Quản lý nhà nước về Quy hoạch đô thị nhằm xây dựng hệ thống metro tại TP.HCM - Pdf 35

Tiểu luận cuối khóa

MỤC LỤC


Tran
g

Phần mở đầu ....................................................................................................................................................................... 1
Phần nội dung...................................................................................................................................................................... 2
Chương I: Cơ sở lý luận về quy hoạch hệ thống đường sắt đô thị tại thành phố Hồ
Chí Minh.................................................................................................................................................................................. 3
1. Khái niệm............................................................................................................................................................................ 3
2. Vai trò, đặc điểm và ý nghĩa.................................................................................................................................. 3
3. Cơ sở pháp lý.................................................................................................................................................................... 5
Chương II: Thực trạng quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị và quy hoạch hệ
thống đường sắt đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh..........................................................................8
1. Đặc điểm.............................................................................................................................................................................. 8
2. Những thuận lợi, khó khăn.................................................................................................................................. 13
3. Những kết quả đạt được trong công tác quản lý quy hoạch hệ thống Đường sắt đô
thị tại thành phố Hồ Chí Minh................................................................................................................................ 16
Chương III: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị
nhằm xây dựng hệ thống Đường sắt đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh................................1
1. Mục tiêu............................................................................................................................................................................. 18
2. Những giải pháp.......................................................................................................................................................... 19
3. Những kiến nghị.......................................................................................................................................................... 22
Phần Kết luận...................................................................................................................................................................... 24
Tài liệu tham khảo

Quản lý Nhà nước về quy hoạch đô thị nhằm xây dựng hệ thống đường sắt đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh


6.

Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ IX về Chương trình
giảm ùn tắc giao thông giai đoạn 2011-2015;

7.

Quyết định số 25/2011/QĐ-UBND ngày 14 tháng 5 năm 2011 của Ủy ban nhân
dân thành phố Hồ Chí Minh về ban hành Kế hoạch thực hiện Nghị quyết Đại hội
Đảng bộ thành phố lần thứ IX về Chương trình giảm ùn tắc giao thông giai đoạn
2011-2015, tầm nhìn đến năm 2020;

8.

Quyết định số 24/QĐ-TTg ngày 06 tháng 01 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ
phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch chung xây dựng thành phố Hồ Chí Minh đến
năm 2025;

9.

Nghị định số 39/2010/NĐ-CP ngày ngày 07 tháng 04 năm 2010 của Chính phủ về
quản lý không gian xây dựng ngầm đô thị;

10. Quyết định số 568/QĐ-TTg ngày 08 tháng 4 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ
phê duyệt Điều chỉnh Quy hoạch phát triển giao thông vận tải thành phố Hồ Chí
Minh đến năm 2020 và tầm nhìn sau năm 2020;
11. Quy định chức năng và nhiệm vụ của Ban Quản lý Đường sắt đô thị;
12. Các thông tin trên Trang tin điện tử của Bộ ngành Trung ương và sở ngành thành
phố Hồ Chí Minh.


nguồn lực phát triển đô thị cũng như đảm bảo công bằng xã hội.
Tại thành phố Hồ Chí Minh, cơ sơ hạ tầng giao thông chưa đáp ứng được
nhu cầu gia tăng dân số và các phương tiện đi lại nên thường xuyên xảy ra tình
trạng ùn tắc giao thông, trong nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng nêu trên có
một phần quan trọng là công tác quy hoạch không theo kịp tốc độ phát triển nhanh
chóng của xã hội.
Chương trình hành động số 12-CtrHĐ/TU ngày 16 tháng 3 năm 2011 của
Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh được ban hành nhằm thực hiện Nghị quyết Đại
hội Đảng bộ thành phố lần thứ IX về Chương trình giảm ùn tắc giao thông giai
Quản lý Nhà nước về quy hoạch đô thị nhằm xây dựng hệ thống đường sắt đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh


Tiểu luận cuối khóa

đoạn 2011-2015 với mục tiêu “tập trung đầu tư xây dựng, từng bước hoàn chỉnh
hệ thống giao thông, hình thành mạng lưới giao thông đồng bộ, kết nối Vùng
thành phố Hồ Chí Minh; phát triển nhanh vận tải hành khách công cộng, ưu tiên
giao thông công cộng sức chở lớn; nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người
tham gia giao thông; nâng cao hiệu lực; hiệu quả quản lý Nhà nước; từng bước cải
thiện tình trạng ùn tắc giao thông, giảm tai nạn giao thông”.
Nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của Chương trình hành động là nâng cao
hiệu quả công tác quy hoạch, quản lý quy hoạch phát triển giao thông vận tải trên
địa bàn thành phố theo quy hoạch tổng thể đã được Thủ tướng Chính phủ phê
duyệt. Phấn đấu đến năm 2015 khối lượng vận tải hành khách công cộng đáp ứng
được 15% nhu cầu đi lại, góp phần kìm hãm và giảm dần số vụ ùn tắc giao thông
trên địa bàn thành phố.

Hiện trạng ùn tắc giao thông đô thị tại
thành phố Hồ Chí Minh


- Quản lý nhà nước về đô thị là “hoạt động của các cơ quan hành chính
nhà nước sử dụng quyền lực công can thiệp và điều chỉnh các mối quan hệ xã
hội và các quá trình phát triển như tổ chức khai thác và điều hòa việc sử dụng
các nguồn lực (bao gồm tài nguyên thiên nhiên, tài chính và con người), đảm
bảo pháp luật về lĩnh vực quản lý đô thị được thực hiện, nhằm tạo dựng và duy
trì điều kiện thuận lợi cho hình thức định cư ở đô thị và phát triển bền vững.
- Đường sắt đô thị (còn được gọi là metro, tàu điện ngầm) được hiểu là các
tuyến đường sắt, mà việc tổ chức chạy tàu được thực hiện như trên mạng đường
sắt (Quốc gia) hoặc trên tuyến đường sắt có kết cấu chuyên dụng (ngoài 2 ray
chính, có thêm ray thứ 3 để cấp điện sức kéo); sử dụng đầu máy toa xe bình
thường hoặc đầu máy toa xe chuyên dùng (đoàn toa tự hành ghép nối nhiều
môđun, chạy bằng diesen [diesen multi unit, viết tắt là DMU] hoặc chạy điện
[electric multi unit, viết tắt là EMU]); vận hành độc lập hoặc chạy chung trên
tuyến đường sắt chạy tàu đường dài, thực hiện chức năng luân chuyển khách bên
trong đô thị và vùng ngoại ô.
- Tàu điện ngầm là hệ thống giao thông chở khách với tốc độ cao trên
đường ray, nhiều lượt, nhiều chuyến trong ngày, lượng khách lớn, thuận tiện và
thoải mái. Đa số các thành phố lớn trên thế giới đều có tàu điện ngầm. Thông
thường các chuyến đi và về đều mang tính nhất định. Giống như xe bus nhưng
tàu điện ngầm lại hữu ích trong việc đi lại hơn và đảm bảo được chất lượng an
toàn trong cuộc sống nhiều hơn.
2. Vai trò, đặc điểm và ý nghĩa:
2.1- Vai trò:
- Trong giai đoạn công nghiệp hóa ở Việt Nam hiện nay, quản lý nhà nước
về đô thị đang tập trung thực hiện những nhiệm vụ cơ bản là:
+ Quản lý có hiệu quả quá trình phát triển đô thị và đô thị hóa;
+ Quản lý đảm bảo trật tự không gian đô thị và cung cấp nhà ở cho các đối
tượng thu nhập thấp;
Quản lý Nhà nước về quy hoạch đô thị nhằm xây dựng hệ thống đường sắt đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh


Về quy hoạch đô thị, hiện nay có quan điểm muốn tách bạch giữa giao
thông đối nội và giao thông đối ngoại, yêu cầu đưa giao thông đối ngoại ra
ngoài; nhưng thực tế cho thấy ranh giới giữa vận chuyển khách nội đô và ngoại
ô ở các đô thị lớn trên thế giới ngày càng bị xóa nhòa và trở nên khó phân chia
do dân cư và diện tích lãnh thổ của thành phố liên tục phát triển. Ở thành phố Hồ
Chí Minh tình hình cũng cũng tương tự như vậy: một khu vực hôm nay là ngoại
ô, ngày mai đã thành nội đô (ví dụ như huyện Thủ Đức chẳng hạn); nếu vẫn
quan niệm như trên thì ga khách Sài Gòn sẽ phải di dời sang tỉnh Đồng Nai.
Việc đề cập đến vấn đề trên nhằm đạt được sự thống nhất quan điểm trong quy
hoạch đường sắt đô thị cho thành phố Hồ Chí Minh trong đề án quy hoạch giao
thông này.
Quản lý Nhà nước về quy hoạch đô thị nhằm xây dựng hệ thống đường sắt đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh


Tiểu luận cuối khóa

1.3- Ý nghĩa:
- Hoạt động của các cơ quan nhà nước diễn ra dưới nhiều hình thức như
xây dựng pháp luật, định hướng, tổ chức, giám sát, kiểm tra, điều chỉnh nhằm
đảm bảo pháp luật được thực thi, quyền lợi và nghĩa vụ của các cá nhân tổ chức
được bảo đảm và thực hiện, các giá trị xã hội, giá trị văn hoá, nguồn lực tài
nguyên thiên nhiên và xã hội (kể cả giá trị phi vật thể) được gìn giữ và bảo vệ.
Trong phạm vi hẹp, quản lý đô thị chủ yếu tập trung vào việc thực thi pháp luật,
thuộc nhiệm vụ của UBND các cấp.
- Quản lý nhà nước về đô thị thực chất là quản lý vấn đề định cư ở đô thị,
một vấn đề đặc thù và đặc trưng cho đô thị. Đây là điểm phân biệt quan trọng
giữa quản lý nhà nước đô thị với quản lý nhà nước trên một đơn vị hành chính
lãnh thổ. Quản lý mọi mặt trên một đơn vị hành chính sẽ bao gồm cả các hoạt
động kinh tế ngành. Quản lý đô thị về cơ bản không bao gồm các hoạt động
quản lý kinh tế ngành và quản lý lĩnh vực đặc thù như tôn giáo, an ninh quốc

về Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2011-2015. Một trong những nhiệm
vụ chủ yếu trong giai đoạn 2011 – 2015 là rà soát, đánh giá các dự án phát triển
kết cấu hạ tầng giao thông, nhất là ở các vùng kinh tế trọng điểm, ưu tiên bố trí
vốn đầu tư dứt điểm để sớm đưa vào sử dụng phát huy hiệu quả. Phát triển
nhanh hệ thống giao thông đô thị, nhất là giao thông công cộng. Từng bước phát
triển đồng bộ và hiện đại hóa hệ thống hạ tầng các đô thị lớn gắn với bố trí, cơ
cấu lại sản xuất và phân bố dân cư; nâng cao năng lực các dịch vụ tổng hợp của
ba cảng biển lớn ở ba khu vực.
Cơ sở pháp lý của công tác quản lý quy hoạch đô thị gồm nhiều nguồn,
trong đó có nguồn văn bản quy phạm pháp luật: Luật và dưới Luật của Trung
ương và địa phương; các đồ án quy hoạch đô thị và các quy chuẩn tiêu chuẩn;
các Nghị quyết Quốc hội; Chính phủ, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân.
Các văn bản dưới luật bao gồm Nghị định, Thông tư, và kể cả các Chỉ thị và văn
bản chỉ đạo điều hành khác.
Các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý đô thị ở Việt Nam chưa được
tổng hợp thành những bộ luật bao trùm nội dung của công tác này. Vì vậy, các
cơ quan phải sử dụng các cơ sở pháp lý chưa được hệ thống hóa, nằm ở nhiều
văn bản khác nhau. Tính đến năm 2009, có 5 nhóm văn bản chính đóng vai trò
quan trọng để điều chỉnh các hoạt động liên quan đến quản lý đô thị, đó là:
-Luật Quy hoạch đô thị 2009;
-Luật Xây dựng 2003 và các văn bản hướng dẫn;
-Luật Đất đai 2003 và các văn bản hướng dẫn;
-Luật Nhà ở 2005 và các văn bản hướng dẫn;
-Luật Kinh doanh bất động sản 2006 và các văn bản hướng dẫn;
Ngoài 5 văn bản chính nêu trên, các cơ quan quản lý còn sử dụng nhiều
văn bản khác như Bộ Luật Dân sự 2005, Luật tổ chức UBND và HĐND 2001,
Luật Đầu tư 2005, Luật Đấu thầu 2005, Luật Bảo vệ môi trường 2005, Luật
Giao thông đường bộ 2008; Luật Tài nguyên nước 1998, Luật Trưng mua trưng
dụng tài sản 2008, Luật Phòng cháy chữa cháy 2001, Luật Doanh nghiệp 2001,
Luật Thanh tra 2004, Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính 2008,v.v… và các

Chương trình hành động số 12-CtrHĐ/TU ngày 16 tháng 3 năm 2011 của
Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành
phố lần thứ IX về Chương trình giảm ùn tắc giao thông giai đoạn 2011-2015.
Quyết định số 25/2011/QĐ-UBND ngày 14 tháng 5 năm 2011 của Ủy ban
nhân dân thành phố Hồ Chí Minh về ban hành Kế hoạch thực hiện Nghị quyết
Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ IX về Chương trình giảm ùn tắc giao thông
giai đoạn 2011-2015, tầm nhìn đến năm 2020.

Quản lý Nhà nước về quy hoạch đô thị nhằm xây dựng hệ thống đường sắt đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh


Tiểu luận cuối khóa

CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ QUY HOẠCH ĐÔ THỊ VÀ
QUY HOẠCH HỆ THỐNG ĐƯỜNG SẮT ĐÔ THỊ
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
1. Đặc điểm:
1.1- Thực trạng quản lý nhà nước về quy hoạch xây dựng và kiến trúc đô thị:
- Tình trạng xây dựng còn lộn xộn, đa số không phép, trong sử dụng đất đô
thị còn phổ biến hiện tượng không theo quy hoạch và pháp luật.
- Chất lượng của các đồ án quy hoạch xây dựng và kiến trúc đô thị nhìn
chung còn yếu, tính khả thi chưa cao, mỹ quan đô thị nghèo nàn, đơn điệu, chắp vá.
- Các cơ sở pháp luật và văn bản pháp quy về quy hoạch xây dựng kiến
trúc đô thị còn thiếu cụ thể và thiếu đồng bộ.
- Cơ chế và thủ tục hành chính trong việc giao đất, cấp giấy phép xây dựng
vẫn chưa được thực hiện triệt để theo Luật Đất đai năm 2003 và các văn bản
pháp luật khác cũng như Nghị quyết 38/CP của Chính phủ, nhìn chung còn phức
tạp, phiền hà và tiến bộ rất chậm.
- Năng lực cán bộ thiết kế quy hoạch kiến trúc đô thị, quản lý quy hoạch

những vấn đề tồn tại là lưu lượng xe, đặc biệt là xe gắn máy, hiện nay chiếm đến
94% tổng nhu cầu giao thông đô thị. Thành phố Hồ Chí Minh đề ra mục tiêu
chính sách công cộng để giảm tỷ lệ này xuống 50% cho đến năm 2020.
1.4- Với công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng, nền kinh tế đất nước
đã có những bước phát triển vượt bậc trên mọi lĩnh vực. Việc chuyển đổi sang
cơ chế thị trường cùng với việc gia nhập Tổ chức thương mại Thế giới (WTO)
đã thúc đẩy tiến trình đô thị hoá phát triển mạnh mẽ trên cả nước. TPHCM với
dân số hiện nay khoảng 8,5 triệu người (năm 2009), cùng với khoảng hơn 10
triệu dân sinh sống tại các tỉnh thành lân cận (như Đồng Nai, Long An, Bình
Dương…) tạo thành vùng trọng điểm kinh tế phía Nam, là một trong những
trung tâm ngoại giao, kinh tế, thương mại, dịch vụ, văn hoá và du lịch lớn của cả
nước, là nơi tập trung các đầu mối giao thông quan trọng gồm: hệ thống giao
thông đường bộ, đường sắt, đường thuỷ và hàng không. Trong những năm gần
đây, cùng với sự phát triển kinh tế của cả nước, TPHCM đã có sự phát triển
mạnh mẽ trong tất cả các lĩnh vực, trong đó có hạ tầng giao thông vận tải, góp
phần giải quyết phần lớn các vấn đề bức xúc trong giao thông đô thị đem lại
hiệu quả kinh tế - xã hội cao.
Ngày 22 tháng 01 năm 2007, Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định số
101/QĐ-TTg phê duyệt quy hoạch phát triển GTVT TPHCM đến năm 2020 và
tầm nhìn sau năm 2020. Trong đó việc quy hoạch hệ thống đường sắt đô thị
trong thành phố có các nội dung chủ yếu sau:
Quy hoạch kết hợp sử dụng các tuyến đường sắt quốc gia hướng tâm
cho chạy tàu ngoại ô và xây dựng 2 tuyến đường sắt nhẹ: Trảng Bàng - Tân Thới
Hiệp, Thủ Thiêm - Nhơn Trạch - Cảng hàng không quốc tế Long Thành;


Quản lý Nhà nước về quy hoạch đô thị nhằm xây dựng hệ thống đường sắt đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh


Tiểu luận cuối khóa

Nghệ Tĩnh – Quốc lộ 13 – Hiệp Bình Phước, chiều dài khoảng 12,1 km. Nghiên
cứu kết nối với thị xã Thủ Dầu Một (tỉnh Bình Dương) từ ga Hiệp Bình Phước
và đi dọc quốc lộ 13, kết nối với tuyến đường sắt đô thị số 1 của tỉnh Bình
Dương.
- Tuyến số 4: Thạnh Xuân – Hà Huy Giáp – Nguyễn Oanh – Nguyễn Kiệm
– Phan Đình Phùng – Hai Bà Trưng – Bến Thành – Nguyễn Thái Học – Tôn Đản
– Nguyễn Hữu Thọ – Khu đô thị Hiệp Phước, chiều dài khoảng 36,2 km;
Quản lý Nhà nước về quy hoạch đô thị nhằm xây dựng hệ thống đường sắt đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh


Tiểu luận cuối khóa

- Tuyến số 4b: Ga Công viên Gia Định (tuyến số 4) – Nguyễn Thái Sơn –
Hồng Hà – Cảng hàng không quốc tế Tân Sân Nhất – Trường Sơn – Công viên
Hoàng Văn Thụ - Ga Lăng Cha Cả (tuyến số 5), chiều dài khoảng 5,2 km;
- Tuyến số 5: Bến xe Cần Giuộc mới – quốc lộ 50 – Tùng Thiện Vương –
Phù Đổng Thiên Vương – Lý Thường Kiệt – Hoàng Văn Thụ – Phan Đăng Lưu
– Bạch Đằng – Điện Biên Phủ – Cầu Sài Gòn, chiều dài khoảng 26,0 km;
- Tuyến số 6: Bà Quẹo – Âu Cơ – Lũy Bán Bích – Tân Hòa Đông – Vòng
xoay Phú Lâm, chiều dài khoảng 5,6 km.
Quy hoạch xây dựng 07 Depot như sau: Suối Tiên – diện tích khoảng 27,7
ha (tuyến số 1), Tham Lương – diện tích khoảng 25,0 ha (tuyến số 2), Tân Kiên
– diện tích khoảng 26,5 ha (tuyến số 3a), Hiệp Bình Phước – diện tích khoảng
20,0 ha (tuyến số 3b), Thạnh Xuân – diện tích khoảng 27,0 ha, Nhà Bè – diện
tích khoảng 20,0 ha (tuyến số 4), Đa Phước - diện tích khoảng 32,0 ha (tuyến số
5), tổng diện tích các Depot khoảng 158,2 ha và các ga đường sắt đô thị: Ga
trung tâm (Ga Bến Thành), Ga nối ray và ga đấu nối giữa các tuyến (ga Bà
Quẹo, ga Ngã 6 Cộng Hòa; ga Lăng Cha Cả...), Ga trung gian: Trung bình từ
700 m đến 2.000 m bố trí 01 ga.
 Quy hoạch xe điện mặt đất và monorail:


MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ TRAMWAY VÀ MONORAIL

1.5- Như chúng ta đã biết, với vị trí cửa ngõ giao thương quốc tế, kết nối
các tỉnh, thành trong vùng, thành phố Hồ Chí Minh đóng vai trò đặc biệt quan
trọng trong hệ thống các vùng kinh tế trọng điểm của Việt Nam. Thành phố đã
được định hướng phát triển bền vững, hài hòa theo hướng liên kết vùng để trở
thành một thành phố văn minh, hiện đại, từng bước trở thành một trung tâm
công nghiệp, dịch vụ, khoa học công nghệ của khu vực Đông Nam Á. Do vậy,
việc hiện đại hóa giao thông công cộng đối với thành phố Hồ Chí Minh là một
yêu cầu rất bức xúc và cấp bách nhằm giảm bớt áp lực và giải quyết tốt tình
trạng ùn tắc giao thông thường xuyên, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã
hội và văn minh của thành phố. Để thực hiện nhiệm vụ hết sức khó khăn và
phức tạp nói trên, ngày 13 tháng 9 năm 2007, Ủy ban nhân dân thành phố đã có
Quyết định số 119/QĐ-UBND thành lập Ban Quản lý Đường sắt đô thị đơn vị
trực thuộc Ủy ban nhân dân thành phố, có nhiệm vụ là chủ đầu tư và quản lý vận
hành, khai thác, phát triển phát triển mạng lưới đường sắt đô thị theo quy hoạch
giao thông vận tải đến năm 2020.
Có thể nói đây là một cột mốc lịch sử quan trọng đánh dấu sự ra đời của
một cơ quan chuyên ngành về một lĩnh vực hoàn toàn mới mẻ và chưa có tiền lệ
của Việt Nam nói chung và thành phố nói riêng: lĩnh vực đường sắt đô thị.
2. Những thuận lợi, khó khăn:
2.1- Thuận lợi:
2.1.1- Xác định khái quát tiềm năng, động lực phát triển hệ thống đường
sắt đô thị:
Việc xây dựng hệ thống đường sắt đô thị ở thành phố Hồ Chí Minh và kết
nối ra các đô thị vệ tinh trong Vùng thành phố Hồ Chí Minh là một việc làm tất
yếu. Hiện nay đường sắt đô thị ở thành phố Hồ Chí Minh mới được bắt đầu xây
dựng do vậy tiềm năng để đường sắt đô thị phát triển tại thành phố và mở rộng
ra toàn Vùng là rất lớn.

chỉnh và trở thành cơ sở pháp lý cho việc lập các dự án đầu tư xây dựng các tuyến
đường sắt đô thị nhằm khắc phục tình trạng ùn tắc giao thông, ô nhiễm môi
trường ngày càng trầm trọng, cản trở sự phát triển của thành phố Hồ Chí Minh.
- Quy hoạch xây dựng các tuyến đường sắt đô thị mới phù hợp với quy
hoạch phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Hồ Chí Minh cũng như chiến
lược, quy hoạch phát triển giao thông vận tải quốc gia và của các địa phương có
liên quan đến năm 2020, tầm nhìn sau năm 2020.
- Phát triển mạng lưới kết cấu hạ tầng giao thông đồng bộ, bền vững, hiện
đại đáp ứng nhu cầu đi lại thuận tiện của người dân thành phố, chủ động ứng
phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng.
Quản lý Nhà nước về quy hoạch đô thị nhằm xây dựng hệ thống đường sắt đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh


Tiểu luận cuối khóa

- Định hướng cho công tác nghiên cứu khả năng kết nối hệ thống đường sắt
đô thị từ thành phố Hồ Chí Minh đến các đô thị vệ tinh của các tỉnh lận cận, tạo
nên một hệ thống đường sắt đô thị liên vùng, tạo động lực phát triển kinh tế - xã
hội trong tương lai.
2.2- Khó khăn:
Hiện nay trong số các tuyến đường sắt đô thị được quy hoạch, đã có hai
tuyến được khởi công xây dựng theo đúng quy hoạch được duyệt là tuyến số 1
(Bến Thành – Suối Tiên) và tuyến số 2 (Bến Thành – Tham Lương); các tuyến
còn lại đang được lập dự án đầu tư.
Trong quá trình triển khai đầu tư xây dựng các tuyến đường sắt đô thị theo
quy hoạch điều chỉnh đã gặp phải một số những khó khăn nhất định, cần phải
thực hiện để phù hợp với quy hoạch chung, cụ thể như sau:
• Công tác công bố và quản lý “Quy hoạch phát triển giao thông vận tải
thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020 và tầm nhìn sau năm 2020” chưa chặt
chẽ từ trước nên công tác triển khai thực hiện lập dự án đầu tư xây dựng các

lớn của chúng ta chưa có một sơ sở dữ liệu chia sẻ về công trình ngầm và không
gian ngầm đô thị.
3. Những kết quả đạt được trong công tác quản lý quy hoạch hệ thống
Đường sắt đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh:
Trong hơn 6 năm thực hiện nhiệm vụ được giao, Đảng ủy và lãnh đạo Ban
Quản lý Đường sắt đô thị đã chỉ đạo tập trung và trọng điểm đến toàn thể cán
bộ, đảng viên, viên chức và người lao động nỗ lực thực hiện nhiệm vụ và đạt
được những kết quả bước đầu rất đáng khích lệ.
- Tuyến đường sắt đô thị số 1, (Bến Thành - Suối Tiên) do Cơ quan Hợp
tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) tài trợ: đã khởi công xây dựng gói thầu chính số 2
(trong tổng số 04 gói thầu chính của dự án) vào tháng 8 năm 2012; đã ký kế hợp
đồng gói thầu số 3 vào tháng 6 năm 2013. Hiện nay, công tác giải phóng mặt
bằng cơ bản đã hoàn thành. Công tác lựa chọn nhà thầu cho cho các gói thầu
chính còn lại cơ bản đã hoàn tất, chuẩn bị đám phán thương thảo hợp đồng với
nhà thầu. Dự kiến khởi công các gói thầu chính còn lại vào năm 2014 và phấn
đấu hoàn thành vào năm 2018.
Tuyến Metro số 1 dự kiến có 6 toa với số lượng hành khách có thể chuyên
chở được là 942 người (trong đó có 312 chỗ ngồi). Lưu lượng hành khách
chuyên chở được khoảng 162.000 lượt người/ngày giai đoạn 2014 - 2020, sau đó
nâng lên khoảng 635.000 lượt/ngày vào năm 2030 và 800.000 lượt/ngày vào
năm 2040. Theo thiết kế, thời gian đi từ đầu đến cuối tuyến khoảng 29 phút,
tương đương vận tốc 39 km/giờ. Dự kiến tàu sẽ hoạt động khoảng 20 giờ/ngày
với thời gian giãn cách giữa các chuyến là 5 - 6 phút.
- Tuyến tàu điện ngầm số 2 giai đoạn 1, (Bến Thành – Tham Lương): được
Ủy ban nhân dân thành phố phê duyệt vào tháng 10 năm 2010 và đã ký kết các
Hiệp định vay vốn với các nhà tài trợ Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB),
Ngân hàng Tái thiết Đức (KfW) và Ngân hàng Đầu tư Châu Âu (EIB). Các hợp
đồng tư vấn chính của dự án đang thực hiện khẩn trương để tiến hành đấu thầu
các gói thầu xây lắp và thiết bị chính của dự án vào năm 2014. Bên cạnh đó, dự
án Xây dựng tường bảo vệ, nhà bảo vệ và san lấp mặt bằng depot Tham Lương

-Quy hoạch hệ thống đường sắt đô thị phải tạo điều kiện chỉnh trang đô thị,
thực hiện chính sách phát triển đô thị gắn kết với hệ thống đường sắt đô thị;
- Chú trọng đến việc quy hoạch và phát triển không gian ngầm vì quỹ đất
hiện nay ngày càng thu hẹp nên xu hướng phát triển không gian ngầm giữ vai trò
quan trọng trong sự phát triển của các đô thị, nhất là các thành phố lớn như
thành phố Hồ Chí Minh.

Quản lý Nhà nước về quy hoạch đô thị nhằm xây dựng hệ thống đường sắt đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh


Tiểu luận cuối khóa

CHƯƠNG III
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ QUY HOẠCH ĐÔ THỊ NHẰM XÂY DỰNG
HỆ THỐNG ĐƯỜNG SẮT ĐÔ THỊ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
1. Mục tiêu:
1.1- Mục tiêu tổng quát phát triển đô thị cả nước đến năm 2020 là: “Từng
bước xây dựng hoàn chỉnh hệ thống đô thị cả nước có cơ sở hạ tầng kinh tế - xã
hội hiện đại, có môi trường đô thị trong sạch, được phân bố và phát triển hợp lý
trên địa bàn cả nước, đảm bảo cho mỗi đô thị phát triển ổn định, cân bằng, bền
vững và trường tồn, góp phần thực hiện tốt hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng
chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước”.
Nhiệm vụ chủ yếu chỉ của công tác quản lý và phát triển đô thị nước ta là:
-Tập trung thu hút đầu tư phát triển các đô thị lớn trung tâm hạt nhân gắn
với xây dựng các vùng kinh tế trọng điểm, tạo ra sự phát triển cân bằng giữa ba
miền để thúc đẩy sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế đất nước.
-Phải dành nguồn lực phát triển thích đáng các đô thị vừa và nhỏ trên cơ sở
khai thác lợi thế và tiềm năng của tất cả các vùng, liên kết hỗ trợ nhau để tất cả

triển khai các thủ tục chuẩn bị để kêu gọi đầu tư các dự án chỉnh trang, phát triển
đô thị dọc theo các tuyến đường sắt; có cơ chế, chính sách ưu đãi nhà đầu tư để
huy động mọi nguồn lực tập trung phát triển nhanh đường sắt đô thị; xây dựng
mô hình, cơ chế hoạt động và nguồn nhân lực của doanh nghiệp vận hành và bảo
trì đường sắt đô thị, bảo đảm sẳn sàng vận hành khi tuyến đường sắt Bến Thành
– Suối Tiên đi vào hoạt động năm 2018, tuyến đường sắt Bến Thành – Tham
Lương đi vào hoạt động năm 2020.
2. Những giải pháp:
2.1- Phát triển đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng trên địa bàn thành phố:
2.1.1- Nâng cao chất lượng công tác quy hoạch, quản lý và thực hiện quy
hoạch:
Tổ chức rà soát tất cả các loại quy hoạch đã ban hành, bảo đảm yêu cầu
bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng để bổ sung,
điều chỉnh cho phù hợp, bảo đảm quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng phải đồng
bộ với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thành phố đến năm 2020
tầm nhìn sau năm 2020.
Hoàn chỉnh, nâng cao chất lượng các quy hoạch phát triển hạ tầng kỹ thuật
và hạ tầng xã hội có liên quan đến việc sử dụng đất để triển khai thực hiện đồng
bộ, có hiệu quả. Xây dựng quy hoạch, lập danh mục gắn với ước tính phân bổ
nguồn vốn đầu tư các công trình kết cấu hạ tầng. tập trung, khẩn trương xác định
cốt nền xây dựng; nhanh chóng hoàn thành đề án quy hoạch ngầm hóa hạ tầng
kỹ thuật đô thị, quy hoạch chi tiết; chủ động chuẩn bị các dự án đầu tư xây dựng
các công trình giao thông trọng điểm để triển khai thực hiện ngay khi có vốn đầu
tư; bố trí vốn thuê tư vấn có năng lực, kinh nghiệm lập dự án kêu gọi đầu tư; quy
hoạch chi tiết các khu đất gắn với các dự án xây dựng các trục đường mới và có
phương án thu hồi, tạo quỹ đất đấu giá, thu hút đầu tư, khai thác hiệu quả quỹ
đất hai bên đường và chỉnh trang đô thị; quản lý chặt chẽ quỹ đất quy hoạch
công trình hạ tầng.

Quản lý Nhà nước về quy hoạch đô thị nhằm xây dựng hệ thống đường sắt đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh

(PPP), chuyển nhượng quyền kinh doanh, khai thác quỹ đất và các dịch vụ liên
quan, phát hành trái phiếu đô thị, trái phiếu công trình, vay vốn các tổ chức tài
chính nước ngoài. Tranh thủ tối đa các nguồn vốn viện trợ phát triển (ODA) để
đầu tư các công trình hạ tầng trọng điểm. Tập trung xây dựng một số đề án
mang tính đột phá để kiến nghị Trunng ương cho phép thực hiện thí điểm đối
với những vấn đề mới phát sinh mà chưa có quy định hoặc có quy định nhưng
không còn phù hợp với thực tiễn thành phố để huy động các nguồn vốn (ngoài
ngân sách), xã hội hóa đầu tư lĩnh vực kết cấu hạ tầng.
Tiếp tục nghiên cứu bổ sung cơ chế, chính sách quản lý hiệu quả giá trị
tăng thêm của đất sau khi đầu tư cơ sở hạ tầng kinh tế - văn hóa - xã hội, bảo
đảm thu hồi hợp lý phần giá trị tăng thêm bổ sung nguồn đầu tư phát triển kết
cấu hạ tầng đô thị; kiên quyết thu hồi các diện tích mặt đất đã giao cho các cơ
quan, tổ chức, doanh nghiệp không sử dụng hoặc sử dụng không hiệu quả để
Quản lý Nhà nước về quy hoạch đô thị nhằm xây dựng hệ thống đường sắt đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh


Tiểu luận cuối khóa

đấu giá và chủ động bồi thường đất, tạo thêm quỹ đất cho Nhà nước trực tiếp
quản lý để đấu giá giá trị quyền sử dụng đất tạo nguồn vốn đầu tư các công
trình hạ tầng hoặc cho các nhà đầu tư có năng lực khai thác, sử dụng có hiệu
quả hơn.
2.1.3- Đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý
Nhà nước trong đầu tư, khai thác hệ thống kết cấu hạ tầng
Tập trung triển khai đề án quy hoạch và phát triển nguồn nhân lực; có cơ
chế, chính sách thu hút nguồn nhân lực đủ phẩm chất, năng lực trong lĩnh vực
quy hoạch, quản lý, điều hành các dự án đầu tư nhằm tránh thất thoát, lãng phí.
Thường xuyên cập nhật thông tin và nâng cao kiến thức về quy hoạch, quản lý
dự án, bao gồm khả năng lựa chọn các dự án trong chương trình; điều chỉnh, bổ
sung các dự án mới; nâng cao trình độ về chuyên môn nghiệp vụ trong lĩnh vực

Tiểu luận cuối khóa

hồi hợp lý phần giá trị tăng thêm bổ sung nguồn đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng
đô thị.
- Đẩy mạnh chương trình kêu gọi đầu tư hạ tầng giao thông vận tải,
khuyến khích các doanh nghiệp trong và ngoài nước tham gia thông qua
phương thức hợp tác giữa Nhà nước với tư nhân (PPP) và các phương thức
khác (BOT, BTO, BT).
2.4- Nâng cao năng lực quản lý Nhà nước về giao thông vận tải
- Tiếp tục cải tiến thủ tục đầu tư xây dựng cơ bản trong phạm vi thẩm
quyền của thành phố, đồng thời nghiên cứu, kiến nghị Trung ương chính sách tỷ
giá ổn định của các dự án ODA, để làm việc với các đối tác, từng bước tháo gỡ
khó khăn, đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án.
- Củng cố, kiện toàn tổ chức hệ thống quản lý Nhà nước về giao thông đô
thị (Hội đồng phát triển hạ tầng kỹ thuật thành phố; Hội đồng tư vấn giảm ùn tắc
giao thông đô thị; Cơ quan quản lý Nhà nước về vận tải hành khách công cộng
(PTA); trung tâm điều hành giao thông đô thị; Viện nghiên cứu giao thông vận
tải đô thị; Ban quản lý giao thông đô thị; Ban chuẩn bị đầu tư các dự án giao
thông đô thị trọng điểm,…). Nghiên cứu, kiến nghị Chính phủ cho phép thực
hiện mô hình quản lý kết cấu hạ tầng giao thông và quản lý giao thông phù hợp
với đặc thù của đô thị đặc biệt.
- Tăng cường số lượng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngành giao
thông vận tải; đề xuất bổ sung biên chế lực lượng cảnh sát giao thông; đầu tư
trang thiết bị hiện đại đáp ứng nhu cầu quản lý giao thông đô thị; xây dựng cơ
chế đãi ngộ tương xứng để thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ các
chương trình nâng cao năng lực quản lý ngành giao thông vận tải, nhất là tham
gia vào ban quản lý các dự án giao thông trọng điểm của thành phố; xây dựng và
triển khai thực hiện Đề án đào tạo nguồn nhân lực về quy hoạch và quản lý giao
thông vận tải đô thị giai đoạn 2011-2015 theo hướng đào tạo dài hạn tại các cơ
sở đào tạo chuyên nghiệp trong và ngoài nước; đào tạo bổ sung về chuyên môn

- Đối với mạng lưới đường sắt đô thị, ngoài việc quản lý chỉ giới trên mặt
đất, Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh cần chỉ đạo các Sở, Ban, ngành và
chính quyền sở tại có liên quan quản lý chặt chẽ việc quy hoạch và cấp phép xây
dựng các nhà cao tầng, các công trình có móng sâu chiếm dụng lòng đất ngầm
dọc hành lang tuyến metro, xác định và quản lý chặt chẽ quỹ đất dành cho
Depot, cho các tuyến đường sắt đô thị.
- Việc xây dựng hoàn chỉnh cả hệ thống đến năm 2020 là rất khó thực hiện,
mặc dù công tác quy hoạch chi tiết và quỹ đất có thể đủ đáp ứng cho nhu cầu
xây dựng đến năm 2020 nhưng vấn đề cốt lõi là nguồn vốn đầu tư hiện nay gặp
rất nhiều khó khăn. Việc xây dựng các tuyến đường sắt đô thị cần phải có số vốn
rất lớn, nguồn vốn ODA hiện nay ngày càng thu hẹp, ngân sách quốc gia và
thành phố không đủ bố trí. Vì vậy, cần phải có những chính sách ưu đãi hấp dẫn
nhà kêu gọi các nhà đầu tư trong xã hội cũng như trên thế giới để huy động mọi
nguồn lực tập trung phát triển nhanh đường sắt đô thị.
- Đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án đầu tư xây dựng các tuyến đường sắt
đô thị. Nhanh chóng hoàn thiện công tác chuẩn bị đầu tư, giải phóng mặt bằng
đáp ứng yêu cầu thi công các dự án;
- Xây dựng, ban hành các quy hoạch chi tiết, triển khai các thủ tục chuẩn bị
để kêu gọi đầu tư các dự án chỉnh trang, phát triển đô thị dọc theo các tuyến
đường sắt; có cơ chế, chính sách ưu đãi nhà đầu tư để huy động mọi nguồn lực
tập trung phát triển nhanh đường sắt đô thị;
- Sau khi hoàn tất đề án xây dựng mô hình, cơ chế hoạt động và nguồn
nhân lực của doanh nghiệp vận hành và bảo trì đường sắt đô thị, bảo đảm sẳn
sàng vận hành khi tuyến đường sắt Bến Thành – Suối Tiên, tuyến đường sắt Bến
Quản lý Nhà nước về quy hoạch đô thị nhằm xây dựng hệ thống đường sắt đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status