1
Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hoạt động cấp nước là hoạt động có liên quan đến cả ba khâu sản xuất,
cung cấp và tiêu thụ nước sạch. Nước sạch là loại sản phẩm thiết yếu cho nhu
cầu sinh hoạt, sản xuất, dịch vụ của mọi tầng lớp dân cư. Trong thời gian qua,
hoạt động cấp nước nhất là cấp nước đô thị luôn nhận được sự quan tâm của
Chính phủ, các cấp bộ ngành và các nhà tài trợ quốc tế. Đặc biệt, ngày
11/7/2007 Chính phủ ban hành nghị định số 117/2007/NĐ-CP về sản xuất,
cung ứng và tiêu thụ nước sạch là cơ sở cho tổ chức, quản lý cấp nước đô thị.
Sau gần 20 năm đổi mới, tốc độ đô thị hoá của cả nước nói chung, tỉnh
Thanh Hoá nói riêng phát triển rất nhanh. Năm 1989, dân số thành thị Thanh
Hoá mới có 215,5 ngàn người bằng 7,2% tổng số dân (2,99 triệu người), thì
năm 2006 có 360,3 ngàn người bằng 9,8 % tổng số dân (3.68 triệu người)
tăng 144,8 ngàn người, như vậy tăng 67,2% so với năm 1989. Đây là một áp
lực đối với hoạt động cấp nước sạch đô thị trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá.
Tính đến nay, Thanh Hoá đã có 18 dự án được triển khai với tổng vốn
đầu tư khoảng 314 tỷ đồng, nhằm thực hiện quy hoạch tổng thể phát triển
kinh tế xã hội tỉnh Thanh Hoá thời kỳ 2001 - 2010 trong đó có cấp nước.
Tổng công suất cấp nước đô thị hiện nay là 65.410 m3/ngày, bảo đảm khoảng
90% dân số đô thị được cấp nước sạch với mức 89lít /người/ngày, tỷ lệ thất
thoát nước sạch đã giảm xuống 30% so với 48% năm 1999. Đã có 15 trong
tổng số 30 thị trấn có hệ thống cấp nước tập trung với quy mô từ 500 2000m3/ngày được xây dựng bằng nhiều nguồn vốn, nhưng chủ yếu là nguồn
vốn ngân sách.
Những thành quả trên, cùng với sự nỗ lực của các cấp các ngành có
liên quan và công ty cấp nước Thanh Hoá đã nói lên tầm quan trọng cũng như
2
mức độ cấp thiết của nước sạch đô thị trong chiến lược chung nhằm phát triển
kinh tế xã hội, bảo vệc sức khoẻ cộng đồng, từng bước nâng cao mức sống
khi thực hiện cổ phần hoá công ty cấp nước và hoạt động của công ty cấp
nước ngày càng đi theo định hướng thương mại.
Tất cả những lý do trên đặt ra yêu cầu cần đổi mới quản lý hoạt động
cấp nước đô thị tỉnh Thanh Hóa, đó là yêu cầu xuất phát từ thực tiễn.
Là người tham gia quản lý nhà nước về tài chính doanh nghiệp, trong
đó có tham mưu xây dựng giá nước sạch và đánh giá lại tài sản các công trình
cấp nước tại các thị trấn sắp tới, tác giả chọn đề tài "Đổi mới quản lý hoạt
động cấp nước đụ thị trờn địa bàn tỉnh Thanh Hoỏ" làm luận văn thạc sỹ
chuyên ngành Quản lý kinh tế.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Quản lý hoạt động cấp nước đô thị thu hút được sự quan tâm của nhiều
nhà nghiên cứu, nhiều tổ chức; ở nước ta đã có một số công trình, đề tài khoa
học được công bố liên quan đến hoạt động cấp nước đô thị. Có thể nêu một số
công trình, đề tài chủ yếu như sau:
- Arjun Thapan - Ngân hàng phát triển Châu á (2002), Đổi mới cơ chế,
chính sách cho ngành cấp nước và về sinh đô thị Việt Nam trên quan điểm
của Ngân hàng Châu á, Tham luận hội thảo.
- Bộ Xây dựng (2003) Đề tài khoa học, Điều tra đánh giá thực trạng
tình hình quản lý chi phí nước sạch của một số đô thị lớn Việt Nam.
- Bộ Xây dựng (Vụ tổ chức cán bộ-2005) Dự án, Điều tra đánh giá
thực trạng và tổ chức năng lực của doanh nghiệp nhà nước hoạt động trong
lĩnh vực cấp thoát nước phục vụ việc sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp.
- Bộ Xây dựng (2003), Báo cáo về Thực trạng quản ký Nhà nước đối
với các doanh nghiệp nhà nước hoạt động trong lĩnh vực cấp thoát nước tại
các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
4
- Bùi Đức Hưng (2006), Luận văn thạc sỹ kinh doanh và quản lý, Đổi
mới quản lý nhà nước đối với lĩnh vực cấp nước đô thị ở Việt Nam.
Những công trình nghiên cứu trên chủ yếu đề cập đến đổi mới cơ chế
quản lý một số khía cạnh hoặc là cơ chế quản lý nói chung, hoặc là quản lý
nhà nước ở tầm quốc gia với nhiều cách tiếp cận lý giải khác nhau. Đối với
tỉnh Thanh Hoá đã có một phương án tổ chức hoạt động cấp nước; nội dung
chủ yếu phản ánh tình hình thực hiện các dự án và vận hành cấp nước ở các
huyện thị hiện nay, đề xuất mô hình tổ chức và định hướng phát triển của
công ty cấp nước Thanh Hoá đến năm 2020.
Mặc dù các công trình nghiên cứu về hoạt động cấp nước đô thị trong
và ngoài nước khá đa dạng, nhiều cách tiếp cận, nhưng nội dung quản lý đối với
hoạt động cấp nước đô thị trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá, hiện chưa có công trình
khoa học nào dưới dạng luận án, luận văn từ thạc sỹ trở lên được công bố.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
- Mục đích: Góp phần làm rõ một số vấn đề lý luận, đánh giá đúng thực
trạng, đề xuất giải pháp đổi mới quản lý hoạt động cấp nước đô thị trên địa
bàn tỉnh Thanh Hoá trong thời gian tới.
- Nhiệm vụ: + Làm rõ một số vấn đề lý luận về quản lý hoạt động cấp
nước đô thị.
+ Phân tích thực trạng quản lý đối với hoạt động cấp nước đô thị ở
Thanh Hoá, rút ra kết quả, hạn chế và nguyên nhân.
+ Đề xuất phương hướng, giải pháp nhằm đổi mới quản lý hoạt động
cấp nước đô thị trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
6
- Đối tượng nghiên cứu: Quản lý hoạt động cấp nước sạch đô thị mà
trọng tâm là nghiên cứu quản lý nhà nước đối với hoạt động cấp nước sạch
đô thị.
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu quản lý hoạt
động cấp nước sạch đô thị trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá, chủ yếu là quy hoạch,
8
Chương 1
những vấn đề lý luận cơ bản
về quản lý hoạt động cấp nước sạch đô thị
1.1. một số vấn đề chung về nước sạch và hoạt động cấp nước sạch đô thị
1.1.1. Khái niệm và tiêu chuẩn nước sạch
* Khái niệm nước sạch: Nước sạch là khái niệm chung cho các loại
nước dùng trong sinh hoạt, công nghiệp, công cộng... Theo nghị định
117/2007/NĐ-CP đưa ra khái niệm: nước sạch là nước đã qua xử lý có chất
lượng đảm bảo, đáp ứng yêu cầu sử dụng.
* Phân loại nước sạch: Có nhiều loại nước sạch với những tiêu chuẩn
tuỳ thuộc vào lĩnh vực sử dụng.
- Việc phân loại nước sạch tùy thuộc vào quan điểm của các quốc gia
cũng như xây dựng tiêu chuẩn đánh giá riêng biệt. Thông thường, nói đến
nước sạch sẽ được hiểu là nước sạch dùng cho sinh hoạt và ăn uống.
- Nước sạch trong các lĩnh vực cá biệt như y tế, hoá học được xây dựng
theo chuẩn riêng khác với nước sạch dùng trong các lĩnh vực khác.
- Phân loại nước sạch phụ thuộc vào trình độ phát triển của khoa học và
sự phát triển kinh tế- xã hội. Mỗi quốc gia có tiêu chí phân loại nước sạch
riêng biệt.
* Tiêu chuẩn nước sạch
- Đối với Việt Nam: Hiện tại, tiêu chuẩn nước sạch ở Việt Nam do Bộ
Y tế ban hành với 112 tiêu chí xác định. Theo đó, quy định tiêu chuẩn nước
dùng trong ăn uống, chế biến thực phẩm, dùng trong các cơ sở sản xuất; nước
cấp theo đường ống từ nhà máy đến các khu đô thị, nước cấp theo đường ống
từ trạm cấp nước tập trung dùng cho từ 500 người trở lên.
Trước đó, Bộ Y tế đã ban hành Quyết định số 505/BYT/QĐ ngày
chứng kiến những "làng ung thư " ở Phú Thọ, Hải Phòng... mà báo chí liên
tục đưa tin, tình trạng nước nhiễm bẩn ở Hà Nội, Đà Nẵng... đã trực tiếp ảnh
10
hưởng đến cuộc sống, đến sức khoẻ, sự an toàn cá nhân và gây hoang mang
trong dư luận xã hội. Hiện mức độ ô nhiễm của các dòng sông Đáy- sông
Nhuệ, sông Cầu và hạ lưu sông Đồng Nai-Sài Gòn... đang trong tình trạng báo
động. Nhiều hồ nước tiềm ẩn khả năng tích luỹ ô nhiễm kim loại, các hợp
chất hữu cơ ở rất nhiều nơi khiến cho nguồn nước mặt không sử dụng được.
Nguồn nước dưới đất tại miền Bắc, miền Trung và mới đây là đồng bằng sông
Cửu Long... cũng đang bị ô nhiễm asen một cách trầm trọng.
Chỉ tiêu đánh giá của Hội Tài nguyên nước Quốc tế (IWRA) cho thấy,
Việt Nam đang và sẽ thiếu nước trong tương lai gần. Do vậy, bảo vệ tài
nguyên nước là nhiệm vụ cấp bách được đặt ra và cần quan tâm giải quyết
trong giai đoạn hiện nay. Chiến lược Quốc gia về tài nguyên nước đến năm
2020 cũng đã nêu rõ " bảo vệ tài nguyên nước và hệ sinh thái thuỷ sinh" là
nhiệm vụ đầu tiên trong 6 nhiệm vụ chính thức.
Nước không đảm bảo tiêu chuẩn quy định, nói cách khác là nước vượt
hàm lượng tiêu chuẩn cho phép có thể dẫn đến những tác hại trước mắt cũng
như lâu dài. Nếu như một số chất hoà tan vượt quá tiêu chuẩn có thể dẫn đến
tử vong như Thạch tín, thì một số chất không gây ngộ độc hay tử vong ngay
mà có thể ảnh hưởng đến các thế hệ tiếp theo đó là Mangan hay Magiê.
Lượng Amôniăc hay Sulphua vượt quá quy định sẽ gây mùi khó chịu và là
môi trường tốt cho vi khuẩn E.Coli gây bệnh; lượng sắt vượt quá quy định
không chỉ làm hỏng quần áo khi giặt giũ mà còn làm hỏng các thiết bị liên
quan đến nước, gây thiệt hại về kinh tế... Như vậy, để đảm bảo sức khoẻ của
mỗi cá nhân, của cộng đồng, đảm bảo môi trường xanh, sạch thì nước ăn uống
và sinh hoạt phải được cấp theo tiêu chuẩn quy định [30, tr.12].
1.1.3. Hoạt động cấp nước sạch đô thị
xưởng, tường rào, trạm biến áp, các loại hố van, hộp đồng hồ, họng cứu hoả...
- Thiết bị đo đếm nước: là thiết bị đo lưu lượng, áp lực bao gồm các
loại đồng hồ đo nước, đồng hồ đo áp lực và các thiết bị, phụ kiện kèm theo.
12
- Vùng phục vụ cấp nước: là khu vực có danh giới xác định mà đơn vị
cấp nước có nghĩa vụ cung cấp nước sạch cho các đối tượng sử dụng nước
trong khu vực đó [18, tr.1].
- Cấp nước sạch đô thị: liên quan đến việc phân loại đô thị và cấp quản
lý đô thị, quy định tại Nghị định 72/2001/NĐ-CP. Loại đô thị bao gồm thành
phố, thị xã, thị trấn được các cơ quan có thẩm quyền quyết định thành lập
gồm 6 loại, từ loại đặc biệt đến loại 5; cấp quản lý gồm thành phố trực thuộc
trung ương, thành phố, thị xã trực thuộc tỉnh hoặc trung ương và thị trấn trực
thuộc huyện với các tiêu chí cụ thể về mật độ dân số, quy mô dân số, kết cấu
hạ tầng, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp...
Bảng 1.1: Phân loại đô thị ở Việt Nam
Đô thị loại
Đặc biệt
1
2
3
4
5
Dạng
Rất lớn
Dân số
Từ 1,5 triệu dân
13
nước là đầu vào chủ yếu, là nhân tố quyết định sự lựa chọn quy hoạch, kế
hoạch khai thác, lựa chọn trình độ công nghệ.
Tài nguyên nước bao gồm nước mưa, lượng trữ ẩm, nước sông, hồ,
đầm lầy, nước trong lòng đất và nước ở biển. Trong phạm vi đề tài, chỉ đề cập
rõ thêm đặc điểm tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá có liên quan
đến hoạt động cấp nước sạch đô thị.
Về mạng lưới sông ngòi: Hệ thống sông Thanh Hoá có 16 sông chính và
nhánh, 4 sông chính là sông Hoạt, sông Mã, sông Yên, sông Lạch Bạng. Tổng
chiều dài hệ thống 1.072 km, mật độ xấp xỉ 0,1km/km2, các sông đều ngắn (trừ
sông Mã dài 528 km), sông có độ dốc lớn biến thiên từ 5,4% đến 23,7%.
Về nước mặt: Trung bình hàng năm tổng lượng nước mưa rơi trên diện
tích Thanh Hoá khoảng 19 tỉ m3, lượng nước bốc hơi trở lại khoảng 9 tỉ m3,
còn lại 10 tỉ m3 hình thành nên dòng chảy mặt của sông suối và dòng chảy
ngầm. Nước mặt chủ yếu tồn tại ở hệ thống sông ngòi [1, tr.135].
Nguồn nước mặt Thanh Hoá rất phong phú về trữ lượng, có thể cung
cấp nước cho Thanh Hoá như 4 hệ thống sông, sông Hoạt, sông Mã, sông Yên
và sông Lạch Bạng; ngoài ra nhiều hồ lớn, cấp quốc gia như hồ sông Mực,
cấp tỉnh như hồ Yên Mỹ, hồ Thung Bằng, hồ Đồng Ngư... Mặc dù vậy, số
lượng và chất lượng nước mặt không ổn định mà biến động theo 2 mùa rõ rệt,
mùa lũ và mùa cạn tạo nên vùng ít nước vùng nhiều nước, gây khó khăn lớn
cho việc xử lý và không hiệu quả về kinh tế [1, tr.129].
Về nước ngầm: Theo đánh giá của Tổng cục Địa chất từ thập kỷ 60 đã
tiến hành điều tra, khảo sát đánh giá trữ lượng nước ở một số vùng Bỉm Sơn,
Hàm Rồng, Sầm Sơn, Tĩnh Gia; trữ lượng nước cấp C1là 242.930 m3/ngày;
trữ lượng nước cấp C2 là 242.930 m3/ngày; trữ lượng nước cấp A là 34.300
m3/ngày; trữ lượng nước cấp B là 42.560 m3/ngày. Ngoài ra trước đây cũng
đã thăm dò, khai thác nước ngầm ở một số nơi như nông trường Đồng Giao,
nông trường Hà Trung, nông trường Lam Sơn, công suất các lỗ khoan đạt từ
15
năm 1980 cho biết, đối với Thanh Hoá những năm nước trung bình, lượng
nước dùng so với tổng lượng nước tự nhiên chiếm tỷ lệ nhỏ từ 0,15% đến
44,8%; đối với năm nước kiệt, thiết kế với P=75%, tỷ số này biến đổi từ
0,17% đến 61,6% và với năm có P=95%, tỷ số này biến đổi từ 0,19% đến
90,1%. Tại khu vực Lèn là nơi sử dụng nước nhiều nhất, hệ số khai thác tài
nguyên nước vượt quá tiêu chuẩn khai thác bền vững do UNESCO quy định.
UNESCO đưa ra tiêu chí khai thác bền vững là tỷ số dao động từ 30% đến
40%. Nhìn chung nguồn nước sông ngòi của Thanh Hoá thực tế không thật
dồi dào, đặc biệt vào mùa cạn. Xét về lâu dài, việc điều tiết và phân phối lại
nguồn nước là rất cần thiết.
Thứ hai, chất lượng nước bị ô nhiễm nhiều nơi: Hàng chục năm về
trước, nước mặt và nước ngầm ở Thanh Hoá còn khá sạch. Những năm gần
đây bị ô nhiễm nặng nề do sử dụng thuốc trừ sâu bệnh [1, tr.149]; do chất thải
của môi trường đô thị và các cơ sở sản xuất kinh doanh tăng nhanh. Về nông
nghiệp, hàng năn Thanh Hoá sử dụng từ 1500 đến 2000 tấn thuốc trừ sâu
bệnh. Về môi trường đô thị, tại Thành phố Thanh Hoá các hồ chứa nước nội
và ven thành phố như Hồ Thành, Hồ Máy đèn...hoặc bị lấp để xây dựng nhà
ở, hoặc do dùng phân sống nuôi cá và nơi chứa mọi chất thải sinh hoạt; mỗi
ngày có 250 m3 chất thải rắn, nhưng Công ty Môi trường Đô thị mới chỉ gom
được 100 m3; hệ thống thoát tiêu nước mới chỉ đạt khoảng 20%, ngoài cống
tiêu chảy thẳng ra sông Bến Ngự, còn nhiều khu dân cư mới xây dựng không
có hệ thống thoát nước; các chất thải đều được xả trực tiếp, hoặc gián tiếp
(ngấm qua đất) xuống các dòng sông. Thị xã Sầm Sơn là khu du lịch cũng
chưa có hệ thống tiêu thoát nước và cung cấp nước sạch cho sinh hoạt, chủ
yếu dùng giếng khơi. Tình trạng ứ đọng nước ở vùng trũng, địa hình thấp của
các huyện Nông Cống, Quảng Xương, Hà Trung gây nên hiện tượng yếm khí,
gây dịch bệnh và lầy hoá. Những biến động theo hướng xấu nói trên ảnh
quy mô công suất từ 30.000 m3/ ngày trở lên đối với đô thị loại đặc biệt và
10.000 m3/ ngày trở lên đối với các đô thị còn lại phải có ý kiến thoả thuận
17
bằng văn bản của Bộ Xây dựng trước khi trình cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Công ty cấp nước tỉnh có trách nhiệm cấp nước cho các khu vực đô thị, bao
gồm vận hành các nhà máy nước và mạng lưới phân phối. Bên cạnh đó, còn
nhiều tổ chức chính thức và phi chính thức tham gia trong hoạt động cấp nước
hoặc trong các lĩnh vực liên quan như các nhà tài trợ, các tổ chức phi chính
phủ quốc tế, hội cấp nước Việt Nam... Ngoài ra, các bộ có liên quan, tuỳ theo
chức năng nhiệm vụ của mình chịu trách nhiệm trước Chính phủ đối với hoạt
động cấp nước đô thị.
* Mục tiêu của quản lý nhà nước đối với hoạt động cấp nước đô thị
được xác định cụ thể trong các chiến lược, chính sách về cấp nước ở cấp
Chính phủ. Mục tiêu định hướng phát triển cấp nước đô thị đến 2020 xác
định: (1) 100% dân cư đô thị được tiếp cận với nước sạch ở mức 120-150
lít/người/ngày; (2) Cải cách toàn bộ hệ thống ngành cấp nước theo hướng
nâng cao năng lực, hoàn thiện cơ cấu tổ chức và các chính sách có liên quan;
(3) Hiện đại hoá công nghệ, thiết bị và tăng cường phát triển nguồn nhân lực;
(4) Huy động sự đóng góp của cộng đồng và của tất cả các ngành kinh tế.
Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và giảm nghèo xác định đến năm 2005
có 80% dân cư đô thị, đặc biệt là dân sống xa các đường giao thông được tiếp
cận với nước sạch ở mức 50 lít/người/ngày. Chiến lược Môi trường xác định
đến năm 2010 có 95% dân cư đô thị được tiếp cận với nước sạch.
Với những mục tiêu định hướng chiến lược và các cam kết quốc tế, Bộ
Xây dựng với tư cách là cơ quan quản lý nhà nước về cấp nước đô thị tổ chức
thực hiện các nội dung quản lý nhà nước đối với các loại đô thị và các thị trấn.
* Mục tiêu của hoạt động sản xuất, cung ứng tiêu thụ nước sạch đô thị
là phát triển hệ thống cấp nước đô thị một cách ổn định, đáp ứng yêu cầu tiêu
của chủ sở hữu và nhà vận hành, nhằm cải tổ cơ cấu, quy hoạch cấp nước,
quản lý thất thoát, thất thu cũng như tránh lạm dụng độc quyền thông qua việc
19
ban hành các tiêu chuẩn quy phạm kỹ thuật, kinh tế, cổ phần hoá các công ty
cấp nước và chuyển đổi từ mô hình doanh nghiệp công ích sang kinh doanh.
- Cấp nước ở các thị trấn
Có rất nhiều mô hình quản lý khác nhau cho các dịch vụ cấp nước tại các
thị trấn. Hiện tại có thể khái quát trên 5 mô hình: (1) Uỷ ban nhân dân thị trấn
trực tiếp quản lý; (2) Quản lý bởi cộng đồng; (3) Quản lý bởi các hợp tác xã; (4)
Công ty cấp nước tỉnh quản lý; (5) Các công ty cấp nước tư nhân quản lý.
Các công ty cấp nước tỉnh mặc dù chịu trách nhiệm cấp nước cho đô thị
loại 4 trở lên, nhưng trên thực tế uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định về quyền sở
hữu đối với dự án cấp nước tại các thị trấn. Chủ dự án thường là công ty cấp
nước tỉnh, trung tâm nước sạch và vệ sinh nông thôn, uỷ ban nhân dân huyện
hoặc thị trấn. Trong các mô hình quản lý nêu trên, quản lý cấp nước cho các
thị trấn chủ yếu do công ty cấp nước tỉnh, uỷ ban nhân dân thị trấn; các mô
hình còn lại thường cấp nước cho các thị tứ và khu vực nông thôn.
Mặc dù các mô hình cấp nước đối với thị trấn trong thời gian qua có
những đóng góp quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu chiến lược quốc
gia, nâng cao tỷ lệ dân cư đô thị được tiếp cận với nước sạch, từng bước hoàn
thiện hệ thống cung cấp nước sạch trên phạm vi toàn quốc, nhưng mô hình
này ngày càng bộc lộ những bất cập, trong đó quyền sở hữu tài sản và cơ chế
vận hành là những nội dung cốt lõi. Trong một thời gian dài, các chủ dự án,
đặc biệt chủ dự án là uỷ ban nhân dân huyện thị rất tích cực trong việc phát
triển mạng lưới cấp nước. Tuy nhiên, đây không phải là một mô hình thành
công vì nó chú trọng tới việc hình thành tài sản hơn là quản lý và vận hành tài
sản, bảo dưỡng tài sản. Kết quả là, nhiều hệ thống mà người dân không muốn
vẫn dược xây dựng; dự án không tính toán kỹ hiệu quả, dư thừa công suất,
giới hành chính.
- Ưu tiên khai thác nguồn nước để cấp nước cho mục đích sinh hoạt của
cộng đồng.