Luận án tiến sĩ nghiên cứu tổng hợp và khảo sát các tính chất của vật liệu nano kim loại đồng - Pdf 35

1

MỤC LỤC


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT


-

PVA: Polyvinylalcol

-

PVP: Polyvinylpyrrolidone

-

HH: Hydrazin hydrat

-

CTAB: Cetyl trimethyl Ammonium Bromide

-

UV-Vis: Ultraviolet - Visible

-

XRD: X-ray diffraction


PEG: Polyethylen glycol

-

Cu(acac)2: Copper(II) acetylacetonate

-

TSC: Trinaitri ctrat
AA: Acid Ascorbic

DANH MỤC CÁC BẢNG


Bảng 1.1: Các c ông trình thực hiện tổng họp nano đồng bằng phương pháp

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.20: Ảnh các mẫu đồng nano được tổng hợp theo nồng độ chất khử
hydrazin hydrat lần lư ợt là 0,1; 0,2; 0,3; 0,5 M


Hình 3.21: Phổ UV-Vis của dung dịch đồng nano đư ợc tổng hợp theo nồng độ chất
khử hydrazin hydrat M1 (0,1 M), M2 (0,2 M), M3 (0,3 M), M4 (0,5 M).... 58

Hình 3.35: Giản đồ XRD của mẫu đồng nano tổng hợp từ tiền chất CuNO3 66


Hình 3.51: Ảnh các mẫu đồng nano đư ợc tổng hợp theo tỉ lệ khối lượng trinatri

thống thiết bị phức tạp, sử dụng hệ chất bảo vệ kh ng đảm bảo tốt cho độ ổn định của
keo đồng nano [1-3,11,23,32]. Bên cạnh đó, trong những c ông trình c ông bố mới


6

nhất, một trong những ứng dụng quan trọng của đồng nano được tập trung nghiên cứu
là thử nghiệm cho khả năng kháng khuẩn nhằm trị bệnh và diệt các loại vi sinh vật
kháng thuốc. Kết quả cho thấy, dung dịch keo đồng nano thể hiện hoạt tính diệt khuẩn
với nhiều chủng loại vi khuẩn gram (-), gram (+) gây bệnh trên người và động vật [1315,38,43,68]. Hoạt tính kháng nấm chưa được đề cập nhiều. Tuy nhiên, Sahar M.
Ouda [69] đã c ông bố và cho kết quả kháng tốt với hai chủng nấm gây bệnh trên thực
vật là Alternaria alternate và Botrytis cinerea.
Trên cơ sở này, với mục tiêu đưa ra giải pháp khắc phục những như ợc điểm
khi tổng hợp kim loại đồng nano với các hệ phản ứng tổng hợp truyền thống. Nội dung
của luận án được thực hiện trước hết với quá trình tổng hợp đồng nano từ những hệ
phản ứng cơ bản gồm: tiền chất, chất bảo vệ và chất khử. Những hạn chế từ các hệ
phản ứng này sẽ được cải thiện bằng quá trình tổng hợp với những hệ phản ứng mới
khi có sự kết hợp của hai hoặc ba chất bảo vệ. Sự kết hợp của nhiều chất bảo vệ gồm
chất bảo vệ có khối lư ng phân tử lớn (PVA) và chất bảo vệ có khối lư ng phân tử nhỏ
(trinatri citrat, axit ascorbic, CTAB) sẽ đưa ra quy luật mới của sự hiệp đồng bảo vệ
(synergistic effect) nhằm kiểm soát kích thước cũng như đảm bảo sự ổn định các hạt
đồng nano tạo ra cả về không gian và điện tích. Luận án cũng làm rõ những tính chất
hoá l , sinh học đặc th của vật liệu kim loại đồng nano hình thành.
Nội dung chính của luận án:
- Nghiên cứu chế tạo dung dịch keo đồng nano bằng phương pháp khử hóa học từ
các tiền chất đồng oxalat, CuCl2, CuSO4, Cu(NO3)2 với chất khử hydrazin
hydrat, NaBH4; dung môi glycerin và nước, chất bảo vệ PVA và PVP, chất
phân tán và trợ bảo vệ gồm: trinatri citrat, acid ascorbic, CTAB.
- Khảo sát sự ảnh hưởng của các thông số kỹ thuật trong quá trình tổng hợp đến
hình dạng, kích thước và sự phân bố của hạt đồng nano thu đư c như: nhiệt độ

1.1 Giới thiệu về hạt nano kim loại
1.1.1 Những tính chất đặc trưng của hạt kim loại nano
1.1.1.1

Diện tích bề mặt lớn, hoạt tính xúc tác

Khi các hạt ở dạng hình cầu, diện tích bề mặt so với thể tích có thể được tính
theo c ông thức sau [47]:

5 Am-1 3
v ~
C ông thức cho thấy, diện tích bề mặt ( S tỉ lệ nghịch với bán kính (r) của hạt
nano. Như vậy, giảm kính thước hạt sẽ làm tăng diện tích bề mặt.
Tính chất của vật liệu kim loại thay đổi khi kích thước của chúng đạt đến kích
cỡ nano. Hơn nữa, tỉ lệ của các nguyên tử trên bề mặt vật liệu trở thành yếu tố quan
trọng. Vật liệu khối có các tính chất không thay đổi, tuy nhiên điều này hoàn toàn khác
khi vật liệu ở kích thước nano. Khi vật liệu ở kích thước nano thì tỉ lệ nguyên tử trên bề
mặt tăng lên so với tổng số nguyên tử của vật liệu khối. Điều này làm cho các hạt nano
có những tính chất đặc biệt mà bề mặt của chúng mang lại. Ở kích thước này, diện tích
bề mặt so với thể tích của vật liệu trở lên lớn hơn và trạng thái năng lượng điện tử là rời
rạc, do đó vật liệu nano có những tính chất quý về điện, quang, từ, hóa học.... Một số
những đặc tính khác cũng xuất hiện như: giam cầm lượng tử (quantum confinement) ở
hạt bán dẫn, cộng hưởng plasmon bề mặt (surface plasmon resonance) ở các hạt kim
loại nano hay siêu từ tính (super paramagnetism) ở vật liệu từ. Hơn nữa, cấu trúc tinh
thể bề mặt, diện tích bề mặt lớn của các hạt kim loại nano cũng có thể làm tăng hoạt
tính xúc tác hay giải quyết các vấn đề c ô ng nghệ khác [49].
Các hạt kim loại nano được sử dụng trong lĩnh vực xúc tác được dự đoán sẽ tốt
hơn so với những vật liệu khối. Điều này có thể đư c giải thích bởi hạt nano có một lư
ng nguyên tử lớn hơn hoạt động trên bề mặt so với hạt có kích thước lớn hơn (hình 1.1)
[46].

titan, hay các polymer [46].
1.1.1.2

Tính chất quang học, hiện tượng cộng hưởng plasmon bề mặt

Một yếu tố thú vị của các hạt kim loại nano là tính chất quang học phụ thuộc
nhiều vào hình dạng và kích thước [47]. Các hạt nano hay đám hạt kim loại nano luôn
có sự dao động của các điện tử khi có sự kích thích của trường điện từ. Mỗi kim loại
hấp thu một bức xạ điện từ ở bước sóng nhất định. Đặc tính của sự hấp thu này có sự
thay đổi phụ thuộc vào kích thước, hình dạng và cấu trúc của các hạt và đư c xác định
bởi phổ UV-Vis, đây chính là kết quả của hiện tượng cộng hưởng plasmon bề mặt đối
với các hạt kim loại nano [46-48]. Chẳng hạn, các hạt kim loại nano như vàng, bạc,
đồng cho đỉnh hấp thu đặc trưng với cường độ bước sóng thay đổi phụ thuộc vào các
yếu tố như kích thước, hình dạng, nồng độ hạt, sự phân bố kích thước, các tác nhân bảo
vệ...[10,25] trong dải bước sóng lần lượt là 500 ^ 550 nm đối với vàng, 400 ^ 450 nm
đối với bạc và 550 ^ 620 nm đối với đồng.
Các hạt kim loại nano có thể có phổ hấp thu giống với của các hạt nano bán dẫn.
Tuy nhiên, sự hấp thu này không bắt nguồn từ sự chuyển tiếp các trạng thái năng lư ng
điện tử, thay vào đó hạt ở các hạt kim loại nano là phương thức tập h p của sự di
chuyển đám mây điện tử bị kích thích. Dưới tác động của điện trường, có sự kích thích
plasmon các electron tại bề mặt các hạt. Sự cộng hưởng này xảy ra tại tần số của ánh
sáng tới và kết quả là có sự hấp thu quang học. Hiện tượng này gọi là plasmon bề mặt
(surface plasmon), hay hấp thu công hưởng plasma (plasma resonance absorption), hay
plasmon bề mặt định xứ (localized surface plasmons) [46].
Khi kích thước hạt giảm, các electron tự do bắt đầu tương tác với ranh giới của
các hạt. Khi các hạt kim loại nano bị tác động bởi ánh sáng, điện trường của ánh sáng
tới gây ra sự dao động mạnh của các điện tử tự do (các electron dẫn) (hình 1.2). Đối với


các hạt nano có kích thước nhỏ hơn đáng kể so với bước sóng của ánh sáng, sự hấp thu

chúng thể hiện rõ ràng nhất hiệu ứng plasmon bề mặt, và cả hai cùng có phổ hấp thu
trong vùng nhìn thấy. Tăng kích thước hạt, hay tăng hằng số điện mô i của dung dịch là
nguyên nhân của sự dịch chuyển đỏ (red shift) của sự hấp thu plasmon.


Vị trí của đỉnh hấp thu trong chấm lượng tử được dịch chuyển khá rõ khi thay
đổi đường kính ở phạm vi nano. Đối với hạt kim loại nano, sự dịch chuyển vị trí của
các đỉnh là rất nhỏ với các hạt kích thước bé (25 nm) sự dịch chuyển đỏ của vị trí cộng hưởng plasmon là đáng
kể hơn [46].
Hình 1.4: thể hiện sự ảnh hưởng đường kính của hạt vàng nano đến vị trí đỉnh
hấp thu cộng hưởng plasmon. Nếu các hạt có hình dạng méo mó, khi đó dải plasmon
tách ra theo các cách khác nhau tương ứng với cách thức dao động của sự dao động các
electron.

của các hạt kim loại vàng nano có kích thước khác nhau


• r •;

.. ...

■Í:Ỉ
s
n

0 50

plasmon
ngang

để sử dụng các tính chất thuận l ợi của chúng. Vật liệu nền không chỉ giúp hình thành
cấu trúc của sản phẩm mà còn có vai trò bảo vệ và ngăn ngừa sự kết tụ lại của các hạt
[46].
1.1.2 Tổng hợp hạt kim loại nano
1.1.2.1

Từ trên xuống (Top Down)

Phương pháp từ trên xuống bao gồm quá trình chia nhỏ vật liệu khối thành kích
cỡ nano từ các quá trình nghiền cơ học. Phương pháp này thuận l ợi bởi đơn giản và
tránh được quá trình bay hơi cũng như các độc tố thường có trong c ông nghệ từ dưới
lên (bottom-up). Tuy nhiên, chất lượng sản phẩm hạt nano từ quá trình nghiền thường
kém hơn sản phẩm của phương pháp từ dưới lên. Mặt hạn chế chính của c ông nghệ
này là vấn đề nhiễm tạp chất từ thiết bị nghiền, diện tích bề mặt hạt thấp, sự phân bố về
hình dạng và kích thước không đều, và tốn nhiều năng lượng [46].


1.1.2.2

Từ dưới lên (Bottom Up)

Phương pháp từ dưới lên sử dụng nguyên tử hay phân tử kết họp lại tạo thành
hạt nano. Phương pháp này dễ kiểm soát hơn so với phương pháp từ trên xuống bởi dễ
dàng thay đổi các thông số hay hệ phản ứng của quá trình tổng họp, khi đó kích thước,
hình dạng và cấu tạo của hạt nano có thể đưọc kiểm soát. Phương pháp từ dưới lên
thường tạo ra các sản phẩm có chất lưọng cũng như khả năng ứng dụng tốt hơn.
Các c ông nghệ này nói chung có thể áp dụng đưọc trong các trạng thái khí,
lỏng, rắn và thậm chí là trạng thái siêu tới hạn. Vì thế việc ứng dụng các phương pháp
từ dưới lên để tạo ra sản phẩm cuối cùng là rất nhiều. Các phương pháp này thường đòi
hỏi việc sử dụng các tác chất là phức cơ kim hay muối kim loại thích họp, các tác chất

thấy đối với các hạt kim loại nano trong quá trình tổng họp là chúng có khuynh hướng
kết tụ, lắng đọng cũng như bề mặt dễ bị oxi hóa [6,8,9,50]. Để giải quyết những vấn đề
này, quá trình tổng h ọp thường đư ọc tiến hành trong m ô i trường khí trơ kết họp với
sử dụng các chất bảo vệ [2,9-11]. Các chất này sẽ tạo một lớp bảo vệ bên ngoài bề mặt
các hạt nano, ngoài ra chúng còn có thể đóng vai trò kiểm soát quá trình tạo mầm, ngăn
chặn quá trình phát triển hạt, do đó chúng cũng được biết đến là tác nhân kiểm soát
hình dạng và kích thước các hạt nano [11,23]. Các chất bảo vệ đưọc biết tới như:
polyvinyl pyrrolidone (PVP) [2,3,5,6,10], cetyltrimethyl ammonium bromide (CTAB)
[3,4,9,20], benzildiethylen triamin (BDT) [7], sodium lauryl sulfat (SLS) [8], acid
ascorbic (AA) [1,9], polyvinyl ancol (PVA) [11,22], bisethylhexylhydrogen phosphate
(HDEHP) [24], oley amin and axit oleic [12].
1.1.3 Sự ổn định hạt kim loại nano
Yêu cầu trước tiên đối với quá trình tổng họp các hạt nano nói chung và hạt kim
loại nano nói riêng là quá trình bảo vệ, ngăn chặn sự kết tụ và lắng đọng của các hạt, vì
nếu điều này xảy ra sẽ ảnh hưởng xấu đến tính chất và khả năng ứng dụng. Phương
pháp phổ biến để thực hiện là đưa các hạt nano vào chất nền bảo vệ. Tùy theo yêu cầu
đối với các hạt nano về tính chất, khả năng ứng dụng mà quá trình tổng họp sẽ sử dụng
chất bảo vệ thích họp. Có 2 cơ chế đưọc đề nghị đối với việc ổn định các hạt kim loại
nano là ổn định tĩnh điện (electrostatic stabilisation) và ổn định không gian (steric
stabilisation) [46,74].
1.1.3.1

Sự ổn định tĩnh điện

Phương pháp này thường sử dụng đối với quá trình tổng họp và điều chỉnh sự
phân bố kích thước hạt. Mỗi hạt kim loại nano đưọc bao bọc bởi một lớp điện kép
(electrical double layer), do đó gây ra sự đẩy giữa các hạt lân cận. Lớp điện kép này
được hình thành bởi sự hấp thu của các ion âm trong dung dịch lên bề mặt hạt kim loại
nano. Các ion âm này được hút bởi các ion kim loại mang điện dương tại bề mặt tinh
thể kim loại của hạt nano. Điều này giúp ổn định và kiểm soát quá trình phát triển của

ứng bề mặt và kích thước nhỏ của chúng [2,9,24,51]. Trong lĩnh vực khoa học và c ông
nghệ, các hạt kim loại nano thường được biết đến bởi nhiều khả năng ứng dụng đặc biệt
do những tính chất hóa học và vật lý rất đặc trưng [1,4,9]. Các tính chất đặc biệt của
các hạt kim loại nano gồm: độ dẫn điện cao, hoạt tính xúc tác, tính chất điện, quang
học, từ tính...[1,2,5,21,24,51]. Đồng nano cùng với các hạt kim loại nano quý như vàng
và bạc được nghiên cứu rộng rãi trong số các vật liệu kim loại nano vì hiện tư ng cộng
hưởng plasmon bề mặt thể hiện r ràng trong phổ quang học ở v ng nhìn thấy [4], cùng
với hiệu ứng lư ợng tử khi ở cấp độ nano [26]. Hầu hết các tính chất quý của hạt kim
loại nano đư c thể hiện tương ứng với kích thước nhỏ và bề mặt đặc biệt của chúng
[4,12,24].
Cho đến nay, đồng nano đã được tổng họp bằng nhiều phương pháp khác nhau.
Các phương pháp tổng họp đồng nano có thể kể đến như: chiếu xạ điện tử (electron


beam irradiation) [16,17], quá trình plasma (plasma process) [18,19], phương pháp khử
hóa học [1,2,4-11,20-29], phương pháp tổng họp in-situ (in-situ synthesis) [3,30,31],
khử qua hai bước (two-step reduction method) [32,33], phân hủy nhiệt [3436], khử điện
hóa [37,38], khử bằng sóng siêu âm [39,40], khử muối kim loại có sự hỗ trợ của nhiệt
vi sóng [41-43], phương pháp siêu tới hạn [44,45],... Nói chung, các phương pháp tổng
họp đồng nano thông thường được phân thành hai phương pháp chính là phương pháp
vật lý và hóa học [69].
Các phương pháp vật lý như: chiếu xạ proton (proton irradiation), ăn mòn lazer,
lắng đọng hơi chân không (vacuum vapor deposition), và các phương pháp dùng bức xạ
đều có khả năng tạo ra một lượng lớn hạt nano mà ít cần các chất bổ trợ. Tuy nhiên, các
phương pháp vật lý có chung nhược điểm là chất lượng sản phẩm các hạt nano tạo ra
khô ng cao, quá trình thực hiện đòi hỏi hệ thống thiết bị phức tạp và tốn kém [34].
Trong khi đó, các phương pháp trên cơ sở của quá trình hóa học nói chung là
phổ biến bởi đơn giản, chi phí thấp, hình dạng, sự phân bố kích thước của các hạt nano
đồng tạo thành có thể đư c kiểm soát bởi sự thay đổi thành phần trong hệ phản ứng
tổng hợp như: dung môi, chất bảo vệ, chất khử, chất phân tán hoặc thay đổi các thông

khiết và giá thành r . Như c điểm chung của phương pháp phân hủy nhiệt là khó điều
khiển hình dạng và kích thước hạt nano thu đư c [34].
Phương pháp phân hủy nhiệt tạo ra hạt đồng nano dựa vào phản ứng phân hủy
các phức đồng trong dung dịch chất hoạt động bề mặt tại nhiệt độ thích họp và thường
thực hiện trong m ô i trường chân không [34]. Quá trình thường hình thành trong 2 giai
đoạn: giai đoạn tạo mầm (nucleation) xảy ra khi tiền chất kim loại được đưa vào dung
dịch chất hoạt động bề mặt đã đưọc gia nhiệt, giai đoạn phát triển hạt (growth) xảy ra
khi nhiệt độ phản ứng gia tăng [35].
Năm 2008, Masoud Salavati-Niasari cùng cộng sự [35] c ông bố quá trình tổng
họp đồng nano với tiền chất là phức [Cu(O4C2)]-oleylamine. Nhiệt độ phân hủy là


240 oC, kết quả các hạt đồng nano tạo ra có kích thước phân bố từ 30 đến 80 nm, quá
trình thực hiện theo sơ đồ sau:
Đồng nano

Hình 1.7: Sơ đồ quá trình tổng họp đồng nano theo phương phân hủy nhiệt
Năm 2009, Masoud Salavati-Niasari [34] tiếp tục thực hiện việc tổng họp đồng nano
với phức đồng Salicylidiminate trong oleylamine theo sơ đồ sau tại nhiệt độ 230
o

C.

Năm 2010, Mohammad Hossein Habibi cùng cộng sự [36] đã thực hiện quá
trình tổng họp đồng nano trên cơ sở phản ứng phân hủy tác chất đồng oxalat với sự có
mặt của 3 chất hoạt động bề mặt Triton X-100, Tween-80, and dodecylamine, chất khử
triphenyl phosphine. Phản ứng đưọc thực hiện ở nhiệt độ 270 oC, kết quả các hạt đồng
nano tạo ra có kích thước phân bố từ 8 đến 20 nm.
♦♦♦ Phương pháp polyol có sự hỗ trợ của nhiệt vi sóng


diethyleglycol. Dung dịch keo nano đồng được kiểm chứng bằng các phương pháp
phân tích như: XRD, TEM, DLS và UV-Vis, các kết quả cho thấy hạt đồng nano tạo ra


có kích thước trung bình nhỏ nhất là 46 nm.
Năm 2011, Mayur Valodkar cùng cộng sự [43] đã thực hiện quá trình tổng họp
bạc nano, đồng nano và họp kim Cu - Ag bằng phương pháp khử có sự hỗ trọ của nhiệt
vi sóng. Quá trình thực hiện trên cơ sở của phương pháp hóa học xanh từ tiền chất bạc
nitrat, đồng nitrat, chất khử axit ascorbic, chất bảo vệ là polymer sinh học - tinh bột.
Kết quả các hạt bạc nano, đồng nano và họp kim Cu - Ag có kích thước nhỏ nhất lần
lưọt khoảng 30 nm, 25 nm và 35 nm đư ọc xác định trên ảnh TEM và giản đồ DLS.
Các dung dịch keo cũng đưọc tác giả thử nghiệm hoạt tính kháng khuẩn cho kết quả tốt
với 2 loại vi khuẩn S. Aureus và E. Coli tại nồng độ thấp.
♦♦♦ Phương pháp khử qua 2 bước
Phương pháp khử qua 2 bước đưọc thực hiện dựa trên cơ sở của phương pháp
khử hóa học và là phương pháp đặc trưng cho tổng họp đồng nano. Khác với các kim
loại quý như Au và Ag, việc tổng họp các hạt đồng nano thường khó thực hiện bằng
phản ứng khử các muối đồng như đồng clorua hay đồng sulfat trong dung dịch vì phản
ứng khử có xu hướng dừng lại ở giai đoạn hình thành Cu 2O do có nhiều oxi trong nước.
Việc tổng họp đồng nano khi đó chỉ thực hiện được với sự có mặt các chất chứa nhóm
chức có khả năng tạo phức với ion đồng hay dung dịch các chất hoạt động bề mặt với
vai trò như chất bao bọc, bảo vệ bề mặt các hạt nano đồng hình thành [32,33].
Phương pháp khử qua 2 bước đòi hỏi phải có mặt chất trích ly (extractant), đây
là tác nhân đóng vai trò quyết định đến quá trình tổng họp đồng nano. Tác nhân này
đóng vai trò trước tiên là chất chuyển pha (phase-transfer agent), dung dịch ion đồng
trước hết sẽ đư ọc trích ly vào trong dung dịch chất trích ly. Tiếp theo, các ion đồng
đưọc trích ly sẽ bị khử thành đồng nguyên tử lần lưọt bởi 2 chất khử khác nhau. Đặc
điểm của chất trích ly là có hoạt tính bề mặt cao, có thể hoạt động như chất hoạt động
bề mặt. Các chất này chứa các nhóm chức có thể hấp phụ lên bề mặt hạt đồng nano từ
đó ngăn chặn quá trình kết tụ và oxi hóa hạt đồng nano hình thành [16,17].


Cuối cùng là giai đoạn tổng họp đồng nano trong pha hữu cơ gồm 2 bước khử gồm:


khử lần 1 ion Cu2+ thành Cu2O bởi glucose và khử lần 2 từ Cu2O thành nano Cu bởi
NaH PO2. Kết quả các hạt nano đồng tạo ra với thông số tổng họp tốt nhất có kích
2

thước trung bình khoảng 30 nm.
♦♦♦ Phương pháp tổng hợp có sự hỗ trợ của sóng siêu âm
Đây là kỹ thuật ứng dụng bức xạ siêu âm (ultrasound irradiation) nhằm góp
phần xúc tác cho quá trình tổng họp hóa học còn gọi là quá trình hóa âm
(sonochemistry). Nhiều hạt nano kim loại, họp kim hay bán dẫn đã đưọc tổng họp bằng
kỹ thuật này. Đặc điểm chung của phương pháp này là phản ứng tổng họp đưọc thực
hiện dưới sự tác động của bức xạ siêu âm. Dưới sự tác động của siêu âm sẽ xảy ra quá
trình gọi là “cavitation” bao gồm 3 giai đoạn hình thành, phát triển và vỡ (the creation,
growth, and collapse) của hạt bọt nhỏ (bubble) trong chất lỏng. Mỗi hạt bọt bị vỡ sẽ
hình thành 1 trung tâm mầm tinh thể. Kết quả của quá trình tổng họp hạt nano dưới tác
động của bức xạ siêu âm giúp các hạt hình thành có kích thước nhỏ, phân bố đều, phản
ứng diễn ra nhanh với nồng độ tác chất cao [40,63,64].
Năm 2010, Jafar Moghimi-Rad cùng cộng sự [40] đã thực hiện quá trình tổng
họp đồng nano từ tiền chất đồng sulfat, chất khử hydrazin hydrat, chất bảo vệ cũng là
dung môi ethylene glycol. Phản ứng tổng họp đồng nano được thực hiện khi có và
không có sự tác động của sóng siêu âm. Kết quả các hạt nano đồng tổng họp với thông
số tốt nhất có kích thước trung bình 253 ± 47 nm, khi thực hiện dưới tác động của siêu
âm là 108 ± 14 nm.


♦♦♦ Phương pháp điện hóa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status