El
a
m
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠỊHỌC CỬU LONG
LUẢN VĂN THẠC SỸ
PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐÉN Sự
HÀI LÒNG CỦA DU KHÁCH NỘI ĐỊA ĐỐI VỚI
DU LỊCH SINH THÁI TẠI VĨNH LONG
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
MÃ NGÀNH: 60340102
Học viên thực hiện: NGUYỄN XUÂN GIANG Mã số
học viên: 0131245007 Khoá học: 1
Giáo viên hướng dẫn: PGS.TS NGUYỄN PHÚ SON
Vĩnh Long, tháng 12 năm 2015
Ì1
íf
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan rằng đề tài tài “Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng
đối với du lịch sinh thái tại Vĩnh Long. Kết quả phân tích cho thấy sự hài lòng của
du khách phụ thuộc phần lớn vào điều kiện an ninh, an toàn; mức độ đáp ứng, năng
lực phục vụ và sự đồng cảm; cơ sở vật chất phục vụ du lịch; chất lượng sản phẩm
dịch vụ và mức độ hợp lý của chi phí.
Thông qua kết quả phân tích tác giả đã đề xuất một số giải pháp để nâng cao
mức độ hài lòng của du khách góp phần làm phát triển du lịch sinh thái tại Vĩnh
Long trong thời gian tới.
4
DLST:
TP:
ĐBSCL:
EFA :
DANH MỤC CÁC TỪ VIÉT
TẮT
Du• lịch sinh thái.
Thành phố.
Đồng bằng sông Cửu Long.
Phân tích nhân tố khám phá.
5
DANH MỤC BẢNG
BIỂU
1 năm 2015 đề án "Xây dựng sản phẩm đặc thù vùng đồng bằng sông Cửu Long"
được Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phê duyệt, trong đó phát triển sản
phẩm du lịch đặc thù của Vĩnh Long ở cấp độ quốc gia là tham quan trải nghiệm
cuộc sống của cộng đồng gắn với những giá trị cảnh quan sông nước và văn hóa
bản địa. Với sự ưu đãi của tự nhiên Vĩnh Long có hệ thống sông rạch chằng chịt
gồm 91 sông kênh rạch liên thông nhau, nhiều cù lao, phù sa màu mỡ, rất thuận lợi
cho việc phát triển du lịch sinh thái. Sở hữu nguồn tài nguyên du lịch dồi dào, song
du lịch Vĩnh Long nhiều năm nay phát triển chưa tương xứng với tiềm năng. Do
thiếu sản phẩm du lịch đặc trưng, sự liên kết vùng dù đã có nhưng hết sức lỏng lẻo,
việc liên kết phát triển sản phẩm du lịch đặc thù và xúc tiến quảng bá du lịch chưa
được như mong muốn. Chính vì vậy đã làm, ảnh hưởng đến vị thế và sức cạnh tranh
du lịch. Bên cạnh đó một trong những điểm yếu lớn nhất của du lịch ĐBSCL hiện
nay là sự giống nhau của các sản phẩm và hướng phát triển điểm đến trong vùng. Đi
đến đâu du khách cũng được thăm thú vườn cây, nghe đờn ca tài tử, ngắm chợ nổi
trên sông... Điều này dẫn đến sự nhàm chán, giảm tính cạnh tranh của các điểm đến.
Đồng thời du khách cũng khó nhận ra nét đặc trưng, độc đáo của từng điểm đến,
yếu tố rất quan trọng trong việc hấp dẫn và thuyết phục du khách.. Du lịch kiểu sao
chép chẳng đem lại cho du khách cảm giác mới lạ nào. Nguyên tắc làm du lịch là
phải luôn tự làm mới mình, du lịch ĐBSCL dường như chưa làm được điều này.
4.6. Từ những lý do trên, đề tài “Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài
lòng của du khách nội địa đối với du lịch sinh thái tại Vĩnh Long” thật sự cần
thiết nghiên cứu. Để biết được những gì du khách đã hài lòng và chưa hài lòng về
loại hình du lịch sinh thái của tỉnh Vĩnh Long, để từ đó đề xuất những giải pháp để
thúc đẩy ngành du lịch của tỉnh nói chung, và của loại hình du lịch này nói riêng.
8
1.2.
1.2.3.
Câu hỏi nghiên cứu:
-
Thực trạng hoạt động du lịch sinh thái thời gian qua ở Vĩnh Long như thế nào?
-
Mức độ hài lòng của du khách nội địa đối với chất lượng dịch vụ du lịch sinh thái
Vĩnh Long như thế nào?
-
Những yếu tố nào làm ảnh hưởng đến mức độ hài lòng của du khách?
-
Cần phải làm gì để thúc đẩy cho loại hình du lịch này ở Vĩnh Long phát triển?
1.3.
-
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng:. Mức độ hài lòng của du khách nội địa đối với chất lượng dịch vụ du
lịch sinh thái tại Vĩnh Long.
-
4.17. Chương 4: Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của du khách
và các giải pháp phát triển du lịch sinh thái Vĩnh Long.
4.18. Chương 5: Kết luận và kiến nghị.
4.19. Tóm tắt chương 1
4.20.
Chương này nhằm mục đích trình bài tầm quan trọng của đề tài, các
mục tiêu của đề tài, giới hạn về không gian, thời gian nghiên cứu của đề
tài. Kết quả mong đợi của đề tài đạt được những gì và đối tượng nào được
hưởng lợi từ việc nghiên cứu.
1
0
4.21.
2.1.
2.1.1.
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP
4.22. NGHIÊN CỨU
Cơ sở lý luận
Các khái niệm cơ bản về du lịch
4.23.
4.24.
Khái niệm du lịch
Ngày nay, du lịch đã trở thành một hiện tượng kinh tế xã hội phổ
hòa hàng loạt quan hệ và hiện tượng lấy sự tồn tại và phát triển kinh tế, xã hội nhất
định làm cơ sở, lấy chủ thể du lịch, khách thể du lịch và trung gian du lịch làm điều
kiện.
4.29.
Theo nhà kinh tế học người Áo Jozep Stander, nhìn từ góc độ du
khách thì : Khách du lịch là loại khách đi theo ý thích ngoài nơi cư trú thường
xuyên để thỏa mãn sinh hoạt cao cấp mà không theo đuổi mục đích kinh tế.
4.30.
Do hoàn cảnh (thời gian, khu vực) khác nhau, dưới mỗi gốc độ
nghiên cứu khác nhau, mỗi người có cách hiểu khác nhau về du lịch. Nhưng dù hiểu
như thế nào đi nữa thì du lịch vừa là một lĩnh vực kinh doanh các dịch vụ nhằm
thỏa mãn nhu cầu của du khách vừa là một hiên tượng xã hội góp phần nâng cao tri
thức, phục hồi sức khỏe cộng đồng.
2.1.1.2.
Phân loại du lịch
4.31. + Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ : được chia làm 2 loại :
4.32.
Du lịch quốc tế (International Tourism) : là hình thức du lịch mà ở
đó điểm xuất phát và điểm đến của du khách nằm trên lãnh thổ các quốc gia khác
Du lịch thể thao
-
Du lịch công vụ
-
Du lịch tôn giáo
-
Du lịch khám phá
-
Du lịch thăm hỏi (thăm viếng)
-
Du lịch quá cản
4.36. + Căn cứ vào phương tiện giao thông :
-
Du lịch bằng xe đạp, mô tô
-
thiếu niên
4.38. + Căn cứ vào thời gian đi du lịch :
-
Du lịch dài ngày thường là 2 tuần đến 5 tuần.
-
Du lịch ngắn ngày có thời gian dưới 2 tuần (du lịch cuối tuần).
4.39. + Căn cứ vào đặc điểm đại lý của điểm du lịch :
-
Du lịch miền biển : mục đích chủ yếu của du khách là tắm biển, tắm nắng và
tham gia các hoạt động thể thao dưới nước.
-
Du lịch núi : thỏa mãn nhu cầu tham quan cảnh đẹp hùng vĩ của núi rừng, nghỉ
dưỡng, leo núi....
-
Du lịch đô thị : Các thủ đô, thành phố có sức hấp dẫn đối với khách du lịch bởi
các công trình kiến trúc mỹ thuật, nền văn hóa đặ sắc, độc đáo tầm cỡ quốc gia và
quốc tế
-
Du lịch trọn gói : giá của chương trình bao gồm vận chuyển, lưu trú, ăn uống và
dịch vụ tham quan, mức giá trọn gói thường rẻ hơn so với mua riêng lẻ từng phần
dịch vụ trong tour trọn gói
-
Mua từng phần dịch vụ của tour du lịch : du khách chỉ mua từng dịch vụ như dịch
vụ vận chuyển hoặc dịch vụ lưu trú.
2.1.1.3.
Mối tương tác giữa du lịch và các lĩnh vưc khác
4.44. Du lịch và xã hội
4.45.
Nhận thức của cộng đồng xã hội về thế giới xung quanh nói chung,
về hiện tượng du lịch nói riêng có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động này. Ngày nay,
việc đi du lịch không chỉ có ý nghĩa là thỏa mãn mục đích, nhu cầu được đặt ra cho
chuyến đi mà còn phần nào thỏa mãn nhu cầu thể hiện mình trong xã hội của con
người. Ở nhiều nước trên thế giới, số lần đi du lịch là một trong những tiêu chí cơ
bản để đánh giá mức sống của người dân. Trái lại, ở một số nước khác du khách
được nhìn như những kẻ vô công rỗi nghề hoặc do không muốn chấp nhận sự thâm
nhập của lối sống khác vào cộng đồng, du lịch được xem là một hiểm họa cần ngăn
chặn. Hai cách nhìn như vậy đã dẫn đến hai thái độ khác nhau, có ảnh hưởng trái
ngược đến sự phát triển của du lịch.
4.46.
4.49.
Một trong những chức năng chính của du lịch là giao lưu văn hóa
giữa các cộng đồng. Khi đi du lịch du khách muốn được thâm nhập vào các hoạt
động văn hóa của địa phương. Song nhiều khi sự thâm nhập với mục đích chính
đáng bị lạm dụng thì sự thâm nhập biến thành sự xâm hại. Mặt khác, sự kỳ lạ hấp
dẫn, sự phóng đại cường điệu hay thi vị hóa lối sống và biểu hiện văn hóa của một
nhóm dân tộc thiểu số hay một cộng đồng là phổ biến trong ngành du lịch. Do
muốn tăng tính cạnh tranh, những người điều hành và quảng bá du lịch đã đưa các
cộng đồng dân tộc thiểu số ra thị trường như một mặt hàng mới tinh khôi, thật tự
nhiên, hấp dẫn kỳ lạ, mang tính truyền thống, nguyên thủy... Một vấn đề khác nữ đó
là sự cưỡng ép, làm biến dạng những tập tục văn hóa, lễ hội và các nghi lễ đặc thù
dân tộc của những người tổ chức tour để mua vui cho du khách. Một vấn đề được
đặt ra ở đây là làm sao còn gọi là nguyên bản khi một lễ hội truyền thống hằng năm
được tái tạo lại thể hiện hàng tuần, thay đổi hàng tháng, biến những sự kiện văn
hóa, lễ hội đơn giản nhưng mang đầy ý nghĩa, bản sắc dân tộc thành lòe loẹt và có
sức hấp dẫn đối với du khách. Hơn nữa, một trong những xu hướng thường thấy ở
các nước nghèo đón du khách ở các nước giàu là người bản xứ nhất là giới trẻ ngày
càng chối bỏ truyền thống và thay đổi cách sống theo mốt du khách. Nguyên nhân
là do trong hoạt động kinh doanh của người dân bản xứ dùng chuẩn của du khách
để làm vừa lòng họ nhằm tối đa hóa được lợi nhuận. Bên cạnh đó, đó tư tưởng vọng
ngoại, người dân bản xứ đánh giá cao lối sống của du khách cho đây là biểu hiện
của văn minh, giàu có,... Ảnh hưởng của hoạt động du lịch đến văn hóa và xã hội
còn được thể hiện qua quan hệ của du khách và người dân địa phương. Nhìn chung
theo thời gian, thái độ của người dân sở tại đối với du khách thay đổi dần từ tích
cực sang tiêu cực. Vào thời gian đầu, khi những du khách xuất hiện người dân địa
phương tỏ ra vô cùng háo hức, du khách được đón tiếp nồng nhiệt nhiều khi thái
lịch tự nhiên. Sự tập trung quá nhiều người và thường xuyên tại điểm du lịch đã làm
cho thiên nhiên không kịp phục hồi và đi đến chỗ bị hủy hoại, uy hiếp đời sống một
số loài động vật hoang dã, đẩy chúng ra khỏi nơi cư trú yên ổn trước đây để tìm nơi
ở mới... Hơn nữa, hoạt động du lịch còn làm gia tăng lượng rác thải, ô nhiễm không
khí... Nhưng trong thực tế có rất ít người làm du lịch thực sự quan tâm đến môi
trường
2.1.1.3.4.
4.53.
Du lịch và kinh tế
về phương diện kinh tế, du lịch là một ngành dịch vụ mà sản phẩm
của nó dựa trên và bao gồm những sản phẩm có chất lượng cao của nhiều ngành
kinh tế khác nhau. Tuy du lịch là một ngành có định hướng tài nguyên rõ ràng
nhưng khi nền kinh tế xã hội thấp kém thì tài nguyên phong phú cũng khó có thể
phát triển du lịch được. Rõ ràng là nền kinh tế tác động trực tiếp và góp phần thúc
đẩy nhu cầu đi du lịch. Mặt khác, kinh tế phát triển tạo môi trường thuận lợi cho
việc cung ứng các nhu cầu của khách. Hầu như tất cả các ngành kinh tế đều tham
gia vào thúc đẩy sự phát triển của du lịch. Trong thời gian xây dựng ban đầu, ngành
xây dựng và vật liệu xây dựng đóng góp những công trình kiến trúc đẹp, tiện nghi
vừa là công cụ phục vụ du khách, vừa là tài nguyên góp phần hấp dẫn khách đến và
lưu lại lâu hơn. Ngành nông nghiệp cung cấp cho các khách sạn, nhà hàng lương
thực, thực phẩm phục vụ cho du khách. Ngành công nghiệp dệt cung cấp các loại
vải trang trí cho phòng khách sạn, khăn trải bàn,...Công nghệ thông tin phát triển sẽ
góp phần quảng bá cho du lịch một cách nhanh chóng và hiệu quả. Ngành giao
thông vận tải phát triển cả về số lượng và chất lượng sẽ giúp cho việc vận chuyển
thuận tiện hơn và rút ngắn thời gian đi lại cho du khách...
4.54.
động du lịch giúp cho các dân tộc xích lại gần nhau, hiểu sâu hơn các giá trị văn
hóa của nước bạn. Thông qua một chuyến đi du lịch thăm lại chiến trường xưa của
các cựu chiến binh Pháp, Mỹ đã giúp họ từ chổ mặc cảm, kỳ thị, ngại ngùng trở nên
cởi mở hơn và có mối thiện cảm sâu sắc. Nhiều cựu chiến binh sau khi đi du lịch
như vậy đã trở thành thành viên tích cực tuyên truyền, xây dựng và vun đắp cho
tình hữu nghị giữa hai dân tộc. Tất nhiên không phải không có ảnh hưởng tiêu cực
của du lịch về mặt an ninh trật tự và an toàn xã hội. Du lịch còn là con đường mà
các thế lực phản động thường hay sử dụng để tuyên truyền, kích động. Đội lốt du
khách, có những kẻ đã thâm nhập sâu vào trong nước để móc nối, gầy dựng cơ sở.
2.1.2.
Du lịch sinh thái
4.56. ♦♦♦ Khái niệm du lịch Sinh thái
4.57.
Ngày nay sự hiểu biết về du lịch sinh thái đã phần nào được cải
thiện, thực sự đã có một thời gian dài du lịch sinh thái là chủ đề nóng của các hội
thảo về chiến lược và chính sách bảo tồn và phát triển các vùng sinh thái quan trọng
của các quốc gia và thế giới. Thực sự đã có nhiều nhà khoa học danh tiếng tiên
phong nghiên cứu lĩnh vực này, điển hình như :
4.58.
Hector Ceballos-Lascurain- một nhà nghiên cứu tiên phong về du
lịch sinh thái (DLST), định nghĩa DLST lần đầu tiên vào năm 1987 như sau: "Du
lịch sinh thái là du lịch đến những khu vực tự nhiên ít bị ô nhiễm hoặc ít bị xáo trộn
với những mục tiêu đặc biệt nghiên cứu, trân trọng và thưởng ngoạn phong cảnh và
4.66.
Theo Hiệp hội Du lịch Sinh Thái (The Internatonal Ecotourism
society) thì “DLST là du lịch có trách nhiệm với các khu thiên nhiên là nơi bảo tồn
môi trường và cải thiện phúc lợi cho nhân dân địa phương”.
4.67.
2.1.2.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển du lịch
sinh thái ♦♦♦ Mối quan hệ giữa du lịch sinh thái và đa dạng sinh
học
4.68.
Du lịch sinh thái lấy tự nhiên làm nền tảng cho sự phát triển. Chính
sự phong phú của thế giới tự nhiên quyết định lên giá trị của các sản phẩm du lịch
sinh thái. Như vậy việc bảo tồn đa dạng sinh học không chỉ là mục tiêu riêng của
ngành du lịch sinh thái mà còn là mục tiêu chung của nhiều ngành, nhiều lĩnh vực,
nhiều quốc gia nhằm tiềm kiếm sự hòa thuận chung của con người và động vật với
môi trường sinh thái.
4.69.
Đứng ở góc độ du lịch sinh thái, thì đa dạng sinh học bao gồm cả sự
đa dạng về văn hóa là sự thể hiện của con người, một thành viên của thế giới sinh
vật, đồng thời là nhân tố quan trọng của hệ sinh thái. Trong đó văn hóa bản địa là
một bộ phận đặc biệt của đa dạng văn hóa, góp phần tạo nên nền văn hóa của một
Tính đa ngành : Tính đa ngành thể hiện ở đối tượng được khai thác
để phục vụ du lịch (Sự hấp dẫn về cảnh quan tự nhiên, các giá trị lịch sử, văn hóa,
cơ sở hạ tầng và các dịch vụ kèm theo,...).
4.74.
Tính đa thành phần : Biểu hiện ở tính đa dạng trong thành phần
khách du lịch những người phục vụ du lịch, cộng đồng địa phương, các tổ chức
chính phủ và phi chính phủ, các tổ chức tư nhân tham gia vào hoạt động du lịch.
4.75.
Tính đa mục tiêu : Biểu hiện ở những lợi ích đa dạng về bảo tồn
thiên nhiên, cảnh quan lịch sử, văn hóa nâng cao chất lượng cuộc sống của khách
du lịch và người tham gia hoạt động du lịch, mở rộng giao lưu văn hóa, kinh tế và
nâng cao nhạn thức trách nhiệm của mọi thành viên trong xã hội.
4.76.
Tính liên vùng : Biểu hiện thông qua các tuyến du lịch, với một
quần thể ccas điểm du lịch trong một khu vực, một quốc gia hay giữa các quốc gia
với nhau.
4.77.
Tính mùa vụ : Biểu hiện ở thời gian diễn ra hoạt động du lịch tập
trung với cường độ cao trong năm.
4.78.
sinh thái hướng con người đến các vùng tự nhiên hoang sơ, có giá trị cao về đa
dạng sinh học qua đó góp phần làm tăng các nguồn thu nhập cho cộng đồng.
2.I.2.3.
Các đối tượng tham gia hoạt động du lịch sinh thái
♦♦♦ Các nhà hoạch định chính sách
4.84.
Là các nhà làm công tác quy hoạch, xây dựng các chính sách phát
triển du lich sinh thái trong các viện nghiên cứu để xác định các định hướng phát
triển phù hợp với tiềm năng và điều kiện thực tế, đề xuất các chính sách giải pháp
nhằm đảm bảo cho việc thực hiện những định hướng đó.
4.85.
Theo quan điểm của các nhà quản lý lãnh thổ thì mục mục tiêu bảo
tồn được xem là quan trọng hàng đầu trong khi đó các tổ chức kinh doanh du lịch
lại coi các mục tiêu thương mại trong việc khai thách lãnh thổ. Điều đó đòi hỏi các
nhà quy hoạch và lập chính sách phát triển du lịch sinh thái phải có được phương án
và các giải pháp phù hợp để tối đa hóa lợi ích từ hoạt động phát triển du lịch sinh
thái, đồng thời đảm bảo việc phát triển du lịch sinh thái như một công cụ hửu hiệu
để phục vụ công tác bảo tồn, cần có những điều chỉnh giới hạn bảo vệ lãnh thổ khỏi
các tác động của hoạt động du lịch, để một mặt phù hợp với quyền lợi thực tế của
cộng đồng địa phương và mặt khác đảm bảo các lợi ích kinh doanh du lịch.
4.86. ♦♦♦ Các nhà quản lý lãnh thổ
4.87.
Để có thể khai thác có hiệu quả tiềm năng lãnh thổ phục vụ phát
được đầy đủ thông tin về môi trường tự nhiên, các đặc điểm sinh thái, văn hóa cộng
đồng địa phương để giới thiệu một cách sinh động nhất, đầy đủ nhất với du khách
về những vấn đề mà họ quan tâm.
4.92.
Bên cạnh đó, các hướng dẫn viên du lịch sinh thái cũng phải là
những người có mối quan hệ đặc biệt với người dân địa phương nơi tổ chức hoạt
động du lịch.
4.93.
Hướng dẫn viên du lịch có thể là người dan địa phương hoặc các
nhà quản lý lãnh thổ, các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên.
2.I.2.4.
Những yêu cầu cơ bản để phát triển du lịch sinh thái Một khu vực được
ưu tiên lựa chọn để phát triển du lịch sinh thái cần phải có các yêu cầu sau : Có
cảnh quang tự nhiên đẹp, hấp dẫn cùng với sự phong phú và độc đáo của các giá
trị văn hóa bản địa, có tính đại diện cho một vùng, có tính đại diện cao cho một
hoặc vài hệ sinh thái điển hình với tính đa dạng sinh học cao, có sự tồn tại của
những loài sinh vật đặc hữu có giá trị khoa học, có thể làm nơi tham quan nghiên
cứu, có những điều kiện đáp ứng được các yêu cầu của hoạt động du
4.94.
lịch sinh thái về cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật,... và có thể tiếp cận một
Theo đó chúng ta có thể lý giải thêm phần văn hóa bản địa : ‘’Văn hóa bản địa là
các giá trị vật chất, tinh thần được hình thành trong quá trình phát triển của một
cộng đồng dân cư, thể hiện mối quan hệ gắn bó giữa thế giới tự nhiên và con người
trong không gian của một hệ sinh thái tự nhiên cụ thể „’.
2.I.2.5.
Hiệu quả và lợi ích mang lại từ du lịch sinh thái
♦♦♦ Hiệu quả kinh tế
4.100.
Tính kinh tế thể hiện ở việc cải thiện đời sống kinh tế xã hội cho
cộng đồng địa phương trong khu du lịch sinh thái và lợi ích thu được từ ngân sách
nhà nước, khai thác có hiệu quả các tiềm năng sẵn có phục vụ cho mục đích du lịch.
4.101.
Lợi ích hoạt động du lịch sinh thái không đơn thuần dựa trên tổng