn cứ vào các tiêu chuẩn, điều
kiện thực hiện mua lại, sáp nhập NHTM nêu trên, tiêu chuẩn, điều kiện
thực hiện mua lại, sáp nhập NHTM được xác định trong trường hợp thực
hiện tự nguyện và bắt buộc.
2.2.4.2. Xác định trình tự, thủ tục mua lại, sáp nhập
Căn cứ vào việc mua lại, sáp nhập được thực hiện theo hình thức tự
nguyện hay bắt buộc để xác định trình tự, thủ tục mua lại, sáp nhập NHTM.
Ngoài ra, trong quá trình mua lại, sáp nhập, còn có nhiều trình tự, thủ tục
16
CHƯƠNG 3
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN
PHÁP LUẬT VỀ MUA LẠI, SÁP NHẬP NGÂN HÀNG THƯƠNG
MẠI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
3.1. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ MUA LẠI, SÁP NHẬP
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
3.1.1. Một số quy định chung điều chỉnh hoạt động mua lại, sáp nhập
Khung pháp lý liên quan đến hoạt động mua lại, sáp nhập ở Việt
Nam được quy định tại nhiều văn bản luật khác nhau như: Bộ luật dân sự,
Luật doanh nghiệp, Luật đầu tư, Luật cạnh tranh, Luật chứng khoán, Luật
sở hữu trí tuệ, Luật thuế, Luật kế toán, Bộ Luật lao động, Luật đất đai, Luật
NHNN, Luật các TCTD... Bên cạnh hệ thống các quy định pháp luật của
Việt Nam, hoạt động mua lại, sáp nhập phải tuân theo các thoả thuận, hiệp
ước song phương và đa phương như các cam kết của Việt Nam gia nhập
WTO, các quy định trong Hiệp định thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ, các
Hiệp định ASEAN... Mỗi văn bản luật trên chi phối hay điều chỉnh các vấn
đề khác nhau liên quan đến hoạt động mua lại, sáp nhập.
3.1.2. Quy định pháp luật về mua lại, sáp nhập ngân hàng thương mại
3.1.2.1. Quy định về tiêu chuẩn, điều kiện mua lại, sáp nhập
Quy định về tiêu chuẩn, điều kiện mua lại, sáp nhập bao gồm: Quy
định tiêu chuẩn, điều kiện về tập trung kinh tế khi thực hiện mua lại, sáp
nhập NHTM. Quy định tiêu chuẩn, điều kiện về vốn, an toàn vốn khi thực
hiện mua lại, sáp nhập NHTM. Quy định tiêu chuẩn, điều kiện về tỷ lệ sở
hữu vốn cổ phần khi thực hiện mua lại, sáp nhập NHTM. Quy định tiêu
chuẩn, điều kiện về giải quyết quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền,
người lao động khi thực hiện mua lại, sáp nhập NHTM. Quy định tiêu
chuẩn, điều kiện về phương án mua lại, sáp nhập và sự chấp thuận phương
Pháp luật về mua lại, sáp nhập NHTM tuy mới hình thành trong thời
gian gần đây nhưng đã đặt nền móng để điều chỉnh hoạt động mua lại, sáp
nhập NHTM ở Việt Nam. Những văn bản pháp luật được ban hành có vai
trò quan trọng trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến mua
lại, sáp nhập NHTM. Pháp luật về mua lại, sáp nhập NHTM ở Việt Nam đã
được từng bước hoàn thiện, phục vụ cho mục tiêu tái cơ cấu nền kinh tế, tái
cấu trúc hệ thống ngân hàng. Các quy định của pháp luật hiện hành đã giúp
các NHTM chủ động thực hiện mua lại, sáp nhập phù hợp với định hướng,
chiến lược phát triển của ngân hàng, đồng thời có cơ sở pháp lý để tái cấu
trúc hệ thống ngân hàng, can thiệp, xử lý các NHTM yếu kém thông qua
buộc mua lại, sáp nhập nhằm tránh đổ vỡ hệ thống ngân hàng, tài chính,
tiền tệ quốc gia.
Bên cạnh những thành công mang lại, pháp luật về mua lại, sáp nhập
NHTM ở Việt Nam còn có một số tồn tại, hạn chế như khung pháp lý điều
chỉnh hoạt động mua lại, sáp nhập nói chung còn thiếu và chưa cụ thể; khung
pháp lý điều chỉnh hoạt động mua lại, sáp nhập NHTM còn nhiều bất cập. Văn
bản quy phạm pháp luật điều chỉnh trực tiếp hoạt động mua lại, sáp nhập
18
NHTM có nhiều hạn chế. Trình tự, thủ tục mua lại, sáp nhập NHTM còn phức
tạp, rườm rà. Chưa có văn bản pháp luật quy định về quy trình tiếp nhận, xử lý
các TCTD yếu kém...
3.2. THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ MUA LẠI,
SÁP NHẬP NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
3.2.1. Một số trường hợp thực hiện mua lại, sáp nhập ngân hàng
thương mại
Đề tài luận án nghiên cứu hai trường hợp mua lại, sáp nhập NHTM đã
thực hiện từ năm 2010 trở lại đây, đó là: Trường hợp NHTM cổ phần Nhà Hà
Nội sáp nhập vào NHTM cổ phần Sài Gòn-Hà Nội; Trường hợp NHNN mua
PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
VỀ MUA LẠI, SÁP NHẬP NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Ở VIỆT NAM
4.1. PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ MUA
LẠI, SÁP NHẬP NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM
Phương hướng hoàn thiện pháp luật về mua lại, sáp nhập NHTM ở Việt
Nam được xác định dựa trên một số yêu cầu chính sau đây:
4.1.1. Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu về mua lại, sáp nhập
doanh nghiệp
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu tạo hành lang pháp lý khi thực
hiện mua lại, sáp nhập doanh nghiệp bao gồm các nội dung: Thứ nhất, pháp
luật về mua lại, sáp nhập phải đáp ứng yêu cầu về tính thống nhất, đồng bộ,
minh bạch và hiệu quả trong hệ thống pháp luật, phù hợp với những cam
kết quốc tế của các quốc gia thành viên. Thứ hai, pháp luật về mua lại, sáp
nhập phải rõ ràng, thông suốt, đúng đắn. Các quy phạm pháp luật phải mang
tính hệ thống, nhất quán, chặt chẽ, tránh trùng lắp và mâu thuẫn. Pháp luật về
mua lại, sáp nhập phải tạo ra hành lang pháp lý bình đẳng cho các chủ thể để
có thể tham gia vào các quan hệ pháp lý khi thực hiện mua lại, sáp nhập...
Thứ ba, văn bản pháp luật chuyên biệt điều chỉnh hoạt động mua lại, sáp
nhập đối với một số loại hình doanh nghiệp cần được bổ sung những quy
định về nội dung bên cạnh quy định về mặt thủ tục. Thứ tư, các văn bản
pháp luật điều chỉnh hoạt động mua lại, sáp nhập cần được xây dựng sao
cho vừa mang tính phù hợp thực tiễn, vừa phải có tính dự liệu để đảm bảo
điều chỉnh linh hoạt các hoạt động này.
4.1.2. Hoàn thiện pháp luật đáp ứng các yêu cầu về mua lại, sáp
nhập ngân hàng thương mại
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng các yêu cầu về mua lại, sáp nhập
NHTM bao gồm các nội dung: Thứ nhất, pháp luật mua lại, sáp nhập
NHTM cần được hoàn thiện theo hướng đảm bảo nguyên tắc không để xảy
ra đổ vỡ và mất an toàn hoạt động ngân hàng ngoài tầm kiểm soát của nhà
pháp lý để thu hút vốn từ nước ngoài thông qua hoạt động mua lại, sáp nhập
và tổ chức lại doanh nghiệp; bảo đảm an toàn hệ thống ngân hàng, bảo đảm
ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát hiệu quả của nhà nước đối với nền kinh
tế và hệ thống ngân hàng; tạo môi trường kinh doanh bình đẳng, phát huy
tính cạnh tranh của các thành phần kinh tế.
4.2. CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ MUA
LẠI, SÁP NHẬP NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM
4.2.1. Nhóm giải pháp hoàn thiện các quy định về mua lại, sáp
nhập
Nhóm giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về mua lại, sáp
nhập bao gồm các nội dung sau: Một là, sửa đổi, bổ sung hình thức pháp lý
21
về mua lại, sáp nhập để thống nhất giữa các luật điều chỉnh; sửa đổi, bổ
sung các quy định về tiêu chuẩn, điều kiện, trình tự, thủ tục, hệ quả pháp lý
và giải quyết tranh chấp khi thực hiện mua lại, sáp nhập; sửa đổi, bổ sung
các quy định về về cơ sở pháp lý cho việc Nhà nước được quyền mua lại
bắt buộc NHTM yếu kém. Hai là, hoàn thiện các quy định giới hạn về mức
độ tập trung kinh tế của pháp luật cạnh tranh. Ba là, xây dựng Nghị định
quy định chi tiết Luật doanh nghiệp có nội dung tổ chức lại doanh nghiệp.
Bốn là, hoàn thiện Thông tư điều chỉnh hoạt động mua lại, sáp nhập tổ chức
tín dụng. Năm là, bổ sung một số quy định cụ thể khi giao dịch mua lại, sáp
nhập ngân hàng thương mại được xác lập. Sáu là, quy định về lộ trình thực
hiện quy định về tỷ lệ an toàn, nợ xấu, sở hữu chéo khi thực hiện mua lại,
sáp nhập ngân hàng thương mại. Bảy là, bổ sung quy định về cơ quan giám
sát khi mua lại, sáp nhập ngân hàng thương mại. Tám là, quy định chặt chẽ
về công bố thông tin khi mua lại, sáp nhập ngân hàng thương mại. Chín là,
quy định về tỷ lệ sở hữu cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài tại các ngân
hàng thương mại trong nước, đặc biệt khi xử lý ngân hàng thương mại yếu
dụng khung pháp lý như đối với các doanh nghiệp thông thường khi thực
hiện mua lại, sáp nhập ngân hàng thương mại, pháp luật về mua lại, sáp
nhập ngân hàng thương mại có những điều chỉnh riêng so với các loại hình
doanh nghiệp khác.
Thứ ba, những nội dung điều chỉnh chủ yếu của pháp luật về mua lại,
sáp nhập ngân hàng thương mại được xác định bao gồm: tiêu chuẩn, điều
kiện mua lại, sáp nhập; trình tự, thủ tục mua lại, sáp nhập; hệ quả pháp lý
khi mua lại, sáp nhập và giải quyết tranh chấp khi mua lại, sáp nhập. Ngoài
ra, còn có nhiều quan hệ xã hội khác phát sinh khi thực hiện mua lại, sáp
nhập ngân hàng thương mại cần phải có pháp luật điều chỉnh.
Thứ tư, pháp luật về mua lại, sáp nhập ngân hàng thương mại ở Việt
Nam liên quan đến nhiều lĩnh vực pháp luật khác nhau. Luật các tổ chức tín
dụng là luật chuyên ngành điều chỉnh trực tiếp đến việc thành lập, hoạt
động và tổ chức lại ngân hàng thương mại, đồng thời được đặt trong mối
quan hệ với các luật khác khi các giải quyết các vấn đề liên quan đến việc
mua lại, sáp nhập ngân hàng thương mại.
Thứ năm, bên cạnh những thành công mang lại, pháp luật về mua lại,
sáp nhập ngân hàng thương mại ở Việt Nam còn có một số tồn tại, hạn chế
như khung pháp lý còn thiếu, chưa cụ thể và chặt chẽ, còn có những khoảng
trống pháp lý để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh khi thực hiện mua
lại, sáp nhập; chưa tạo được cơ sở pháp lý vững chắc để thúc đẩy hoạt động
này. Trong quá trình thực hiện mua lại, sáp nhập ngân hàng thương mại thời
23
gian qua, đã có nhiều bất cập nảy sinh, trong đó có những vấn đề liên quan
đến cơ chế pháp lý cần phải giải quyết.
Thứ sáu, điều chỉnh pháp lý về mua lại, sáp nhập ngân hàng thương
mại bao gồm nhiều nội dung. Trên cơ sở một số vấn đề cốt lõi về phương
diện pháp lý đã được nghiên cứu theo hướng tiếp cận của đề tài luận án, còn