LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài
Vốn là một phạm trù kinh tế, là điều kiện tiên quyết cho bất cứ doanh nghiệp,
ngành nghề kinh tế kĩ thuật, dịch vụ nào trong nền kinh tế. Để có thể tiến hành hoạt
động sản xuất kinh doanh doanh nghiệp cần phải nắm giữ một lượng vốn nhất định.
Số vốn này thể hiện toàn bộ tài sản và các nguồn lực cua doanh nghiệp trong hoạt
động sản xuát kinh doanh. Vì vậy vốn kinh doanh có vai trò quyết định trong việc
thành lập, hoạt động và phát triển của doanh nghiệp.
Trong sự cạnh tranh gay gắt của thị trường, huy động được vốn mới chỉ là
bước đầu, quan trọng hơn và quyết định hơn là nghệ thuật phân bố, sử dụng vốn với
hiệu quả cao nhất ảnh hưởng tới vị thế của doanh nghiệp trên thị trường. Bởi vậy
mỗi doanh nghiệp cần có chiến lược cụ thể nhằm bảo toàn và sử dụng hiệu quả vốn
kinh doanh.
Công ty Cổ phần vận tải thuỷ số 4 là đơn vị trực thuộc cục đường sông Việt
Nam, kinh doanh nhiều ngành nghề như: Vận tải đường thuỷ, sửa chữa và đóng mới
tàu thuyền, hỗ trợ vận tải, đại lý mua bán kí gửi hàng hoá sản xuất các sản phẩm từ
kim loại, xay dựng công trình giao thông, công nghiệp, dân dụng, thuỷ lợi và san
lấp mặt bằng… Do đó công ty có nhiều hoạt động kinh doanh lớn và đặc biệt trong
nền kinh tế thị trường sôi động có nhiều thuận lợi nhưng không ít rủi ro. Vì vậy việc
sử dụng vốn kinh doanh hiệu quả là một trong những vấn đề cần quan tâm sâu sắc.
Do đó em đã lựa chọn đề tài: “ Thực trạng và một số biện nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn kinh doanh tại công ty Cổ phần vận tải thuỷ số 4” làm đề tài luận văn
tốt nghiệp của mình.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận chung sử dụng vốn kinh doanh hiệu quả nhằm nâng cao
sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Đồng thời, luận văn
còn nghiên cứu những lợi thế, hạn chế trong việc quản lý và sử dụng vốn kinh
doanh của công ty Cổ phần vận tải thuỷ số 4. Trên cở sở phân tích, đánh giá thực
trạng hoạt động sử dụng vốn kinh doanh của công ty từ đó đề ra một số biện pháp
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của công ty.
1
nói riêng và nền kinh tế nói chung. Do vậy, từ trước đến nay có rất nhiều quan niệm
về vốn, ở mỗi một hoàn cảnh kinh tế khác nhau thì có những quan niệm khác nhau
về vốn.
Theo quan điểm của Mác, dưới góc độ các yếu tố sản suất, Mác cho rằng: Vốn
(tư bản) là giá trị đem lại giá trị thặng dư, là đầu vào của quá trình sản suất. Định
nghĩa của Mác về vốn có tầm khái quát lớn vì nó bao hàm đầy đủ bản chất và vai
trò của vốn. Bản chất của vốn là giá trị, mặc dù nó được thể hiện dưới nhiều hình
thức khác nhau: tài sản cố định, nguyên vật liệu, tiền công... Tuy nhiên, do hạn chế
về trình độ phát triển của nền kinh tế, Mác chỉ bó hẹp khái niệm về vốn trong khu
vực sản suất vật chất và cho rằng chỉ có quá trình sản xuất mới tạo ra giá trị thặng
dư cho nền kinh tế. Đây là một hạn chế trong quan niệm về vốn của Mác.
P.A.Samuelson, đại diện tiêu biểu của học thuyết tăng trưởng kinh tế hiện đại,
coi đất đai và lao động là các yếu tố ban đầu sơ khai, còn vốn và hàng hoá chỉ là kết
quả của sản xuất. Vốn bao gồm các loại hàng hoá lâu bền được sản xuất ra và được
sử dụng như các đầu vào hữu ích trong quá trình sản xuất sau đó. Một số hàng hoá
vốn có thể tồn tại trong vài năm, trong khi đó một số khác có thể tồn tại trong một
thế kỷ hoặc lâu hơn. Đặc điểm cơ bản nhất của hàng hoá vốn thể hiện ở chỗ chúng
vừa là sản phẩm đầu ra vừa là yếu tố đầu vào trong sản xuất. Về bản chất vốn là
phương pháp sản xuất gián tiếp tốn thời gian.
David Begg, trong cuốn “Kinh tế học” ông đã đưa ra hai định nghĩa về vốn là:
Vốn hiện vật và vốn tài chính cùa doanh nghiệp. Vốn hiện vật là dự trữ các hàng
hoá đã sản xuất ra để sản xuất các hàng hoá khác. Vốn tài chính là các giấy tờ có giá
và tiền mặt của doanh nghiệp. Như vậy, đã có sự đồng nhất vốn với tài sản của
doanh nghiệp trong định nghĩa của David Begg.
Theo khái niệm trong giáo trình Tài Chính doanh nghiệp của Trường Đại Học
Kinh Tế Quốc Dân thì khái niệm về vốn là: vốn được quan tâm đến khía cạnh giá trị
nào đó của nó mà thôi, vốn được nhà doanh nghiệp dùng để đầu tư vào tài sản của
mình.
3
hiện đại hoá công nghệ. Mục đích cuối cùng của doanh nghiệp là tìm kiếm lợi
4
nhuận. Lợi nhuận là khoản tiền chênh lệch giữa thu nhập và chi phí doanh nghiệp
bỏ ra để đạt được thu nhập đó từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đó đưa lại.
Trong nền kinh tế thị trường các doanh nghiệp không chỉ tồn tại đơn thuần mà còn
có sự cạnh tranh gay gắt với nhau. Nếu thiếu vốn sẽ dẫn đến năng xuất lao động
thấp, thu nhập thấp, doanh nghiệp sẽ càng tụt lùi vì vòng quay của vốn càng ngắn
lại thì quy mô của doanh nghiệp càng co lại.
Như vậy, vốn là một yếu tố số một của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh. Có
vốn các doanh nghiệp có thể mở rộng sản xuất kinh doanh, mua sắm các trang thiết
bị hay triển khai các kế hoạch khác trong tương lai. Vậy yêu cầu đặt ra đối với các
doanh nghiệp là họ cần phải sử dụng vốn sao cho có hiệu quả nhất nhằm bảo toàn
và phát triển vốn, đảm bảo cho các doanh nghiệp ngày càng phát triển và vững
mạnh.
1.2.2 Ý nghĩa của vốn kinh doanh
- Vốn kinh doanh trong các doanh nghiệp là một loại quỹ tiền tệ đặc biệt. Mục tiêu
của quỹ là để phục vụ cho sản xuất - kinh doanh tức là mục đích tích luỹ, không
phải là mục đích tiêu dùng như một vài quỹ khác trong doanh nghiệp.
- Vốn kinh doanh của doanh nghiệp có trước khi diễn ra hoạt động sản xuất - kinh
doanh.
- Vốn kinh doanh của doanh nghiệp sau khi ứng ra, được sử dụng vào kinh doanh
và sau mỗi chu kỳ hoạt động phải được thu về để ứng tiếp cho kỳ hoạt động sau.
- Vốn kinh doanh không thể mất đi. Mất vốn đối với doanh nghiệp đồng nghĩa với
nguy cơ phá sản.
1.3 Phân loại vốn kinh doanh
Có rất nhiều cách phân loại vốn kinh doanh, tuỳ theo những góc độ khác nhau:
1.3.1 Căn cứ vào phạm vi tài trợ
+ Nguồn vốn bên trong: chủ yếu trích lập từ lợi nhuận có được từ kết quả kinh
Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là một quá trình, các chu
kỳ được lặp đi lặp lại, mỗi chu kỳ được chia làm các giai đoạn: chuẩn bị sản xuất sản xuất – tiêu thụ. Trong mỗi giai đoạn của chu kỳ sản xuất kinh doanh, vốn được
luân chuyển và tuần hoàn không ngừng. Căn cứ vào đặc điểm luân chuyển của từng
loại vốn trong giai đoạn của chu kỳ sản xuất kinh doanh, người ta chia vốn sản xuất
6
kinh doanh thành 2 loại vốn cố định và vốn lưu động.
1.3.5.1 Vốn cố định
Vốn cố định là một bộ phận của vốn đầu tư ứng trước về tài sản cố định mà
đặc điểm của nó được luân chuyển từng phần trong nhiều chu kỳ sản xuất và hình
thành một vòng tuần hoàn khi tài sản cố định hết thời gian sử dụng.
Đặc điểm của vốn cố định:
Vốn cố định tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất, điều này do đặc điểm của
tài sản cố định được sử dụng lâu dài, trong nhiều chu kỳ sản xuất quyết định.
Vốn cố định được luân chuyển dần dần từng phần trong các chu kỳ sản xuất.
khi tham gia vào quá trình sản xuất, một bộ phận vốn cố định được luân chuyển và
cấu thành chi phí sản xuất sản phẩm (dưới hình thức chi phí khấu hao) tương ứng
với phần giá trị hao mòn của tài sản cố định.
Sau nhiều chu kỳ sản xuất vốn cố định mới hoàn thành một vòng luân
chuyển.
Trong các doanh nghiệp vốn cố định là một bộ phận của vốn kinh doanh.
Việc quản lý sử dụng vốn cố định được coi là một vấn đề quan trọng của công tác
tài chính doanh nghiệp.
Để quản lý, sử dụng vốn cố định một cách có hiệu quả thì phải sử dụng tài
sản cố định sao cho hiệu quả. Thông thường một tư liệu lao động được coi là tài sản
cố định phải đồng thời thoả mãn hai tiêu chuẩn cơ bản:
+ Phải có thời gian sử dụng tối thiểu, thường từ một năm trở lên.
+ Phải đạt giá trị tối thiểu ở một mức quy định (hiện nay có quy định từ 30
triệu đồng trở lên).
- Căn cứ vào tình hình sử dụng:
+ Tài sản cố định đang dùng.
+ Tài sản cố định chưa sử dụng.
+ Tài sản cố định không cần dùng, chờ thanh lý.
- Căn cứ vào quyền sở hữu:
+ Tài sản cố định tự có.
8
+ Tài sản cố định đi thuê.
Vậy với mỗi cách phân loại trên đây cho phép ta đánh giá, xem xét kết cấu tài
sản cố định của doanh nghiệp theo các tiêu thức khác nhau. Đối với mỗi doanh
nghiệp, việc phân loại và phân tích kết cấu tài sản cố định là việc làm cần thiết giúp
donh nghiệp chủ động biến đổi kết cấu của tài sản cố định sao cho có lợi nhất cho
việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định.
Ngày nay sự phát triển và mở rộng quan hệ hàng hoá, tiền tệ cũng như sự
phát triển của khoa học – kĩ thuật, do tính đặc thù về đầu tư nên đã làm xuất hiện
một số khoản chi phí đầu tư mà tính chất luân chuyển của nó giống như đặc điểm
luân chuyển vốn cố định.
1.3.5.2 Vốn lưu động
Vốn lưu động của doanh nghiệp là một khoản tiền ứng trước về tài sản lưu
động, nhằm đảm bảo cho quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp được thực hiện
một cách thường xuyên, liên tục, hay vốn lưu động của doanh nghiệp được biểu
hiện bằng tiền giá trị của các tài sản thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp có thời
gian sử dụng, thu hồi và luân chuyển trong vòng một năm hay một kỳ kinh doanh.
Vốn lưu động được chuyển toàn bộ giá trị ngay trong một lần, tiến hành liên
tục và hoàn thành một vòng tuần hoàn sau một chu kỳ sản xuất. Vốn lưu động là
điều kiện vật chất không thể thiếu của quá trình tái sản xuất. Nếu doanh nghiệp
không đủ vốn thì việc tổ chức sử dụng vốn sẽ gặp nhiều khó khăn, do vậy quá trình
sản xuất bị trở ngại hay gián đoạn.
1.4 Khái niệm về hiệu quả sử dụng vốn
Hiệu quả sử dụng vốn là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ khai thác, sử
dụng và quản lý nguồn vốn làm cho đồng vốn sinh lời tối đa nhằm đến mục đích
cuối cùng của doanh nghiệp là tối đa hoá lợi nhuận.
Hiệu quả sử dụng vốn được lượng hoá thông qua hệ thống các chỉ tiêu, nó còn
phản ánh giữa quan hệ đầu ra và quan hệ đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh
thông qua thước đo tiền tệ hay đây chính là mối quan hệ tương quan giữa kết quả
lợi nhuận thu được và chi phí bỏ ra để thực hiện sản xuất kinh doanh. Lợi nhuận thu
được càng cao so với chi phí vốn bỏ ra thì hiệu quả sử dụng vốn càng cao.
10
Kết quả lợi ích tạo ra từ sử dụng vốn phải thoả mãn yêu cầu: đáp ứng được lợi
ích của doanh nghiệp, lợi ích của nhà đầu tư ở mức độ mong muốn cao nhất đồng
thời nâng cao lợi ích của nền kinh tế xã hội. Trong nền kinh tế thị trường hiện nay,
bất kì một doanh nghiệp nào hoạt động kinh doanh mang lại lợi ích cho mình,
nhưng làm tổn hại đến lợi ích chung của nền kinh tế xã hội sẽ không được phép
hoạt động. Ngược lại nếu doanh nghiệp hoạt động mang lại lợi ích cho nền kinh tế,
còn bản thân thì thua lỗ thì sẽ làm cho doanh nghiệp phá sản. Như vậy kết quả tạo
ra do việc sử dụng vốn phải kết hợp với lợi ích của doanh nghiệp và lợi ích của nền
kinh tế xã hội.
Vậy hiệu quả sử dụng vốn là chỉ tiêu biểu hiện một mặt về hiệu quả kinh
doanh, một mặt là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ, năng lực khai thác và sử
dụng vốn vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục tiêu tối đa hoá lợi ích và tối
thiểu hoá chi phí.
* Sự cần thiết nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
Hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh là một trong những nguyên nhân
trực tiếp ảnh hưởng đến lợi nhuận,đến quyền lợi đến mục đích cao nhất của doanh
lượng sản phẩm, mẫu mã sản phẩm và phải quan tâm đến hiệu quả sản xuất kinh
doanh, hiệu quả sử dụng vốn. Vấn đề này quyết định lớn đến khả năng cạnh tranh
của doanh nghiệp.
Thứ tư: Tình hình chung trong các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh
doanh ở nước ta thì hiệu qủa sử dụng vốn sản xuất kinh doanh còn chưa cao. Thậm
chí ngày càng giảm. Do đó nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh là
một yêu cầu chung đối với các doanh nghiệp trong giai đoạn hiện nay. Việc sử dụng
vốn có hiệu quả trở thành một yêu cầu khách quan của cơ chế hạch toán đó là: kinh
doanh tiết kiệm, có hiệu quả trên cơ sở tự chủ về mặt tài chính.
Tóm lại, việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là một tất yếu trong cơ chế thị
trường cạnh tranh gay gắt. Nó góp phần nâng cao khả năng hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp, mở rộng quy mô hoạt động sản xuất, tăng nhanh tốc độ
hoạt động của doanh nghiệp nhằm đem lại cho doanh nghiệp lợi nhuận và lợi nhuận
ngày càng cao, góp phần tăng trưởng kinh tế xã hội.
1.5 Nguồn vốn kinh doanh của công ty
12
Nguồn vốn kinh doanh là nguồn gốc của vốn, là toàn bộ vốn để đảm bảo nhu
cầu tài sản cho doanh nghiệp, giúp quá trình kinh doanh được tiến hành liên tục và
có hiệu quả.
1.5.1 Nợ phải trả
Nợ phải trả là nghĩa vụ hiện tại của doanh nghiệp phát sinh từ giao dịch và sự
kiện đã qua mà doanh nghiệp phải thanh toán từ các nguồn lực của mình. Nợ phải
trả xác định nghĩa vụ hiện tại của doanh nghiệp khi doanh nghiệp nhận về một tài
sản, tham gia cam kết hoặc phát sinh nghĩa vụ pháp lý.
Nợ phải trả bao gồm các khoản vay ngắn hạn, dài hạn, các khoản phải trả phải
nộp khác nhưng chưa đến kì hạn trả như: phải trả người bán, phải trả công nhân
viên, phải trả khách hàng…
Chỉ tiêu này phản ánh mối quan hệ giữa tổng tài sản hiện nay mà doanh nghiệp
đang quản lý sử dụng với tổng số nợ phải trả ( nợ ngắn hạn, nợ dài hạn, ... ). Nó cho
biết một đồng vốn vay được đảm bảo bằng bao nhiêu đồng tài sản.
Nếu hệ số này nhỏ hơn một là báo hiệu sự phá sản của doanh nghiệp, vốn chủ
sở hữu bị mất toàn bộ, tổng số tài sản hiện có (tài sản lưu động, tài sản cố định)
không đủ trả số nợ mà doanh nghiệp phải thanh toán.
- Hệ số thanh toán nhanh:
Tài sản ngắn hạn - Hàng tồn kho
Hệ số thanh toán nhanh =
Nợ ngắn hạn
Chỉ tiêu này cho biết một đồng nợ ngắn hạn được đảm bảo bằng bao nhiêu
đồng tài sản ngắn hạn có khả năng thanh toán nhanh. Việc phân tích và tính toán
các hệ số khả năng thanh toán nhanh giúp cho doanh nghiệp biết được thực trạng
các khoản cần thanh toán nhanh để có kế hoạch dự trữ nhằm đáp ứng kịp thời các
nhu cầu thanh toán.
- Hệ số thanh toán hiện hành:
Tài sản ngắn hạn
Hệ số thanh toán hiện hành =
Nợ ngắn hạn
Chỉ tiêu này cho biết một đồng nợ ngắn hạn được đảm bảo bằng bao nhiêu
đồng tài sản ngắn hạn.
Chỉ tiêu này cho biết khả năng tự chủ về mặt tài chính của doanh nghiệp. Tỷ
suất tự tài trợ càng lớn chứng tỏ doanh nghiệp có nhiều vốn tự có, có tính độc lập
cao với các chủ nợ, do đó không bị ràng buộc hoặc bị sức ép của các khoản vay.
Các chủ nợ thường thích tỷ suất tự tài trợ càng cao càng tốt. Chủ nợ nhìn vào tỷ số
này để tin tưởng một sự đảm bảo cho các món nợ vay được hoàn trả đúng hạn.
- Hệ số khả năng thanh toán lãi vay:
LNTT và lãi vay
Hệ số khả năng thanh toán lãi vay =
Lãi vay phải trả
Cho biết khả năng đáp ứng trả nợ lãi của công ty đến đâu. Nếu tỷ số >1 công
ty hoàn toàn có khả năng trả lãi vay. Nói cách khác, hệ số thanh toán lãi vay cho
15
chúng ta biết được số vốn đi vay đã sử dụng tốt tới mức độ nào và đem lại một
khoản lợi nhuận là bao nhiêu, có đủ bù đắp lãi vay phải trả hay không.
1.6.3 Chỉ tiêu đánh giá về khả năng hoạt động sản xuất kinh doanh
- Vòng quay các khoản phải thu:
DTT
Vòng các khoản phải thu =
Các khoản phải thu bình quân
16
- Suất hao phí TSCĐ:
Suất hao phí TSCĐ =
Nguyên giá TSCĐ bình quân
DTT
Chỉ tiêu này phản ánh để tạo ra một đồng doanh thu thuần thì phải bỏ ra bao
nhiêu đồng nguyên giá bình quân TSCĐ. Và hệ số này càng nhỏ thì chứng tỏ tài sản
cố định sử dụng có hiệu quả.
- Sức sinh lời của TSCĐ:
LNST
Sức sinh lời TSCĐ =
Nguyên giá TSCĐ bình quân
×100%
Chỉ tiêu này cho biết 100 đồng nguyên giá TSCĐ đem lại bao nhiêu đồng lợi
nhuận thuần, chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ việc sử dụng TSCĐ có hiệu quả.
b. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng VCĐ
Ngoài ra để đánh giá trực tiếp hiệu quả sử dụng vốn cố định, doanh nghiệp sử
dụng ba chỉ tiêu sau:
- Hiệu suất sử dụng vốn cố định:
DTT
Hiệu suất sử dụng vốn cố định =
đối với việc đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định, và chỉ tiêu này càng cao thì cho
thấy vốn cố định càng được sử dụng hiệu quả.
1.6.5 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động.
Để đánh giá hiệu suất vốn lưu động của doanh nghiệp ta dùng các chỉ tiêu sau:
- Hệ số đảm nhiệm vốn lưu động:
Hệ số đảm nhiệm vốn lưu động =
VLĐ bình quân
DTT
Chỉ tiêu này phản ánh tạo ra một đồng doanh thu thuần thì cần bao nhiêu đồng
vốn lưu động. Hệ số này càng nhỏ chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn lưu động càng
cao, số vốn tiết kiệm được càng nhiều và ngược lại.
- Số vòng quay vốn lưu động:
DTT
Số vòng quay vốn lưu động =
VLĐ bình quân
Cho biết tốc độ luân chuyển vốn lưu động trong kì ( thường là một năm), số
vòng quay vốn lưu động càng cao thì càng tốt.
- Kỳ luân chuyển vốn lưu động:
360
18
Số vòng quay VLĐ
Kỳ luân chuyển vốn lưu động =
quay bao nhiêu vòng trong năm. Hệ số này càng cao cho thấy doanh nghiệp sử dụng
vốn hiệu quả. Mặt khác chỉ tiêu này còn cho biết một đồng vốn cố định sử dụng
bình quân sẽ cho ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần.
19
- Tỷ suất lợi nhuận sau thuế/vốn kinh doanh (ROA)
LNST
ROA=
Vốn bình quân
Chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng vốn sử dụng bình quân sẽ cho ra bao nhiêu
đồng lợi nhuận sau thuế. Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ rằng vốn sử dụng càng có
hiệu quả cao.
- Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên VCSH (ROE)
ROE=
LNST
VCSH bình quân
Chỉ tiêu này cho thấy cứ 1 đồng vốn chủ sở hữu bình quân trong kỳ mang về
bao nhiêu đồng thời lợi nhuận nhuận sau thuế. Chỉ tiêu này càng lớn cho thấy vốn
sử dụng có hiệu quả.
1.7. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn:
1.7.1 Các nhân tố chủ quan
* Đặc điểm sản phẩm và chu kỳ sản xuất:
Đặc điểm của sản phẩm ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả sử dụng vốn của
doanh nghiệp. Vị thế của sản phẩm trên thị trường, tính cạnh tranh, sự ưa chuộng
- Nhu cầu vốn:
Nhu cầu vốn của doanh nghiệp tại bất cứ thời điểm nào cũng chính bằng
tổng tài sản mà doanh nghiệp cần phải có để đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh
doanh. Việc xây dựng nhu cầu vốn kinh doanh của doanh nghiệp là hết sức quan
trọng, nếu thiếu hụt sẽ gây gián đoạn sản xuất kinh doanh, ảnh hưởng xấu đến kế
hoạch tiêu thụ sản phẩm, đến hợp đồng với khách hàng, làm mất uy tín của doanh
nghiệp. Ngược lại, nếu xác định vốn quá cao, vượt qua nhu cầu thực sẽ gây lãng phí
vốn. Tóm lại các doanh nghiệp phải xác định chính xác nhu cầu về vốn mới có thể
nâng cao hiệu quả kinh doanh.
- Nguồn tài trợ:
Khi doanh nghiệp có nhu cầu về vốn doanh nghiệp phải tìm nguồn tài trợ.
Nguồn tài trợ ảnh hưởng lớn đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp. Nó tạo
cho doanh nghiệp khả năng độc lập về tài chính song nó cũng gây cho doanh nghiệp
21
những khó khăn quyền kiểm soát doanh nghiệp bị pha loãng và chi phí vốn lớn hơn.
Sử dụng các nguồn vốn bên ngoài (chủ yếu là vốn vay) phải trả chi phí vốn đó
chính là lãi suất vay nợ. Vì vậy doanh nghiệp phải xác định được nguồn tài trợ hợp
lý trong các thời điểm khác nhau để có thể nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cũng như
hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
* Trình độ tổ chức quản lý doanh nghiêp:
Trình độ tổ chức quản lý có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả sản xuất kinh
doanh cũng như hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp. Nếu quản lý
nhân sự tốt, doanh nghiệp sẽ phát huy được năng lực của người lao động, tránh lãng
phí, năng suất lao động tăng, nâng cao chất lượng sản phẩm. Nếu quản lý tốt về mặt
tài chính, doanh nghiệp sẽ xác định đúng các nhu cầu về vốn phát sinh, từ đó tìm
nguồn tài trợ hợp lý. Tổ chức tiêu thụ sản phẩm cũng ảnh hưởng rất lớn đến hiệu
quả sử dụng vốn của doanh nghiệp vì tiêu thụ sản phẩm ảnh hưởng trực tiếp đến
doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp.
sản phẩm đó sẽ tiêu thụ được từ đó doanh nghiệp sẽ thu được doanh thu và lợi
nhuận. Mặt khác, do thị trường luôn luôn thay đổi nên doanh nghiệp cũng phải
thường xuyên đổi mới để thoả mãn nhu cầu của thị trường. Điều này cũng ảnh
hưởng rất lớn đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
Cạnh tranh là vấn đề tất yếu trong nền kinh tế thị trường, do vậy doanh
nghiệp phải không ngừng nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm. Có như vậy
doanh nghiệp mới thắng được trong cạnh tranh, bảo vệ và mở rộng thị trường, nhất
là các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực có môi trường cạnh tranh cao như
điện tử, viễn thông, tin học…..
* Các nhân tố khác:
Đó là các nhân tố mà người ta gọi là nhân tố bất khả kháng như thiên tai,
dịch hoạ…. Có tác động trực tiếp đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp. Mức
độ tổn hại về lâu dài hay tức thời hoàn toàn không thể biết trước mà chỉ có thể dự
phòng, giảm nhẹ thiệt hại.
23
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN
KINH DOANH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN VẬN TẢI THUỶ SỐ 4
2.1 Giới thiệu khái quát về công ty
2.1.1 Quá trình ra đời và phát triển của công ty Cổ phần vận tải thuỷ số 4
2.1.1.1 Căn cứ pháp lý hình thành doanh nghiệp
- Tên công ty: CÔNG TY CỔ PHẦN VẬN TẢI THUỶ SỐ 4
- Tên viết bằng tiếng nước ngoài: WATERWAY TRANSPORT JOINT STOCK
COMPANY N04
- Tên viết tắt: WATRANCO N4
- Địa chỉ: Số 436 đường Hùng Vương, phường Hùng Vương, quận Hồng Bàng,
thành phố Hải Phòng.
- Điện thoại: 031 850 454
Đảm bảo công ăn việc làm và thu nhập cho người lao động. Không ngừng cải
tiến nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ để đáp ứng theo yêu cầu của khách
hàng. Kinh doanh có hiệu quả, đem lại lợi nhuận cao. Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ
với ngân sách nhà nước, BHXH, chịu trách nhiệm với cấp trên về kết quả kinh
doanh của mình, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
2.1.1.3 Sơ lược quá trình phát triển của công ty từ khi thành lập cho đến nay
Công ty vận tải thủy số 4 trước đó là công ty vận tải đường sông số 4 được
tách ra từ Xí nghiệp Vận tải sông Bạch Đằng trực thuộc liên hiệp các xí nghiệp
đường sông. Được thành lập ngày 28/2/1982 theo quyết định số 2163/QĐ của bộ
trưởng bộ GTVT.
Cùng với quyết định số 1354/QĐ-TCCB-LĐ ngày 5/7/1993 của bộ trưởng bộ
GTVT về việc thành lập lại Doanh nghiệp nhà nước Công ty vận tải Thủy số 4 –
trực thuộc cục đường sông Việt Nam.
25