Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 3 * 2012
Nghiên cứu Y học
KẾT QUẢ CỦA MÔ HÌNH TRUYỀN THÔNG GIÁO DỤC SỨC KHOẺ
THÔNG QUA CỘNG TÁC VIÊN ĐỊA PHƯƠNG VỀ NƯỚC SẠCH
VÀ VỆ SINH MÔI TRƯỜNG ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
TẠI HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
Đặng Ngọc Chánh*, Lê Ngọc Diệp*, Nguyễn Đỗ Quốc Thống*, Nguyễn Trần Bảo Thanh*
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Việt Nam là nước có dân số đang sinh sống trong những vùng dễ bị ảnh hưởng do biển đổi khí
hậu đứng hàng thứ tư trên thế giới, và bị ảnh hưởng lớn nhất là khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Cao Lãnh
thuộc tỉnh Đồng Tháp là một huyện hàng năm chịu ảnh hưởng của lũ Mê Kông. Công tác truyền thông về nước
sạch và vệ sinh môi trường là chưa tốt, và các nội dung về tác động của biến đổi khí hậu cùng giải pháp ứng phó
chưa được phổ biến đến người dân.
Mục tiêu: Thăm dò hiệu quả của một mô hình điểm về truyền thông nhằm nâng cao nhận thức của người
dân và chính quyền địa phương về công tác xây dựng, sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh, xử lý nước, sử dụng nước
an toàn trước, trong, và sau lũ ứng phó với biến đổi khí hậu.
Phương pháp: Đây là một nghiên cứu mô tả dọc, với dân số mục tiêu là người dân, đội ngũ cộng tác viên
truyền thông, cán bộ y tế và chính quyền địa phương tại 10 xã điểm thuộc huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp
trong năm 2011. Các hoạt động can thiệp bao gồm 3 nội dung chính là tập huấn nâng cao nhận thức của cán bộ y
tế dự phòng tỉnh, tổ chức hội nghị triển khai mô hình truyền thông điểm, và xây dựng mô hình truyền thông tại
10 xã điểm và tiến hành truyền thông ở 3 thời điểm trước, trong, và sau lũ. Nội dung truyền thông bao gồm các
vấn đề về nước sạch, vệ sinh môi trường; xử lý chất thải nông thôn, sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh tương ứng với
các giai đoạn trước, trong và sau lũ, các tác động của biến đổi khí hậu và giải pháp ứng phó. Phương pháp truyền
thông là sử dụng tài liệu truyền thông, phát thanh, và tuyên truyền trực tiếp tại hộ gia đình. Dữ kiện được thu
thập ở 2 thời điểm trong và sau lũ; thông qua bộ câu hỏi tự điền đánh giá về kiến thức và thực hành truyền thông
của cộng tác viên. Kiến thức và thực hành của người dân được thu thập qua phỏng vấn tại hộ gia đình, với đối
tượng phỏng vấn là chủ hộ hoặc đại diện chủ hộ.
Kết quả: Ở những đối tượng là cộng tác viên, tỷ lệ tự đánh giá đủ kiến thức phục vụ cho việc truyền thông
has never been delivered to the people.
Objective: To explore the effectiveness of a standard communication model in health education to improve
the awareness of inhabitants and local authorities about using safe water, sanitary latrines at the periods before,
during and after flood in order to cope with the effects of climate change.
Methods: This is a longitudinal descriptive study with the target population of inhabitants, health education
collaborators, health personals, and local authorities at 10 standard villages of Cao Lanh district of Dong Thap
province in 2011. Intervention measures include training of trainers and health education for people using a
standard communication model set up at each village. Through leaflets, radio broadcasting, and direct counseling
at household, people were delivered information in safe water, environmental sanitation, waste disposal, sanitary
latrine in the periods before, during, and after flood; and climate change effects and coping measures. Data
regarding knowledge and practices were collected during and after flooding time via a self-administered
questionnaire for collaborators, and direct interview at household for villagers.
Results: The proportion of collaborators self-rated as having adequate knowledge for health education was
increased at the after flood period compared to the during one. Similar figures were found among villagers with
the increasing of correct knowledge regarding climate change, correctly citing 2/4 types of sanitary latrines and
proper measures to protect water sources. Also increasing was the proportion of correct practices of keeping the
leaflets from collaborators, having a sanitary latrine, covering water containers, and proper waste disposal.
Conclusions: Health education by collaborators was found a feasible and effective model; however its efficacy
has to be identified in an intervention study with a control group.
Keywords: Health education, communication model, collaborator, safe water, environmental sanitation,
climate change.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Biến đổi khí hậu và những tác động do biến
đổi khí hậu gây ra đã đe dọa sự sống của tất cả
các loài, các hệ sinh thái; và con người phải đối
mặt với nhiều vấn đề nghiêm trọng liên quan đến
các yếu tố cơ bản của đời sống nhân loại như
nước, lương thực, sức khỏe, và môi trường. Việt
Nam là một trong số những nước bị tác động
Có nhiều giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu
đang được thực hiện trên phạm vi toàn cầu, song
thích ứng với biến đổi khí hậu là một giải pháp
vô cùng quan trọng. Tại Việt Nam, trong bối
cảnh trình độ dân trí còn thấp, truyền thông là
một trong những giải pháp ứng phó cần được ưu
tiên.
Huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp là một
huyện hàng năm chịu ảnh hưởng do lũ từ sông
Mê Kông đổ về. Dù không có số liệu thống kê
song trong quá trình triển khai chương trình mục
tiêu quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường
nông thôn tại địa phương cho thấy công tác
truyền thông về nước sạch và vệ sinh môi trường
chưa tốt, và các nội dung về tác động của biến
đổi khí hậu cùng giải pháp ứng phó chưa được
phổ biến đến người dân. Từ thực trạng đó, nghiên
cứu này được thực hiện nhằm mục đích thăm dò
hiệu quả của một mô hình điểm về truyền thông
nhằm nâng cao nhận thức của người dân và chính
quyền địa phương về công tác xây dựng, sử dụng
nhà tiêu hợp vệ sinh, xử lý nước, sử dụng nước
an toàn trước, trong, và sau lũ ứng phó với biến
đổi khí hậu. Biện pháp can thiệp là một mô hình
điểm về truyền thông sử dụng nhà tiêu hợp vệ
sinh, sử dụng nước sạch trong điều kiện ngập lụt.
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP
Đây là một nghiên cứu mô tả dọc, với dân số
mục tiêu là người dân, đội ngũ cộng tác viên
truyền thông, cán bộ y tế và chính quyền địa
phần trực tiếp triển khai tại địa phương gồm có
Uỷ ban Nhân dân xã (1 người đại diện là phó chủ
tịch xã/chánh văn phòng ủy ban xã), trạm y tế
(trưởng trạm/phó trạm), đài phát thanh, và các
cộng tác viên (4 người/xã).
Nội dung truyền thông bao gồm các vấn đề
về nước sạch, vệ sinh môi trường; xử lý chất thải
nông thôn, sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh tương
ứng với các giai đoạn (trước, trong và sau lũ); các
tác động của biến đổi khí hậu và giải pháp ứng
phó. Phương pháp truyền thông là sử dụng tài
liệu truyền thông, phát thanh và tuyên truyền trực
tiếp tại hộ gia đình. Viện Vệ sinh Y tế công cộng
thành phố Hồ Chí Minh cung cấp tài liệu truyền
thông, tờ rơi, áp phích; Trung tâm Y tế dự phòng
tỉnh và Trung tâm Y tế huyện Cao Lãnh viết bài
phát thanh, cung cấp cho đài phát thanh các xã
phát theo lịch trình quy định (3 lần/ngày); cộng
tác viên thực hiện truyền thông cộng đồng thông
qua các buổi họp tổ/ấp và tại hộ gia đình; trạm y
tế và Uỷ ban Nhân dân xã giám sát hoạt động của
cộng tác viên và đài phát thanh, họp định kỳ hàng
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 3 * 2012
tháng để đánh giá hoạt động trong tháng và triển
khai cho tháng kế tiếp; việc giám sát tổng thể các
hoạt động do Viện Vệ sinh Y tế công cộng thành
phố Hồ Chí Minh, Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh,
Tần số (%)
8 (20)
32 (80)
0 (0)
9 (22)
21 (53)
10 (25)
0 (0)
9 (22)
31 (78)
Bảng 2: Kiến thức và thực hành truyền thông
của cộng tác viên, tần số và (%), (n=40)
Nội dung
Tự đánh giá đã được tập huấn
đủ kiến thức cho công tác
truyền thông
Hiểu các nội dung trong tờ rơi
Có sổ ghi chép, nhật ký truyền
thông
Có lập kế hoạch viếng thăm hộ
gia đình
Có hướng dẫn cách sử dụng
tài liệu truyền thông cho người
dân
Giai đoạn
trong lũ
21 (53)
63 (72)
hậu và các ảnh hưởng của
Nghiên cứu Y học
biến đổi khí hậu
Kể được tên 2/4 mô hình
nhà tiêu hợp vệ sinh trong
tờ rơi
Nêu được cách bảo vệ
nguồn nước
Có giữ lại tờ rơi sau khi
nhận từ cộng tác viên
Có nhà tiêu hợp vệ sinh
Nhà tiêu sạch sẽ, không có
mùi hôi, thối
Vật dụng chứa nước có
nắp đậy
Vật dụng chứa nước
không có rong rêu, cặn
bẩn
Có giỏ đựng rác
Bỏ rác vào xe thu gom
Tự thu gom và đốt phía
sau nhà
Tự thu gom và chôn phía
sau nhà
69 (79)
35 (40)
37 (43)
19 (22)
Bảng 4: Số hộ gia đình sử dụng nhà tiêu hợp vệ
sinh tại 10 xã điểm và toàn huyện Cao Lãnh, dữ
kiện thứ cấp
Nội dung
Địa điểm
Số hộ gia đình có 10 xã điểm
nhà tiêu hợp vệ
sinh *
Tỷ lệ hộ gia đình Huyện Cao
có nhà tiêu hợp vệ
Lãnh
sinh **
Trước can
thiệp
16.511
Sau can
thiệp
17.669
69
quả cho thấy tỷ lệ trả lời đúng đều tăng ở giai
đoạn sau mùa lũ. Về thực hành, tỷ lệ hộ gia đình
còn giữ lại tờ rơi đã nhận từ cộng tác viên khi
được phỏng vấn giai đoạn sau mùa lũ là tăng so
với giai đoạn trong mùa lũ. Đa phần người dân
đã có chuyển biến tốt. Tỷ lệ hộ gia đình được
phỏng vấn có nhà tiêu hợp vệ sinh và được sử
dụng, bảo quản đúng cách, sạch sẽ, không có mùi
hôi thối là tăng so với trước. Về vật dụng chứa
nước tại hộ gia đình, tỷ lệ sử dụng nắp đậy đã
tăng lên. Đối với cách thức xử lý rác sinh hoạt,
100% các hộ gia đình đều có giỏ đựng rác ở cả
hai thời điểm; và có sự chuyển biến tốt trong các
biện pháp xử lý rác của người dân, tỷ lệ bỏ rác
vào xe thu gom đã tăng lên, trong khi tỷ lệ tự thu
gom và đốt hoặc chôn giảm (bảng 3). Ngoài ra,
số liệu thống kê cho thấy tỷ lệ hộ gia đình có nhà
tiêu hợp vệ sinh tại 10 xã điểm sau can thiệp đã
tăng 5% so với trước; tỷ lệ tăng tương ứng cho
toàn huyện Cao Lãnh là 1% (bảng 4).
BÀN LUẬN
Đa số cộng tác viên là nữ, trong tuổi lao
động, và trình độ học vấn trung học phổ thông là
những điểm thuận lợi cho hoạt động. Điều này
được thể hiện qua những hoạt động rất tích cực
của họ trong công tác truyền thông ở cả hai thời
điểm trong mùa lũ và sau mùa lũ. Chính bản thân
của họ cũng có những chuyển biến rất tốt khi tự
đánh giá đủ kiến thức phục vụ cho việc truyền
thông, đặc biệt ở thời điểm sau lũ chỉ còn 5% cho
giá trước và sau can thiệp, trong khi nghiên cứu
này không đánh giá được giai đoạn trước can
thiệp mà chỉ đánh giá ở giai đoạn can thiệp thứ
hai và thứ ba. Ngoài ra, cỡ mẫu được ước lượng
chưa chính xác, và đối tượng phỏng vấn tại hộ
gia đình là không cố định giữa 2 lần phỏng vấn,
dẫn đến nhiều sai lệch khi đánh giá hiệu quả của
sự can thiệp truyền thông. Dù có một số hạn chế,
nhưng những kết quả bước đầu cho thấy mô hình
truyền thông thông qua cộng tác viên là khả thi
và có hiệu quả, tuy nhiên cần có một nghiên cứu
can thiệp có nhóm chứng để xác định hiệu lực
của mô hình.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
2.
3.
4.
5.
6.
Bộ Tài nguyên và Môi trường (2008). Chương trình mục tiêu
quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu.
Bộ Tài nguyên và Môi trường (2009). Kịch bản biến đổi khí
hậu, nước biển dâng cho Việt Nam.
Bộ Tài nguyên và Môi trường (2011). Chiến lược quốc gia về
biến đổi khí hậu.
Dasgupta S, Laplante B, Meisner C, Wheeler D and Yan J