NGÔ VĂN HƯNG (Chủ biên)
NGÔ THÁI LAN – PHAN HỒNG THE
TÀI LIỆU
GIÁO DỤC ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
THÔNG QUA MÔN SINH HỌC THCS
(Tài liệu dành cho GV và CBQLGD)
1
Lời giới thiệu
2
Mục lục
3
Phần I. GIÁO DỤC PHỔ THÔNG TRƯỚC NHỮNG THÁCH THỨC CỦA
BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
I. Biến đổi khí hậu
1. Khái niệm
1.1. Định nghĩa
Biến đổi khí hậu (BĐKH) là những biến đổi trong môi trường vật lý hoặc
sinh học gây ra những ảnh hưởng có hại đáng kể đến thành phần, khả năng phục
hồi hoăc sinh sản của các hệ sinh thái tự nhiên và được quản lý hoặc đến hoạt
động của các hệ thống kinh tế - xã hội hoặc đến sức khỏe và phúc lợi của con
người (Công ước chung mà Liên hợp quốc về BĐKH tại Hội nghị Thượng đỉnh
Tóm lại, BĐKH trong thời kỳ địa chất có liên quan đến các nhân tố tự
nhiên ngoài trái đất và những nhân tố trong nội bộ trái đất (địa chất).
1.3.2. Nguyên nhân của BĐKH hiện đại
Biến đổi khí hậu (BĐKH) có thể do hai nguyên nhân: do những quá trình
tự nhiên và do ảnh hưởng của con người.
Trong khuôn khổ của tài liệu này, chúng ta không đi sâu phân tích ảnh
hưởng của các quá trình tự nhiên, mà chủ yếu đề cập đến tác động của con người
đến biến đổi khí hậu.
Cho đến nay các nhà khoa học đều khẳng định rằng hoạt động của con
người đã và đang làm BĐKH toàn cầu. Nguyên nhân chủ yếu của sự biến đổi đó
là sự tăng nồng độ các khí nhà kính trong khí quyển dẫn đến tăng hiệu ứng nhà
kính. Đặc biệt quan trọng là khí điôxit cácbon (CO2) được tạo thành do sử dụng
năng lượng từ nhiên liệu hóa thạch (như dầu mỏ, than đá, khí tự nhiên...), phá
rừng và chuyển đổi sử dụng đất.
Theo Báo cáo đánh giá lần thứ 4 của Ban liên Chính phủ của BĐKH (IPCC,
2007), hàm lượng khí CO2 trong khí quyển năm 2005 đã vượt xa mức tự nhiên
trong khoảng 650.000 năm qua (180 - 280ppm) và đạt 379ppm (tăng ~ 35%).
Lượng phát thải khí CO2 từ sử dụng nhiên liệu hóa thạch đã tăng trung bình từ 6,4
5
tỷ tấn cacbon (23,5 tỷ tấn CO2) mỗi năm trong những năm 1990 đến 7,2 tỷ tấn
cacbon (45,9 tỷ tấn CO2) mỗi năm trong thời kỳ 2000 - 2005.
Lượng phát thải khí CO2 từ việc thay đổi sử dụng đất ước tính bằng 1,6 tỷ
tấn cacbon (5,9 tỷ tấn CO2) trong những năm 1990.
Nhu cầu về năng lượng của nhân loại ngày càng nhiều, trong đó năng
lượng hóa thạch chiếm phần lớn. Mặc dù năng lượng hạt nhân hoặc một số dạng
năng lượng sạch khác có xu hướng tăng lên nhưng vẫn chỉ chiếm một phần nhỏ
so với nhu cầu năng lượng nói chung. Sử dụng nhiều năng lượng hóa thạch là
quyển. Năng lượng hóa thạch được sử dụng trong giao thông vận tải, chế tạo các
thiết bị điện: tủ lạnh, hệ thống điều hòa nóng lạnh và các ứng dụng khác. Lượng
CO2 còn do hoạt động trong nông nghiệp và khai thác rừng (kể cả cháy rừng),
khai hoang và công nghiệp.
Tóm lại, tiêu thụ năng lượng do đốt các nhiên liệu hóa thạch đóng góp
khoảng một nửa (46%) vào tiềm năng nóng lên toàn cầu. Phá rừng nhiệt đới
đóng góp khoảng 18% và hoạt động nông nghiệp tạo ra khoảng 9% tổng số các
khí thải gây ra lượng bức xạ cưỡng bức làm nóng lên toàn cầu. Sản phẩm hoá
học (CFC, Halon...): 24% và các nguồn khác như rác chôn dưới đất, nhà máy xi
măng...: 3%.
Lượng bực xạ tăng thêm (bức xạ cưỡng bức) do sự gia tăng của hàm
lượng các khí nhà kính trong khí quyển do hoạt động của con người trong thời
kỳ 1750 - 2000 được xác định là 2,43w/m2, trong đó từ khí CO2 là 1,46w/m2, từ
khí CH4 là 0,48w/m2, từ các khí Halocacbon là 0,34w/m2 và từ khí N2O là
0,15w/m2.
Ngoài nguyên nhân do hc oạt động của con người nói trên, BĐKH hiện
nay còn có các nguyên nhân tự nhiên, trong đó có hoạt động của núi lửa phun
các tro bụi lên tới tầng bình lưu của khí quyển, hạn chế lượng bức xạ mặt trời đi
tới mặt đất, làm cho mặt đất lạnh đi (bức xạ cưỡng bức âm) thường kéo dài
khoảng vài năm. Ngoài ra, sự biến động của bức xạ mặt trời trong thời kỳ 1750
1
Tính bằng phần tỷ
7
đến nay được đánh giá là tạo ra lượng bức xạ cưỡng bức dương với trị số là
0,30w/m2, chủ yếu xảy ra vào nửa đầu thế kỷ 20.
Như vậy, BĐKH hiện nay có cả nguyên nhân tự nhiên và nguyên nhân
3. Hậu quả của biến đổi khí hậu
3.1. Phạm vi toàn cầu
Từ khoảng giữa thế kỷ XIX, nhờ đo đạc chính xác bằng các dụng cụ,
chúng ta mới có được số liệu định lượng chi tiết về BĐKH trong hơn một thế kỷ
qua. Những số liệu có được cho thấy xu thế chung là từ cuối thế kỷ XIX đến
nay, nhiệt độ trung bình toàn cầu đã tăng lên đáng kể. Kết quả đo đạc và nghiên
cứu hiện nay cho thấy nhiệt độ không khí trung bình toàn cầu trong thế kỷ XX
đã tăng lên 0,74oC (± 0,2oC); trên đất liền, nhiệt độ tăng nhiều hơn trên biển và
thập kỷ 1990 là thập kỷ nóng nhất trong thiên niên kỷ vừa qua (IPCC, 2007).
Nhiệt độ trung bình bề mặt trái đất đã tăng lên rõ rệt trong thời kỳ 1920 1940, giảm dần trong khoảng giữa những năm 1960 và lại tăng lên từ sau năm
1975. Bằng cách đo đạc các thớ cây, diện tích các vùng băng, người ta nhận thấy
đây là thời kỳ nhiệt độ cao nhất trong vòng 600 năm trở lại đây.
Các nhà khoa học đều nhất trí rằng, tình trạng nóng nhất xảy ra trong 50
năm cuối của thế kỷ XX là do hậu quả hoạt động của con người.
Sang những năm đầu thế kỷ XXI, nhiệt độ trái đất tiếp tục tăng. Có thể lấy
năm 2003 làm minh chứng: Nhiệt độ trung bình toàn cầu năm 2003 tăng 0,46oC
so với trung bình thời kỳ 1971 - 2000, là năm ấm thứ ba kể từ năm 1861. Trong
đó, chuẩn sai nhiệt độ bán cầu Bắc là + 0,59oC và bán cầu Nam: +0,32oC. Năm
ấm thứ hai là 2002 với chuẩn sai nhiệt độ là + 0,48oC. Kể từ năm 1850 đến
2006, trong số 12 năm nóng nhất, thì đã có 11 năm nằm trong 12 năm gần đây
(1995 - 2006).
Hiện tượng thời tiết ấm lên ở Alaska trong những năm gần đây cũng là
một minh chứng rõ rệt. Tại đây, nhiệt độ đã tăng 1,5oC so với trung bình nhiều
năm, lớp băng vĩnh cửu giảm 40% và hàng năm lớp băng thường dày 1,2m chỉ
còn khoảng 0,3m (mỏng hơn 4 lần so với trung bình nhiều năm).
9
Hiện tượng mưa cũng có những biến động đáng kể, tăng 5 - 10% trong thế
kỷ XX trên lục địa bán cầu Bắc và giảm ở một số nơi, tuy xu thế không rõ rệt
bệnh sốt rét.
3.2. Khu vực Châu Á và Đông Nam Á
Dân số châu Á chiếm trên 60% dân số thế giới, tài nguyên thiên nhiên đã
chịu nhiều áp lực và khả năng thích ứng đối với biến đổi khí hậu của phần lớn
lĩnh vực ở châu Á là thấp. Nền kinh tế - xã hội ở nhiều nước phụ thuộc vào tài
nguyên thiên nhiên như nước, rừng, thảo nguyên, đồng cỏ chăn thả và thủy sản.
Mức độ biến đổi của các yếu tố khí hậu sẽ khác nhau nhiều giữa các vùng và các
quốc gia.
Đông Nam Á là khu vực bao gồm các quốc đảo và nhiều quốc gia nằm ở
những vùng bờ biển thấp hoặc những vùng ngay cửa sông, là khu vực đặc biệt
dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng.
Sự tăng lên của mực nước biển là tiêu điểm chính trong nghiên cứu của
các nước khu vực châu Á - Thái Bình Dương, nói chung và các nước Đông Nam
Á, nói riêng. Tác động của mực nước biển dâng trung bình trên toàn cầu đã được
dự tính tại các nước Philippin, Việt Nam, Sri Lanka, Malayxia, Bănglađét và Ấn
Độ..... Chúng ta có thể đề cập đến một số nước thuộc khu vực Đông Nam Á, như
những thí dụ làm minh chứng cho tác động của biến đổi khí hậu, đặc biệt là mực
nước biển dâng vào năm 2070.
Tại Inđônêxia, vào năm 2070 mực nước biển sẽ dâng cao hơn 1 m trên
phần lớn lãnh thổ Jakarta và 3,3 triệu dân ở những vùng đất thấp của Inđônêxia
sẽ phải dời chỗ ở do lũ và ngập lụt.
Tại Philippin, khi nước biển dâng cao 90 cm, những hòn đảo nhỏ, một số
điểm thuộc hệ thống tàu điện ngầm Manila và Cebu, cũng như một số quận,
huyện ở Manila và vùng bờ biển vịnh Manila .... sẽ bị nhấn chìm trong nước
biển.
Tại Malayxia, các nghiên cứu đã khẳng định, thậm chí mực nước biển chỉ
dâng cao ở mức khiêm tốn cũng đã làm tồi tệ thêm tình trạng xói lở vốn đã trầm
11
việc phát xả khí nhà kính là nguyên nhân hàng đầu của BĐKH, đặc biệt kể từ
năm 1950 khi thế giới đẩy nhanh tốc độ công nghiệp hóa và tiêu dùng, tăng
cường sử dụng nhiên liệu hóa thạch như than đá, dầu mỏ, sản xuất xi măng, phá
rừng và gia tăng chăn nuôi gia súc, khai hoang các nguồn đất ngập nước chứa
than bùn…Với những diễn biến thời tiết khó lường, thiên tai lũ lụt kéo dài. Ước
tính hàng năm nước ta phải gánh chịu không biết bao nhiêu cơn bão lũ gây thiệt
hại to lớn đến người và của. Đó là chưa kể việc kéo theo dịch bệnh hoành hành,
cuộc sống người dân bị đe dọa nghiêm trọng. Đây chính là nguy cơ đe dọa đến
mục tiêu xóa đói giảm nghèo, cho việc thực hiện mục tiêu thiên niên kỷ và sự
phát triển bền vững của đât nước. Trong những năm gần đây, tác động của
BĐKH đến nước ta ngày càng thể hiện rõ nét. Thực tế cho thấy, khí hậu Việt
nam đang nóng lên. Mùa đông ít đi, mưa phùn giảm rõ rệt ở Bắc Bộ và Trung
Bộ, hạn hán ngày càng khắc nghiệt…bão lũ lớn và bất thường liên tiếp xảy ra,
diện tích đất ngập mặn tăng lên nhất là ở vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long, liên
tiếp các đợt áp thấp nhiệt đới xảy ra ở khu vực Miền Trung. BĐKH đang trở
thành một vấn đề mang tính toàn cầu cần được tất cả các nước quan tâm kịp thời
và Việt Nam đã và đang tiến hành một số biện pháp ứng phó với BĐKH. Bộ Tài
Nguyên và Môi Trường đã thực hiện nhiều dự án giảm thiểu và thích ứng với
BĐKH. Hiện nay Bộ đang nghiên cứu những kịch bản BĐKH khác nhau trong
tương lai và xây dựng chiến lược ứng phó quốc gia tương ứng. Hệ thống dự báo
thời tiết đang được nâng cấp, đemlại kết quả tích cực trong các trận bão gần đây
với dự báo chính xác giúp các địa phương thực hiện các kế hoạch chống bão cần
thiết và giảm thiểu tốt nhất. Trong lĩnh vực quốc tế nhằm ứng phó với BĐKH,
các đại diện của LHQ cho biết Việt Nam có thể giữ vai trò quan trọng trong cuộc
chiến chống BĐKH trên toàn cầu.
Trong những năm qua, Việt Nam đạt được tiến bộ đáng kể trong các lĩnh
vực phát triển con người. Tuy nhiên, BĐKH đang đe dọa ảnh hưởng xấu đến
mục tiêu tăng trưởng của đất nước và điều kiện sống của người dân. Biến đổi
hết các nội dung trong chương trình sinh học 6, 7, 8, 9 đều có khả năng đề cập
đến các nội dung biến đổi khí hậu (BĐKH). Các kiến thức BĐKH trong môn
Sinh học có thể phân biệt thành 2 nhóm:
1. Hình thành kiến thức về biến đổi khí hậu:
+ Khái niệm về BĐKH
+ Những biểu hiện của sự BĐKH
+ Nguyên nhân của biến đổi khí hậu
+ Tác động của BĐKH đối với tự nhiên và mọi mặt hoạt động của con
người
+ Chiến lược ứng phó với BĐKH nói chung và của các địa phương nói
riêng
2. Hình thành thái độ, hành vi về biến đổi khí hậu:
+ Có ý thức bảo vệ môi trường
+ Có ý thức sử dụng hợp lí tài nguyên thiên nhiên.
+ Có tình cảm yêu quý quê hương, đất nước, yêu quí thiên nhiên và tôn
trọng các di sản văn hóa.
+ Có ý thức giảm nhẹ BĐKH và tích cực, chủ động đối phó với những
thách thức do BĐKH gây ra theo phương châm tại chỗ, dựa vào sức mình là
chính.
Tuy nhiên, khi soạn giáo án người giáo viên cần xem xét, nghiên cứu và chọn
lọc những nội dung giáo dục biến đổi khí hậu (GDBBĐKH) phù hợp để đưa
15
vào nội dung bài giảng dưới dạng lồng ghép toàn phần ( nếu toàn bài có nội
dung BĐKH), lồng ghép một phần ( trong bài có một mục, một đoạn hay một
vài câu có nội dung BĐKH), liên hệ ( nếu kiến thức trong bài có một hoặc nhiều
chỗ có khả năng liên hệ, bổ sung thêm kiến thức BĐKH mà SGK chưa đề cập).
II. Định hướng và yêu cầu của GD BĐKH trong trường THCS
trường, chương IV: Bảo vệ môi trường.
- Chiếm một hoặc một số bài trọn vẹn (lồng ghép toàn phần): Ví dụ,
trong SGK Sinh học 6 có bài 49 nói về”Bảo vệ sự đa dạng của động vật”. Trong
SGK Sinh học 7 có bài 57, 58 nói về “Đa dạng sinh học”, bài 58 nói về ”Biện
pháp đấu tranh Sinh học” và bài 60 nói về “Động vật quý hiếm”.
- Chiếm một mục, một đoạn hay một câu trong bài học (lồng ghép một
phần): Ví dụ, trong SGK Sinh học 6 có bài 46 nói về “Thực vật góp phần điều
hòa khí hậu”. Trong bài này ở mục cuối cùng , mục 3, có nêu lên vai trò của thực
vật trong việc làm giảm ô nhiễm môi trường. Trong SGK Sinh học 7 có bài 50
nói về “Đa dạng của lớp thú”. Trong bài này ở mục cuối cùng , mục 3, có nêu số
lượng thú trong tự nhiên đã bị giảm sút nghiêm trọng, do đó cần có ý thức và
đẩy mạnh phong trào bảo vệ động vật hoang dã, tổ chức chăn nuôi những loài có
giá trị kinh tế, góp phần bảo vệ môi trường sống hiện nay”. Trong SGK Sinh học
8 có bài 22 nói về “Vệ sinh hô hấp”. Trong bài này ở phần tóm tắt các ý chính có
nêu: cần tích cực xây dựng môi trường sống và làm việc có bầu không khí trong
sạch, ít ô nhiễm bằng các biện pháp như trồng nhiều cây xanh, không xả rác bừa
bãi, không hút thuốc lá...
Trong SGK Sinh học 9 có bài 29 nói về “Bệnh và tật di truyền ở người”.
Trong bài này ở mục cuối cùng, mục III có nêu các biện pháp hạn chế phát sinh
bệnh, tật di truyền: “Đấu tranh chống sản xuất, thử, sử dụng vũ khí hạt nhân, vũ
khí hóa học và các hành vi gây ô nhiễm môi trường. Sử dụng đúng quy cách các
thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, thuốc chữa bệnh”. Bài 30 nói về “Di truyền học với
17
con người”. Trong bài này ở mục cuối cùng, mục III còn nêu lên hậu quả di
truyền do ô nhiễm môi trường.
Trong mục “Em có biết” sau các bài học chính, nhằm giáo dục ý thức môi
trường cho học sinh. Ví dụ, trong SGK SH 6, sau bài 21, ở mục “em có biết” có
2.1.1. Hình thức dạy học nội khóa
Bao gồm hình thức dạy học trên lớp và ngoài lớp. Hình thức dạy học trên
lớp được sử dụng chủ yếu ở Việt Nam, song cần phải lựa chọn những bài thích
hợp để đưa kiến thức giáo dục môi trường vào cho phù hợp. Trong khí đó hình
thức dạy học ngoài lớp cũng đã được chú ý tới, đặc biệt là với môn Sinh học môn học liên quan nhiều đến thực tế thiên nhiên. Trong chương trình Sinh học
THCS có một số bài dạy ngoài lớp: trong SGK SH 6, bài 53 nói về tham quan
thiên nhiên. Trong SGK SH 7, bài 64, 65, 66 nói về tham quan thiên nhiên.
Trong SGK SH 9, bài thực hành 45, 46: tìm hiểu môi trường và ảnh hưởng của
một số nhân tố sinh thái lên đời sống sinh vật, bài thực hành 51, 52: Hệ sinh
thái, bài thực hành 56, 57: tìm hiểu tình hình môi trường ở địa phương, bài thực
hành 62: Vận dụng luật bảo vệ môi trường vào việc bảo vệ môi trường địa
phương.
Đối với những bài chỉ có một phần hay một số câu là kiến thức liên quan
GD BĐKH thì giáo viên cố gắng phân tích rõ những khía cạnh môi trường,
BĐKH liên quan đến bài học. Đối với các bài học không có kiến thức GD
BĐKH được lồng ghép, thì tùy theo khả năng mà liên hệ các kiến thức BĐKH
vào bài học.
2.1. 2. Hình thức dạy học ngoại khóa
Ở nước ta, hình thức dạy học ngoại khóa từ trước đến nay chưa phổ biến.
Ở nhiều nước trên thế giới, việc GD BĐKH cho học sinh qua hình thức này rất
được chú ý, vì đây là cơ hội để học sinh được tiếp cận với thiên nhiên, ứng dụng
những kiến thức môi trường đã học vào thực tế môi trường tự nhiên, phát triển
khả năng độc lập của học sinh, giúp học tự tổ chức việc tìm hiểu, nhận xét, thảo
luận các vấn đề về BĐKH và các hoạt động giảm nhẹ BĐKH. Chính những hoạt
19
động này dễ dàng giúp học sinh có ý thức bảo vệ môi trường, giảm nhẹ và thích
ứng với BĐKH. Hoạt động ngoại khóa có thể tiến hành với nhiều hình thức khác
nhau:
2.2.2. Phương pháp giảng giải
Đây cũng là phương pháp dùng lời nói, thường sử dụng khi giải thích các
vấn đề. Giáo viên nêu ra các dẫn chứng để làm rõ những kiến thức mới và khó
về BĐKH.
Ví dụ: Khi nói về hiện tượng nóng lên toàn cầu thì nêu rõ nguyên nhân
dẫn đến hiện tượng nhiệt độ nóng lên, giải thích rõ vì sao khí CO 2, CH4 tăng cao,
vì sao tầng ôzôn đang bị mỏng ...
2.2.3. Phương pháp vấn đáp
Trong phương pháp này giáo viên đưa ra câu hỏi, học sinh trả lời, cùng có
khi học sinh hỏi, giáo viên trả lời hoặo trao đổi giữa học sinh và học sinh...”.
Ví dụ: “Vì sao nhiệt độ của trái đất ngày càng tăng?”
“Sẽ ra sao nếu như khí hậu của trái đất sẽ trở lên nóng hơn?”
“Sẽ ra sao nếu trên trái đất không có cây xanh?”
Việc sử dụng các câu hỏi này khuyến khích học sinh quan tâm đến các
vấn đề BĐKH và dự đoán các vấn đề BĐKH sẽ xảy ra trong tương lai.
2.3.4. Phương pháp sử dụng các phương tiện trực quan
Các phương tiện trực quan như: tranh ảnh, băng hình video, phim ảnh là
những phương tiện rất hữu ích cho việc giảng dạy kiến thức về GDBĐKH. Việc
sử dụng các phương tiện trực quan gây hứng thú và ấn tượng sâu sắc cho học
sinh.
Giáo viên nên sử dụng tranh ảnh về những loài thú quí hiếm đang có nguy
cơ bị mất nơi ở do tác động của BĐKH, về phong cảnh đẹp đang có nguy cơ bị
tàn phá do ảnh hưởng xấu của BĐKH để GD BĐKH. Hệ thống tranh dùng minh
hoạ có thể do giáo viên tự sưu tầm hoặc giao nhiệm vụ cho các em sưu tầm từ
các nguồn: sách, báo, tạp chí, mạng internet....
21
Các phim, băng hình video có nội dung về GD BĐKH là một loại phương
quả -> Thảo luận chung -> Giáo viên tổng kết ý kiến của các nhóm.
Ví dụ: Chủ đề Ô nhiễm môi trường
+ Làm việc chung:
- GV nêu vấn đề: GV nêu 4 câu hỏi sau:
Ô nhiễm môi trường là gì?
Các tác nhân chủ yếu gây ô nhiễm môi trường không khí?
Khí CO2 tăng lên sẽ gây hậu quả gì?
Các biện pháp nào làm giảm sự gia tăng khí CO2 trong khí quyển?
- Chia nhóm: Mỗi nhóm 6 học sinh
+ Làm việc theo nhóm:
Các nhóm thảo luận và trình bày kết quả bằng bảng trong hoặc giấy khổ
lớn. Cử đại diện trình bày.
+ Tổng kết: Giáo viên tổng kết 4 vấn đề nêu ra trên cơ sở kết quả thảo
luận của các nhóm.
2.2.6. Phương pháp dạy học đặt vấn đề và giải quyết vấn đề
Theo giáo trình đại cương phương pháp dạy học sinh học của tác giả Trần
Bá Hoành và Trịnh Nguyên Giao, cấu trúc của một bài học theo dạy học đặt và
giải quyết vấn đề thường như sau:
- Đặt vấn đề, xây dựng bài toán nhận thức:
+ Tạo tình huống có vấn đề
+ Phát hiện và nhận dạng vấn đề nay sinh
+ Phát biểu vấn đề cần giải quyết
- Giải quyết vấn đề:
+ Đề xuất các giả thuyết
+ Lập kế hoạch giải quyết
23
+ Thực hiện kế hoạch giải quyết
phương tiện giao thông và bụi trên đường.
→ Biện pháp: Sử dụng phương tiện giao thông công cộng, giảm sử dụng
phương tiện giao thông cá nhân; Sử dụng các loại phương tiện giao thông ít tốn
nhiên liệu, ít khí thải; tăng cường đi bộ, hoặc đi xe đạp vừa có lợi cho sức khoẻ,
vừa góp phần bảo vệ môi trường không khí, vừa giảm nhẹ sự gia tăng nhiệt độ
trái đất.
Phương pháp động não
- Khái niệm : Động não là một kĩ thuật giúp cho người học trong một thời
gian ngắn nảy sinh được nhiều ý tưởng, nhiều giả định về vấn đề nào đó.
- Cách sử dụng: Giáo viên nêu vấn đề cần tìm hiểu trước lớp hoặc nhóm.
Ví dụ: Chúng ta nên làm gì để hạn chế ô nhiễm môi trường không khí?
+ Khích lệ mọi người phát biểu và đóng góp ý kiến càng nhiều càng tốt.
+ Liệt kê các ý kiến của mọi người và ghi lên bảng hoặc giấy to, không
loại trừ một ý kiến nào.
+ Phân loại các ý kiến.
+ Làm sáng tỏ những ý kiến chưa rõ ràng và thảo luận về các ý kiến vừa
nêu ra.
+ Tổng hợp ý kiến của học sinh xem có thắc mắc hay thay đổi gì không?
2.2.8. Phương pháp giao cho học sinh làm các bài tập thực hành ở nhà
Các bài tập giúp cho học sinh vận dụng các kiến thức đã học vào thực
tiễn. Vì vậy, nó hình thành cho học sinh kĩ năng học tập, kĩ năng giảm nhẹ
BĐKH.
Ví dụ : Tìm hiểu về tình hình tác động của BĐKH ở địa phương
- Các khu vực bị ảnh hưởng của BĐKH ở địa phương.
- Các tác nhân gây BĐKH.
25