MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM CẢI THIỆN TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN VẬN TẢI THIÊN MINH - Pdf 35

CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH
DOANH NGHIỆP
1.1. Tổng quan về phân tích tài chính doanh nghiệp
1.1.1. Khái niệm tài chính doanh nghiệp
Tài chính doanh nghiệp là hệ thống các quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị nảy
sinh trong quá trình phân phối của cải xã hội gắn liền với việc tạo lập và sử dụng các
quỹ tiền tệ của doanh nghiệp để phục vụ cho yêu cầu sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp và các nhu cầu chung của xã hội.
Cơ sở hình thành nên tài chính doanh nghiệp chính là các mối quan hệ trong nền
kinh tế. Doanh nghiệp đầu tư vào tư liệu lao động và sức lao động để sản xuất ra hàng
hóa với kì vọng nhận được một khoản lợi ích lớn hơn khoản đầu tư ban đầu. Các mối
quan hệ kinh tế sẽ phát sinh trong vòng chu chuyển này cùng với sự tạo ra và vận động
của các dòng tiền trong doanh nghiệp.
Như vậy, về hình thức: tài chính doanh nghiệp là quỹ tiền tệ trong quá trình tạo lập,
phân phối, sử dụng và vận động gắn liền với hoạt động của doanh nghiệp. Về nội dung:
tài chính doanh nghiệp là các quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị gắn liền với việc tạo
lập, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ phát sinh trong các hoạt động của doanh nghiệp.
1.1.2. Chức năng và vai trò của tài chính doanh nghiệp
Tài chính doanh nghiệp có chức năng xác định và tổ chức các nguồn vốn nhằm
đảm bảo nhu cầu sử dụng vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp:
đưa ra nhu cầu vốn cần thiết cho quá trình sản xuất kinh doanh, tạo lập phương án huy
động vốn cụ thể, so sánh và đưa ra phương án chọn lựa nguồn vốn sao cho chí phí là
thấp nhất trong khoảng thời gian hợp lí.
Tài chính doanh nghiệp giúp phân phối thu nhập của doanh nghiệp: đầu tiên là bù
đắp các yếu tố đầu vào đã tiêu hao trong quá trình sản xuất kinh doanh. Phần còn lại để
bù đắp các chí phí không được trừ, chia lãi cho đối tác góp vốn, chi trả cổ tức cho cổ
đông, phân phối lợi nhuận sau thuế vào các quỹ của doanh nghiệp, duy trì hoạt động
sản xuất kinh doanh.
Tài chính doanh nghiệp có chức năng như một “giám đốc tài chính” trong quá
trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp: giúp nhà quản trị kiểm tra,
kiểm soát quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp (thông qua

Vì vậy, nếu mục tiêu của nhà quản trị là tối đa hóa giá trị của doanh nghiệp, họ
phải nhận ra khai thác sức mạnh và điều chỉnh các điểm yếu của doanh nghiệp. Phân
tích tài chính liên quan đến việc so sánh hiệu suất của một công ty với hiệu suất của
các công ty khác trong ngành và đánh giá các xu hướng về vị thế tài chính của công ty
theo thời gian. Những nghiên cứu này chính là công cụ giúp các nhà quản trị xác định
khiếm khuyết và từ đó có những hành động đúng và kịp thời nhằm cải thiện hiệu suất
của doanh nghiệp. Phân tích tài chính còn nhằm đánh giá hiệu suất và mức độ rủi ro
của các hoạt động tài chính.
Ngoài ra, đối với những đối tượng ngoài doanh nghiệp, việc phân tích tài chính
của một doanh nghiệp là vô cùng quan trọng, nhằm đưa ra các quyết định đầu tư, hợp
tác hoặc cho vay đúng đắn, giảm thiểu rủi ro khi tiến hành các hoạt động này.
Đối với các chủ nợ thương mại (nhà cung cấp vốn bằng hàng hóa và dịch vụ), họ
có liên quan trực tiếp với công ty bởi các khoản nợ ngắn hạn. Họ quan tâm đến khả
năng phát sinh ngân quỹ để có thể đáp ứng các khoản nợ của doanh nghiệp. Khả năng
2

Thang Long University Library


thanh toán của doanh nghiệp chính là dấu hiệu quan trọng mà họ quan tâm, tìm hiểu.
Các ngân hàng thương mại cung cấp vốn ngắn hạn cho công ty cũng có mối quan tâm
tương tự.
Đối với các nhà đầu tư, mối quan tâm của họ gắn với vốn đầu tư mà họ bỏ trong
công ty. Điều băn khoăn lớn nhất của họ chính là khả năng thu hồi vốn đã bỏ ra, khả
năng sinh lời và rủi ro gắn liền với vốn đầu tư của họ. Vì thế, họ muốn biết thu nhập
hiện tại và thu nhập kỳ vọng, cũng như khả năng ổn định của dòng thu nhập. Họ tập
trung vào khả năng sinh lợi, điều kiện tài chính của công ty khi nó ảnh hưởng đến khả
năng trả cổ tức và khả năng vượt qua nguy cơ phá sản; tìm hiểu sâu về các nguồn lực
của công ty, tình hình sử dụng các nguồn lực và những rủi ro của các nguồn lực đó.
1.2. Quy trình phân tích tài chính doanh nghiệp

kế toán. Số liệu trên bảng cân đối kế toán cho biết toàn bộ giá trị tổng tài sản và từng
khoản mục chi tiết về tài sản ngắn hạn và dài hạn của doanh nghiệp, nguồn vốn và cơ
cấu nguồn vốn hình thành tài sản tại thời điểm lập báo cáo. Bất kỳ một hoạt động tài
chính nào cũng ngay lập tức tác động đến các khoản mục tài sản hay nguồn vốn, làm
thay đổi Bảng cân đối kế toán lập tại thời điểm trước đó. Chính vì vậy, Bảng cân đối
kế toán có thể coi như hình chụp tình hình tài sản và nguồn vốn của một doanh nghiệp
tại một thời điểm xác định để thấy được sự thay đổi của chúng theo thời gian. Căn cứ
vào bảng báo cáo này, người sử dụng có thể nhận xét, đánh giá một cách tổng quát tình
hình tài chính của doanh nghiệp ở các mặt như quy mô tài sản và nguồn vốn, sự thay
đổi về quy mô hoạt động của doanh nghiệp, mức độ tự chủ về tài chính, khả năng
thanh toán các khoản nợ của doanh nghiệp,… Bảng cân đối kế toán được coi là báo
cáo có tầm quan trọng bậc nhất trong hệ thống báo cáo tài chính.
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (còn gọi là Báo cáo thu nhập) là báo
cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tổng quát tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh
trong một kỳ kế toán của doanh nghiệp và chi tiết theo từng hoạt động sản xuất kinh
doanh (bán hàng và cung cấp dịch vụ; hoạt động tài chính và hoạt động khác). Báo cáo
kết quả hoạt động kinh doanh giúp phân tích và đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch,
dự toán chi phí sản xuất, giá vốn, doanh thu tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa, tình hình chi
phí, thu nhập của hoạt động khác cũng như kết quả của từng hoạt động. Từ đó, giúp
đánh giá xu hướng phát triển doanh nghiệp, có biện pháp khai thác tiềm năng cũng
như hạn chế, khắc phục những tồn tại trong tương lai.
Báo cáo lƣu chuyển tiền tệ là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh việc hình
thành và sử dụng lượng tiền trong kỳ báo cáo của doanh nghiệp, cho biết lưu lượng
dòng tiền ra – vào của doanh nghiệp. Trong tài chính, chúng ta quan tâm đến những
câu hỏi mà báo cáo lưu chuyển tiền tệ có thể trả lời: Công ty có tạo ra đủ tiền mặt để
mua các tài sản cần thiết cho sự tăng trưởng của mình không? Công ty có tạo thêm tiền
để trả nợ khi đến hạn hay đầu tư thêm vào sản phẩm mới?... Đây là những dạng thông
tin rất hữu ích cho nhà quản trị cũng như nhà đầu tư, vì vậy, báo cáo lưu chuyển tiền tệ
là một báo cáo rất quan trọng. Báo cáo này cùng với ngân sách tiền mặt sẽ giúp dự báo
tình hình tiền mặt của công ty.


Thực hiện phân tích

Hoàn thành công việc
phân tích

Sưu tầm tài liệu và
xử lý số liệu

Lập báo cáo

Tính toán và phân
tích
Tổng hợp và kết
luận

Lựa chọn tài liệu,
thông tin cần thu
thập.
Lựa chọn phương
tiện phân tích.
(Nguồn: Giáo trình Phân tích tài chính doanh nghiệp - Học viện Tài chính)
Quy trình thực hiện phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp được chia làm ba
bước chính:
Bƣớc 1: Lên kế hoạch phân tích tài chính doanh nghiệp.
Trước khi tiến hành việc phân tích, ta cần xác định được rõ ràng mục tiêu khi
thực hiện công việc này, phân tích tài chính của doanh nghiệp nhằm đạt được điều gì

5


Đối với chủ doanh nghiệp, phân tích tài chính doanh nghiệp nhằm đưa ra các
quyết định quản lý doanh nghiệp, các quyết định liên quan tới mục tiêu tăng trưởng,
tối đa hóa giá trị của doanh nghiệp. Đối với các nhà đầu tư và người cho vay, cần đưa
ra các quyết định về tài trợ đầu tư.

6

Thang Long University Library


1.3. Các phƣơng pháp phân tích tài chính doanh nghiệp
1.3.1. Phương pháp so sánh
Phương pháp so sánh là phương pháp nhằm nghiên cứu biến động và xác định xu
hướng, mức độ biến động của các chỉ tiêu phân tích. Mức biến động tuyệt đối là kết
quả so sánh trị số của chỉ tiêu giữa hai kỳ liên tiếp: kỳ thực tế với kỳ kế hoạch, kỳ thực
tế với kỳ kinh doanh trước,… Mức biến động tương đối là kết quả so sánh trị số của
chỉ tiêu ở kỳ này với trị số của chỉ tiêu ở kỳ gốc, nhưng đã được điều chỉnh theo một
hệ số của chỉ tiêu có liên quan, mà chỉ tiêu liên quan này sẽ quyết định quy mô của chỉ
tiêu phân tích.
Điều kiện áp dụng phương pháp so sánh: cần tồn tại ít nhất hai đại lượng (chỉ
tiêu). Phải đảm bảo các chỉ tiêu đồng bộ về nội dung kinh tế, thống nhất về phương
pháp tính toán, về thời gian và đơn vị đo lường.
Bước đầu để tiến hành so sánh, ta cần xác định được gốc so sánh. Gốc so sánh
phụ thuộc vào mục đích so sánh. Gốc so sánh được chọn là gốc về mặt thời gian và
không gian. Kỳ phân tích được chọn có thể là kỳ thực hiện, có thể là kỳ kế hoạch hoặc
kỳ kinh doanh trước. Giá trị so sánh có thể chọn là số tuyệt đối, số tương đối hoặc số
bình quân.
Nội dung so sánh bao gồm:
So sánh giữa số thực tế của kỳ phân tích với số thực tế của kỳ kinh doanh trước
nhằm xác định xu hướng thay đổi về tình hình hoạt động tài chính của doanh nghiệp.

ngày càng hoàn thiện. Nguồn thông tin tài chính và kế toán được cải tiến và cung cấp
đầy đủ hơn cũng như được công khai minh bạch là cơ sở hình thành nguồn tham chiếu
đáng tin cậy nhằm đánh giá các các tỷ lệ của doanh nghiệp hay một nhóm các doanh
nghiệp. Việc áp dụng công nghệ thông tin trong doanh nghiệp cho phép lưu trữ các tổ
hợp dữ liệu và thực hiện nhiệm vụ tính toán hàng loạt và chính xác hơn.
1.3.3. Phương pháp Dupont
Vào năm 1919, Công ty Dupont bắt đầu sử dụng một cách tiếp cận đặc biệt trong
phân tích thông số để đánh giá hiệu quả của công ty. Phương pháp Dupont là kỹ thuật
dùng để phân tích khả năng sinh lời của một doanh nghiệp nhờ tích hợp nhiều các yếu
tố của báo cáo kết quả kinh doanh với bảng cân đối kế toán. Nói cách khác, phân tích
Dupont chính là phân tích thành phần của số đo lợi nhuận thành các tỷ số cấu thành,
cho thấy mối quan hệ tương hỗ giữa các tỷ lệ tài chính.
Trong phân tích tài chính, các nhà phân tích thường dùng phương pháp này để
phân tích mối liên hệ giữa các chỉ tiêu tài chính. Thông qua việc tìm hiểu nguyên nhân
tăng giảm, cũng như mối liên hệ đồng biến,nghịch biến giữa các chỉ tiêu và chỉ tiêu
thành phần, ta có thể phát hiện ra những nhân tố cụ thể ảnh hưởng tới sự biến động của
chỉ tiêu cần phân tích theo trình tự nhất định.
Phương pháp Dupont giúp nhà quản trị có được cái nhìn tổng quan về toàn bộ
các vấn đề cơ bản của doanh nghiệp, từ đó đưa ra các quyết định đúng đắn. Theo
phương pháp Dupount, ta có thể khai triển các chỉ tiêu về khả năng sinh lời thành các
yếu tố thành phần khác nhau, có ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời để từ đó, đánh giá
được sâu hơn nhiều khía cạnh xoay quanh sự thay đổi của các chỉ tiêu này.
8

Thang Long University Library


Xem xét phương pháp phân tích tài chính Dupont, trước hết chúng ta xem xét
mối quan hệ tương tác giữa tỷ suất sinh lời trên trên doanh thu (ROS – Return on
Sales) với hiệu suất sử dụng tổng tài sản (hay còn gọi là vòng quay của tổng tài sản):

*

Lợi nhuận sau thuế
Vốn chủ sở hữu

Tổng tài sản
Doanh thu thuần
*
Tổng Tài sản
Vốn chủ sở hữu

= ROS * Hiệu suất sử dụng Tổng tài sản *
Trong đó, tỷ số

Tổng tài sản
Vốn chủ sở hữu

Tổng tài sản
Vốn chủ sở hữu

có thể được biểu diễn như sau: Tổng tài sản / Vốn

chủ sở hữu = Tổng tài sản / (Tổng tài sản – Nợ phải trả). Thực hiện rút gọn, chia cả tử
1
1
và mẫu cho Tổng tài sản, ta có tỷ số :
Nợ phải trả = 1-Hệ số nợ trên tổng tài sản
1Tổng Tài sản

Như vậy, ta có được quan hệ đồng biến giữa Tỷ suất sinh lời trên Vốn chủ sở hữu

1.4.1.1. Tình hình Tài sản
Bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn tiến hành sản xuất kinh doanh đều phải có tài
sản. Tài sản là toàn bộ của cải vật chất vô hình hoặc hữu hình gắn với lợi ích kinh tế
trong tương lai của doanh nghiệp, thuộc quyền sở hữu hoặc kiểm soát lâu dài của
doanh nghiệp. Tài sản của doanh nghiệp được biểu hiện dưới nhiều loại hình thái vật
chất như: tiền mặt, tiền gửi, nhà xưởng, máy móc, hàng hóa, bản quyền, bằng sáng
chế, các loại giấy tờ có giá,… Nhằm đánh giá sự biến động của tài sản và sự hợp lý
của cơ cấu vốn đối với hoạt động của doanh nghiệp, ta sẽ tiến hành phân tích cơ cấu và
sự biến động trong tình hình tài sản của doanh nghiệp.
Để phân tích tình hình tài sản của doanh nghiệp, ta cần xem xét sự biến động của
tổng tài sản cũng như từng loại tài sản thông qua việc so sánh số dư đầu kỳ và cuối kỳ
theo số tương đối và số tuyệt đối; đánh giá đến sự tác động của từng loại tài sản đến
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Căn cứ vào đặc điểm luân chuyển của tài sản, tài sản trong doanh nghiệp được
chia làm hai loại chính là tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn. Một đồng vốn kinh doanh
bỏ ra, việc doanh nghiệp dành ra bao nhiêu để hình thành tài sản ngắn hạn, còn lại bao

10

Thang Long University Library


nhiêu để đầu tư cho tài sản dài hạn sẽ được phản ánh thông qua tỷ trọng tài sản ngắn
hạn và tỷ trọng tài sản dài hạn.
Tỷ trọng tài sản ngắn hạn =
Tỷ trọng tài sản dài hạn =

Tổng tài sản ngắn hạn
Tổng tài sản


người bán và các khoản phải thu khác.
Các khoản phải thu thương mại xuất phát từ việc cung cấp phát hàng hóa – dịch
vụ của công ty cho khách hàng trong kỳ kinh doanh bình thường. Khoản trả trước cho
người bán là những khoản tiền doanh nghiệp thanh toán trước cho nhà cung cấp để
mua hàng hóa, dịch vụ nhưng chưa thực sự nhận được hàng hóa hay dịch vụ chưa
được hoàn thành, các nghĩa vụ này sẽ được người bán thực hiện trong tương lai.
Hàng tồn kho là một bộ phận của tài sản ngắn hạn, được dự trữ cho sản xuất, lưu
thông hoặc đang trong quá trình sản xuất, chế tạo tại doanh nghiệp. Hàng tồn kho bao
11


gồm: hàng hóa mua để bán: hàng mua đang đi đường, hàng gửi bán hoặc hàng gửi gia
công; thành phẩm tồn kho và thành phẩm gửi bán; sản phẩm dở dang; nguyên vật liệu;
công cụ dụng cụ; …
Các tài sản ngắn hạn khác như các khoản tạm ứng cho nhân viên, các khoản ký
quỹ, ký cược ngắn hạn (nhỏ hơn 1 năm), chi phí trả trước, thuế giá trị gia tăng được
khấu trừ, các khoản phải thu khác từ Ngân sách Nhà nước, …
Tài sản dài hạn
Tài sản dài hạn là các tài sản có giá trị lớn (trên 30 triệu đồng), thời gian sử dụng,
thu hồi trên 1 năm hoặc 1 chu kỳ kinh doanh. Nếu một tài sản có thời gian sử dụng dài
hạn nhưng giá trị nhỏ hơn 30 triệu đồng, sẽ được xem là tài sản ngắn hạn, thuộc mục
công cụ, dụng cụ. Tài sản dài hạn bao gồm:
Các khoản phải thu dài hạn là một loại tài sản của doanh nghiệp được tính dựa
trên các khoản nợ, các giao dịch chưa thanh toán hoặc các nghĩa vụ tiền tệ mà khách
hàng hay đối tượng nợ chưa thanh toán cho công ty và sẽ đáo hạn trong thời gian dài
(lớn hơn 1 năm).
Tài sản cố định: là tư liệu sản xuất trong hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp, có giá trị lớn và thường được dùng trong nhiều chi kỳ sản xuất. Tài sản
cố định của doanh nghiệp được phân làm ba loại: tài sản cố định hữu hình, tài sản cố
định vô hình và tài sản thuê tài chính.

nghiệp đó. Để đánh giá khái quát khả năng tự tài trợ, mức độ tự chủ về mặt tài chính
của doanh nghiệp, ta cần tiến hành phân tích cơ cấu và sự biến động của nguồn vốn.
Căn cứ vào mối quan hệ sở hữu về vốn, nguồn vốn trong doanh nghiệp được
phân thành Nguồn vốn chủ sở hữu và Nợ phải trả. Hệ số nợ và hệ số vốn chủ sở hữu là
hai tỷ số quan trọng phản ánh cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp, cho biết một đồng
vốn kinh doanh của doanh nghiệp, có bao nhiêu là vốn chủ sở hữu, có bao nhiêu là vốn
vay huy động từ bên ngoài. Hệ số vốn chủ sở hữu càng lớn thì doanh nghiệp càng tự
chủ, có nguồn vốn tự có dồi dào, không hoặc ít chịu sức ép của các khoản nợ vay. Mặt
khác, doanh nghiệp cũng mong muốn có hệ số nợ cao để tận dụng được một nguồn
vốn lớn trong ngắn hạn mà không phải trả lãi, các công ty sử dụng nó như một công cụ
để gia tăng lợi nhuận.
Hệ số nợ =

*100% = 1 - Hệ số vốn chủ sở hữu

* 100%

Hệ số vốn chủ sở hữu =
Nợ phải trả

Nợ phải trả là những nghĩa vụ tiền tệ mà doanh nghiệp phải thanh toán cho các
bên cung cấp nguồn lực cho doanh nghiệp trong một khoản thời gian nhất định. Đây là
các nghĩa vụ hiện tại, phát sinh từ các giao dịch và sự kiện đã qua mà doanh nghiệp có
trách nhiệm phải thanh toán. Căn cứ vào thời gian thanh toán của các khoản nợ, Nợ
phải trả được trình bày trên Bảng cân đối kế toán dưới hai khoản mục là Nợ ngắn hạn
và Nợ dài hạn.
Nợ ngắn hạn là các nghĩa vụ tiền tệ mà doanh nghiệp phải thanh toán trong vòng
12 tháng. Nợ ngắn hạn bao gồm: các khoản nợ, vay dưới 12 tháng; các khoản phải trả
thương mại (nợ người bán); thuế và các khoản phải nộp Ngân sách Nhà nước; các
13

để tận dụng tối đa nguồn vốn tín dụng thương mại (Phải trả nhà cung cấp), nợ ngắn
hạn thường có mức chi phí tài chính thấp, trong khi tài sản dài hạn có khả năng sinh
lời cao. Tuy nhiên, đi cùng với khả năng sinh lời cao, rủi ro cũng lớn hơn, doanh
nghiệp có thể gặp phải những rủi ro tài chính, đặc biệt là rủi ro mất khả năng thanh
toán sẽ cao.
Chính sách quản lý nợ theo trường phái thận trọng khi doanh nghiệp sử dụng một
phần nguồn vốn dài hạn để tài trợ cho tài sản ngắn hạn. Với chính sách này, rủi ro tài
14

Thang Long University Library


chính của doanh nghiệp thấp, chi phí hoạt động thấp nhưng chi phí tài chính cao, khả
năng sinh lời cũng thấp. Chính sách này dẫn đến việc nguồn vốn bị lãng phí.
1.4.2. Phân tích kết quả hoạt động kinh doanh thông qua Báo cáo kết quả hoạt
động kinh doanh
Thông qua báo cáo kết quả kinh doanh của doanh nghiệp, ta có được sự phản ánh
tổng quát tình hình doanh thu – chi phí – lợi nhuận trong kỳ kế toán của doanh nghiệp.
Quá trình đánh giá khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp qua bảng báo cáo
kết quả hoạt động kinh doanh có thể thông qua việc phân tích các nội dung cơ bản sau:
Phân tích kết quả hoạt động: Lợi nhuận từ tất cả hoạt động của doanh nghiệp
cần được đánh giá khái quát giữa doanh thu, chi phí, kết quả của từng hoạt động. Từ
đó, rút ra nhận xét về tình hình kinh doanh của từng hoạt động dựa trên doanh thu
tương ứng với chi phí bỏ ra của hoạt động đó, so sánh quy mô của từng hoạt động trên
quy mô tổng tất cả các hoạt động của doanh nghiệp.
Phân tích kết quả sản xuất kinh doanh chính: Kết quả hoạt động kinh doanh
phản ánh kết quả hoạt động do chức năng kinh doanh đem lại trong từng thời kỳ hạch
toán của doanh nghiệp, là cơ sở chính để đánh giá, phân tích hiệu quả các mặt, các lĩnh
vực hoạt động, nguyên nhân và mức độ ảnh hưởng của các nguyên nhân cơ bản tới kết
quả chung của doanh nghiệp.

Chi phí tài chính bao gồm chi phí lãi vay, chi phí góp vốn liên doanh, các khoản
lỗ liên quan đến hoạt động đầu tư tài chính, chi phí giao dịch bán chứng khoán, chiết
khấu thanh toán cho khách hàng, …
Chi phí hoạt động là các chi phí phát sinh cần thiết để thực hiện các hoạt động
mà doanh nghiệp cần tiến hành, bao gồm: chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh
nghiệp. Khấu hao cũng được tính trong báo cáo kết quả kinh doanh như một loại chi
phí hoạt động.
Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh được xác định bằng lợi nhuận gộp
cộng doanh thu tài chính trừ đi chi phí tài chính, trừ đi chi phí bán hàng và chi phí
quản lý doanh nghiệp.
Kết quả từ các hoạt động khác bao gồm khoản thu nhập khác và khoản chi phí
khác. Thu nhập khác là khoản thu góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu từ hoạt động
ngoài các hoạt động tạo ra doanh thu như: khoản lãi từ thanh lý tài sản cố định, thu
phạt khách hàng do vi phạm hợp đồng, các khoản thuế được giảm trừ hoặc được hoàn
lại, thu tiền bảo hiểm được bồi thường,… Các khoản chi khác bao gồm các khoản lỗ
khi thanh lý tài sản cố định, tiền phạt do vi phạm hợp đồng, bị phạt thuế hoặc truy thu
thuế, chênh lệch lỗ do đánh giá lại tài sản,…
Lợi nhuận kế toán trƣớc thuế được xác định bằng lợi nhuận thuần từ hoạt động
kinh doanh và kết quả từ các hoạt động khác. Thuế thu nhập doanh nghiệp là số tiền
thuế thu nhập mà doanh nghiệp phải nộp trong kỳ.
Lợi nhuận sau thuế phản ánh lợi nhuận ròng từ hoạt động của doanh nghiệp,
cho biết kết quả kinh doanh cuối cùng. Lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp sẽ tạo
điều kiện cho doanh nghiệp tăng trưởng hoặc đưa doanh nghiệp vào tình trạng suy
thoái, do sự đóng góp của lợi nhuận mỗi kỳ vào quy mô vốn của doanh nghiệp cũng
như việc phân chia lợi ích cho các chủ sở hữu.

16

Thang Long University Library


Cần phân biệt rõ ràng giữa lợi nhuận và dòng tiền. Tại một thời điểm cụ thể, lợi
nhuận có thể đóng góp tích cực cho dòng tiền, cũng có thể không. Nếu lợi nhuận trong
năm đạt được là nhờ vào việc kinh doanh trong kỳ, mức doanh thu sẽ được ghi nhận là
lợi nhuận trong kỳ tài chính, được cộng thêm vào dòng tiền. Nhưng nếu sản phẩm đã
bán ra chưa được thanh toán cho đến kỳ kế toán tiếp theo, nó sẽ được ghi vào khoản
phải thu và làm giảm dòng tiền.

17


1.4.4. Phân tích tài chính doanh nghiệp thông qua các chỉ tiêu tài chính cơ bản
1.4.4.1. Nhóm chỉ tiêu về khả năng thanh toán
Khả năng thanh toán là năng lực về mặt tài chính mà doanh nghiệp có được để
đáp ứng nhu cầu thanh toán các khoản nợ. Các chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh toán
giúp đo lường khả năng của doanh nghiệp trong việc sử dụng các tài sản nhanh chuyển
đổi thành tiền để thực hiện các nghĩa vụ tài chính ngắn hạn. Nên cần so sánh các nghĩa
vụ nợ ngắn hạn với các nguồn lực ngắn hạn đang sẵn sàng cho việc đáp ứng các nghĩa
vụ này. Đồng thời, tiến hành xem xét mối tương quan giữa một bên là tài sản có tính
sinh lời thấp có thể chuyển hóa thành tiền và một bên là các khoản nợ với phí tổn thấp
nhưng người đi vay phải thường xuyên đối phó với việc thanh toán các khoản nợ đến
hạn.
Việc gắn tiền mặt và các tài sản ngắn hạn khác với nghĩa vụ nợ ngắn hạn giúp ta
có được thông số đánh giá khả năng thanh toán. Với các thông số này, người ta có thể
đánh giá khả năng thanh toán và khả năng duy trì hoạt động thanh toán của doanh
nghiệp trong trường hợp có rủi ro xảy ra.
Trước tiên, cần đánh giá chỉ tiêu về khả năng thanh toán ngắn hạn của doanh
nghiệp:
Khả năng thanh toán ngắn hạn =

Tổng Tài sản ngắn hạn

Tổng Nợ ngắn hạn

Trong tài sản ngắn hạn thì hàng tồn kho là những tài sản có tính thanh khoản
thấp, khả năng chuyển đổi thành tiền không cao nên có khả năng thanh toán kém nhất.
Vì vậy, hệ số khả năng thanh toán nhanh là thước đo về khả năng trả nợ không dựa
vào việc bán hàng tồn kho.
Ngoài ra, trong một số trường hợp, hàng tồn kho không thể chuyển nhượng thành
tiền (do khủng hoảng kinh tế, thị trường bão hòa…), doanh nghiệp chỉ có thể cải thiện
khả năng thanh toán dựa vào những tài sản dễ chuyển thành tiền hơn. Tùy theo ngành
mà thông số này là cao hay thấp và người ta sẽ xác định một mức tối thiểu nhằm đảm
bảo giới hạn an toàn cho doanh nghiệp. Thông thường, nếu hệ số này quá nhỏ, doanh
nghiệp sẽ gặp khó khăn trong việc thanh toán công nợ. Vì vào lúc gấp rút, doanh
nghiệp có thể buộc phải áp dụng các biện pháp bất lợi như thanh lý tài sản với giá rẻ
để trả nợ. Tuy vậy, cũng như hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn, độ lớn của hệ số này
cần cân nhắc phụ thuộc vào ngành nghề kinh doanh và kỳ hạn thanh toán của các
khoản nợ phải thu, phải trả trong kỳ.
Chỉ tiêu thứ ba cần xem xét khi đánh giá khả năng thanh toán của doanh nghiệp
là hệ số đánh giá khả năng thanh toán tức thời:
Khả năng thanh toán tức thời =

Tiền + Các khoản tương đương tiền
Tổng Nợ ngắn hạn

Hệ số khả năng thanh toán tức thời thể hiện mối quan hệ giữa tài sản có khả năng
thanh toán ngay lập tức hay thanh toán trực tiếp (như tiền mặt, các loại chứng khoán
bán được ngay) với các khoản nợ hiện hành. Hệ số này đánh giá khả năng thanh toán
tức thời, khả năng có thể trả nợ ngay của doanh nghiệp mà hầu như không cần thông
qua bước chuyển đổi nào, giảm thiểu rủi ro thanh toán cho doanh nghiệp. Tuy nhiên,
chỉ tiêu này không phải càng lớn càng tốt, nếu doanh nghiệp dự trữ quá nhiều tiền mặt
sẽ gây lãng phí vốn, khả năng sinh lời của tài sản giảm đi, gây dư thừa không cần thiết.

tăng doanh thu, nâng cao lợi nhuậncủa doanh nghiệp. Nếu chỉ tiêu này thấp, số vòng
quay tài sản nhỏ, có thể doanh nghiệp quản lý tài sản chưa hợp lý, chưa khai thác hết
hiệu quả của tài sản, gây lãng phí, cũng tăng chi phí cho doanh nghiệp, dẫn đến giảm
doanh thu cũng như các ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động sản xuất kinh doanh.
Hiệu suất sử dụng Tài sản ngắn hạn =

Doanh thu thuần
Tài sản ngắn hạn

Tài sản ngắn hạn là những tài sản có khả năng chuyển hóa thành tiền trong một
chu kỳ sản xuất kinh doanh thường là 1 năm. Tài sản lưu động là bộ phận quan trọng
cấu thành nên tài sản của doanh nghiệp và là nguồn kinh tế có thể tính bằng tiền mà
doanh nghiệp có hoặc doanh nghiệp khống chế.
Tài sản ngắn hạn hay được gọi là tài sản lưu động có thời gian vận động liên tục
và thường xuyên luôn chuyển trong quá trình sản xuất kinh doanh. Quá trình vận động
của tài sản lưu động bắt nguồn từ việc dùng tiền mua sắm vật tư cho quá trình sản
xuất, tiến hành sản xuất, bán sản phẩm với giá trị tăng thêm.
Trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp tài sản lưu động được biểu hiện ở
các trạng thái: Tiền và các chứng khoán khả thị (Cash and maketable sercurities), Các
khoản phải thu (Account receviable), Hàng tồn kho (Inventory), Tài sản lưu động
khác. Nghiên cứu và quản lý việc sử dụng tài sản lưu động góp phần hoàn thiện kế
20

Thang Long University Library


hoạch kinh doanh có hiệu quả, tiết kiệm chi phí, khai thác hết nguồn lực, hạn chế rủi
ro và nâng cao hiệu quả kinh doanh.
Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn (số vòng quay của tài sản ngắn hạn)
cho biết thời gian luân chuyển giá trị tài sản ngắn hạn vào doanh thu thuần. Chỉ tiêu

Doanh thu thuần
Phải thu khách hàng bình quân

Thông số này cho biết số lần phải thu khách hàng được chuyển thành tiền trong
năm. Số vòng càng lớn thì thời gian chuyển hóa thành tiền mặt càng ngắn. Thông số
này cung cấp nguồn thông tin nội bộ về chất lượng phải thu khách hàng và hiệu quả
của công ty trong hoạt động thu nợ
21


Thời gian thu nợ trung bình =

365
Vòng quay khoản phải thu khách hàng

=

Khoản phải thu * 365
Doanh thu thuần

Thời gian thu nợ trung bình là khoảng thời gian bình quân mà phải thu khách
hàng của doanh nghiệp có thể chuyển thành tiền, tức số ngày bình quân mà doanh số
duy trì dưới hình thức phải thu khách hàng cho đến khi được quy hồi và chuyển thành
tiền.
Nếu kỳ thu tiền dài hơn thời hạn bán tín dụng mà doanh nghiệp hiện đang cung
cấp cho khách hàng thì đó có thể là một dấu hiệu không tốt, cho thấy doanh nghiệp
hiện có một tỷ lệ tương đối nhiều khách hàng tín dụng trả nợ không đúng hạn (bị
chiếm dụng vốn). Mặc dù thời gian thu nợ trung bình cao không tốt nhưng kỳ thu tiền
trung bình quá thấp có thể là biểu hiện của chính sách tín dụng quá chặt chẽ. Lúc này,
phải thu khách hàng có chất lượng cao nhưng doanh số có thể bị giảm mạnh hoặc thấp

Giá vốn hàng bán + Chi phí bán hàng , quản lý
Phải trả người bán + Thuế, lương, thưởng

Đôi lúc doanh nghiệp cần thông tin về kỳ hạn trả tiền của chính họ đối với các
nhà cung cấp hoặc kỳ hạn trả tiền của một khách hàng tiềm năng.
Thời gian trả nợ trung bình =

365
Vòng quay phải trả người bán
22

Thang Long University Library


=

365*(Phải trả người bán + Chi phí quản lý, bán hàng
Giá vốn hàng bán + thuế, lương, thưởng

Thời gian quay vòng tiền = Chu kỳ kinh doanh – Thời gian trả nợ trung bình
= (Kỳ dự trữ bình quân + Thời gian thu nợ trung bình) – Thời gian trả nợ trung bình.
1.4.4.3. Nhóm chỉ tiêu đánh giá khả năng cân đối vốn
Tình hình công nợ của doanh nghiệp được thể hiện qua một số chỉ tiêu về hệ số
nợ hay cơ cấu vốn của doanh nghiệp. Tỷ lệ nợ trên tài sản được gọi là hệ số nợ trên tài
sản, là một chỉ tiêu quan trọng phản ánh cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp.
Hệ số nợ trên tài sản =

Nợ phải trả
Tổng tài sản



việc sử dụng vốn vay cao. Ngược lại, nếu chỉ tiêu này thấp, chứng tỏ hiệu quả kinh
doanh yếu, khó có khả năng bổ sung thêm vốn vay.
1.4.4.4. Nhóm chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lời
Khả năng sinh lời của doanh nghiệp là chỉ tiêu phản ánh mức lợi nhuận của
doanh nghiệp thu được trên một đơn vị chi phí, yếu tố đầu vào hay cũng có thể là kết
quả sản xuất của doanh nghiệp. Nó cho biết khả năng liên kết của việc quản trị thanh
khoản, tài sản, nợ đối với hoạt động kinh doanh. Từ đó, kết quả của các chỉ tiêu sinh
lời giúp doanh nghiệp có được chiến lược kinh doanh hiệu quả hơn. Các chỉ tiêu sinh
lời thường được chú trọng phân tích bao gồm:
Tỷ suất sinh lời trên doanh thu (Return on Sales – ROS)
Tỷ suất sinh lời của Doanh thu =

Lợi nhuận sau thuế

Doanh thu thuần

* 100

Chỉ số tỷ suất sinh lời của doanh thu – Return on sales đánh giá số lợi nhuận thực
tế để lại chiếm bao nhiêu phần trong doanh thu thuần. Hay nói cách khác, cứ 100 đồng
doanh thu thuần đem về bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế cho doanh nghiệp khi tiến
hành hoạt động sản xuất kinh doanh. Đối với doanh nghiệp thì trong bất cứ quyết định
dài hạn nào của doanh nghiệp mục tiêu tạo lợi nhuận và nâng cao hiệu quả kinh doanh
luôn là mục đích hàng đầu. Do đó, khi tổng doanh thu tăng đồng nghĩa chi phí tăng và
yêu cầu mức tăng của chi phí không thể cao hơn mức tăng của doanh thu để tạo chênh
lệch thu lợi ích cho doanh nghiệp. Chỉ tiêu này càng cao cho thấy doanh nghiệp có
hiệu quả kinh doanh cao và kiểm soát tốt chi phí, khả năng cạnh tranh trên thị trường
mạnh và ngược lại; chỉ tiêu tỷ suất sinh lời của doanh thu thấp chứng tỏ chi phí của
doanh nghiệp chưa được quản lý tốt và công tác kiểm soát chi phí của doanh nghiệp


Doanh thu
Tổng tài sản

= ROS * Hiệu suất sử dụng tổng tài sản

Phân tích Dupount sẽ cho ta biết rõ được cụ thể bộ phận tài sản, chi phí hay
doanh thu nào có ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng sinh lời của một đồng tài sản mà
doanh nghiệp sử dụng. Như đã thấy ở công thức trên, chỉ tiêu sinh lời từ tài sản bị ảnh
hưởng bởi hiệu suất sử dụng tổng tài sản và khả năng sinh lời của doanh thu. Chỉ cần
một trong hai chỉ tiêu này thay đổi cũng sẽ trực tiếp tác động tới ROA của doanh
nghiệp. Hiệu suất sử dụng tài sản càng cao, số vòng quay tài sản càng nhiều cho thấy
sức sinh lời của tài sản tăng, tổng doanh thu cũng tăng lên. Do doanh thu có quan hệ
cùng chiều với tài sản, nên khi doanh thu tăng chứng tỏ tài sản của doanh nghiệp cũng
tăng lên.
Ngoài ra, chỉ tiêu sinh lời của tài sản cũng phụ thuộc vào tỷ suất sinh lời của
doanh thu (ROS). Tỷ suất sinh lời của doanh thu cho biết lợi nhuận chiếm bao nhiêu
phần trong tổng doanh thu mà doanh nghiệp thu được trong quá trình hoạt động kinh
doanh. Chỉ số của tỷ suất sinh lời từ doanh thu càng cao chứng tỏ lợi nhuận thu về cao,
doanh nghiệp kinh doanh có lãi. Tỷ suất sinh lời từ doanh thu được đánh giá là tốt khi
lợi nhuận và doanh thu cùng tăng hoặc doanh thu giảm do doanh nghiệp không còn
đầu tư vào lĩnh vực kinh doanh không hiệu quả khiên lợi nhuận giảm nhưng giảm ít
hơn doanh thu. Ngoài ra, tỷ suất sinh lời của doanh thu còn được đánh giá có hiệu quả
khi lợi nhuận tăng do doanh nghiệp quản lý và kiểm soát tốt chi phí.
Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (Return on Equity – ROE)
Tỷ suất sinh lời của Vốn chủ sở hữu =

Lợi nhuận sau thuế
Vốn chủ sở hữu bình quân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status