ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐINH NGỌC TƯỞNG
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN TRANG TRẠI CHĂN NUÔI
TẠI HUYỆN YÊN LẬP, TỈNH PHÚ THỌ
LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
THÁI NGUYÊN - 2015
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐINH NGỌC TƯỞNG
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN TRANG TRẠI CHĂN NUÔI
TẠI HUYỆN YÊN LẬP, TỈNH PHÚ THỌ
Ngành: Phát triển nông thôn
Mã số: 60 62 01 16
LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
Giáo viên dẫn khoa học: PGS.TS. DƯƠNG VĂN SƠN
THÁI NGUYÊN - 2015
PTNT, phòng Tài nguyên và Môi trường, Chi cục Thống kê, UBND các xã và các
chủ trang trại trên địa bàn huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo
điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình nghiên cứu đề tài.
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè đã động
viên giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu đề tài.
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 25 tháng 12 năm 2015
TÁC GIẢ
Đinh Ngọc Tưởng
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ........................................................................................................ i
LỜI CẢM ƠN .............................................................................................................ii
MỤC LỤC ................................................................................................................. iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ........................................................................... vi
DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH............................................................................vii
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài .......................................................................................... 1
2. Mục đích nghiên cứu ............................................................................................... 2
3. Mục tiêu nghiên cứu................................................................................................ 2
4. Ý nghĩa của đề tài .................................................................................................... 2
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU ...................................................................... 3
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài .................................................................................... 3
1.1.1. Khái niệm về kinh tế trang trại và kinh tế trang trại chăn nuôi ........................ 3
1.1.2. Các đặc trưng chủ yếu của kinh tế trang trại chăn nuôi .................................... 5
1.1.3. Vị trí và vai trò của kinh tế trang trại chăn nuôi ............................................... 6
3.2. Thực trạng phát triển kinh tế trang trại chăn nuôi trên địa bàn huyện ............... 35
3.2.1. Số lượng các loại hình kinh tế trang trại chăn nuôi huyện Yên Lập............... 38
3.2.2. Quy mô đất đai của các mô hình kinh tế trang trại ......................................... 40
3.2.3. Vốn đầu tư sản xuất của các trang trại ............................................................ 42
3.2.4. Thức ăn sử dụng trong trang trại ..................................................................... 43
3.2.5. Nguồn nhân lực trong các trang trại ................................................................ 44
3.2.6. Tình hình trang bị và sử dụng máy móc thiết bị của các trang trại................. 48
3.2.7. Phòng chống dịch bệnh trong các trang trại .................................................... 49
3.2.8. Công tác xử lý khi có dịch bệnh xảy ra ở các trang trại chăn nuôi ............................ 50
3.2.9. Vấn đề bảo vệ môi trường trong các trang trại ............................................... 51
3.3. Giá trị sản xuất, chi phí, kết quả, hiệu quả sản xuất kinh doanh của các
trang trại trên địa bàn huyện ........................................................................ 52
3.3.1. Giá trị sản xuất bình quân của các mô hình trang trại..................................... 52
3.3.2. Chi phí sản xuất kinh doanh của các trang trại ............................................... 53
3.3.3. Kết quả sản xuất kinh doanh ........................................................................... 54
3.3.4. Hiệu quả sản xuất kinh doanh của các trang trại chăn nuôi trên địa bàn huyện
Yên Lập......................................................................................................... 55
v
3.4. Yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển trang trại chăn nuôi, những thuận lợi,
khó khăn và nguyện vọng để phát triển kinh tế trang trại chăn nuôi
trên địa bàn huyện Yên Lập ......................................................................... 58
3.4.1. Yếu tố ảnh hưởng đến trang trại chăn nuôi ..................................................... 58
3.4.2. Khó khăn thuận lợi trong phát triển trang trại chăn nuôi trên địa bàn ............ 61
3.5. Giải pháp phát triển kinh tế trang trại chăn nuôi................................................ 62
3.5.1. Giải pháp chung .............................................................................................. 62
3.5.2. Giải pháp cụ thể .............................................................................................. 64
ĐVT
Đơn vị tính
GDP
Gross Domestic Products (Tổng sản phẩm quốc nội)
GT
Giá trị
GTSX
Giá trị sản xuất
HĐH
Hiện đại hóa
HTX
Hợp tác xã
KTTT
Kinh tế trang trại
KTTTCN
vii
DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH
Bảng:
Bảng 1.1:
Bảng 1.2:
Bảng 3.1:
Các loại trang trại phân theo vùng, thời điểm 01/10/2014 .................... 18
Số lượng và loại trang trại tỉnh Phú Thọ năm 2014 .............................. 20
Tình hình sử dụng đất đai của huyện Yên Lập năm 2012 đến năm 2014 ... 30
Bảng 3.2:
Bảng 3.3:
Bảng 3.4:
Tình hình dân số và lao động của huyện Yên Lập 2014 ....................... 31
Thực trạng cơ sở hạ tầng của huyện năm 2014 ..................................... 33
Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế trang chăn
Bảng 3.5:
Bảng 3.6:
Bảng 3.7:
nuôi của huyện Yên Lập ........................................................................ 34
Số lượng và cơ cấu các loại hình trang trại trên địa bàn huyện ............ 38
Quy mô đặc điểm các trang trại chăn nuôi năm 2014 ........................... 40
Tình hình nguồn vốn bình quân 1 trang trại năm 2014 ......................... 42
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình phát triển nông nghiệp ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, kinh
tế trang trại (KTTT) là bước phát triển cao có tính quy luật của kinh tế nông hộ, là mô
hình sản xuất đã có từ rất lâu, mang tính phổ biến và giữ vai trò quan trọng. Thực tế
đã chứng minh kinh tế trang trại đã phát huy được vai trò to lớn, tạo ra sức mạnh mới
trong sự nghiệp phát triển nông nghiệp nông thôn, phát triển KTTT đã khai thác sử
dụng có hiệu quả đất đai, vốn, kỹ thuật, kinh nghiệm quản lí góp phần phát triển nông
nghiệp bền vững, khuyến khích làm giàu đi đôi với xoá đói giảm nghèo, phân bổ lại
lao động, dân cư không những vậy mà việc phát triển kinh tế trang trại còn góp phần
vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Ở Việt Nam, tuy KTTT được hình thành chưa lâu, số lượng còn ít nhưng đã
thể hiện tính hơn hẳn so với kinh tế hộ nông dân - nhất là mức độ tích tụ các nguồn
lực, trình độ sản xuất hàng hóa, nhiều giải pháp về quản trị quá trình kinh doanh,...
Nhà nước cũng đã ban hành một số chính sách để khuyến khích phát triển kinh tế
trang trại. Nhưng KTTT ở Việt Nam phát triển còn chậm, năng xuất, chất lượng,
hiệu quả kinh doanh chưa cao, đặc biệt là kinh tế trang trại chăn nuôi (KTTTCN)
còn yếu và ít. Do đó việc tiếp tục nghiên cứu để tìm ra những giải pháp để phát triển
KTTTCN ở nước ta là yêu cầu cấp bách.
Huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ là một địa phương có nhiều tiềm năng phát triển
KTTT, đặc biệt là trang trại chăn nuôi (TTCN). Trong những năm gần đây TTCN
đã và đang phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và quy mô, theo số liệu thống kê đến
tháng 6 năm 2014 toàn huyện có 10 trang trại trong đó có 08 TTCN (đạt tiêu chí
theo Thông tư số 27/2011/TT-BNN&PTNT, ngày 13/4/2011). Kinh tế trang trại
chăn nuôi (KTTTCN) đã cải thiện về thu nhập cho nhiều hộ nông dân, làm thay đổi
bộ mặt của vùng nông thôn, giải quyết công ăn việc làm cho một số người lao động.
Tuy nhiên, nhìn chung quy mô TTCN của huyện Yên Lập còn nhỏ, năng lực
sản xuất được tiến hành trên quy mô tập trung đủ lớn, với cách thức tổ chức, quản
lý tiến bộ và trình độ kỹ thuật cao, hoạt động tự chủ và luôn gắn với thị trường”[9].
- Theo tác giả Lê Trọng (2000): “Kinh tế trang trại (hay kinh tế nông lâm ngư trại)
là một hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của nền sản xuất xã hội, dựa trên cơ sở hợp tác và
phân công lao động xã hội. Bao gồm một số người lao động nhất định được chủ trang
trại tổ chức, trang bị những tư liệu sản xuất kinh doanh, phù hợp với yêu cầu của kinh tế
thị trường và được nhà nước bảo hộ” [17].
Nghị quyết 03/2000/NQ - CP ngày 02/02/2000 của Chính phủ về kinh tế trang
trại đã ghi rõ: “Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá trong nông
nghiệp, nông thôn, chủ yếu dựa vào hộ gia đình, nhằm mở rộng quy mô và nâng cao
hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, trồng
rừng, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông, lâm, thuỷ sản” [5].
Trang trại là loại hình cơ sở sản xuất nông nghiệp của các hộ gia đình
nông dân, hình thành và phát triển chủ yếu trong điều kiện kinh tế thị trường
khi phương thức sản xuất tư bản thay thế phương thức sản xuất phong kiến.
Để hiểu hơn về khái niệm kinh tế trang trại, trước hết cần phân biệt các thuật
ngữ “trang trại” và “kinh tế trang trại”. Trong tiếng Việt hiện nay hai thuật ngữ này
trong nhiều trường hợp được sử dụng không phân biệt, tuy nhiên về thực chất
“trang trại” và “kinh tế trang trại” là hai khái niệm không đồng nhất.
4
Kinh tế trang trại là tổng thể các yếu tố vật chất của sản xuất và các quan hệ
kinh tế nảy sinh trong quá trình tồn tại và hoạt động của trang trại. Còn trang trại là
nơi kết hợp các yếu tố vật chất của sản xuất và là chủ thể của các quan hệ kinh tế
đó. Điểm chung của những khái niệm trên cho thấy kinh tế trang trại là kinh tế hộ
nông dân sản xuất hàng hoá, nhưng quy mô sản xuất hàng hoá đó phải đạt tới một
mức độ tương đối lớn. Như vậy, trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá
dựa trên cơ sở lao động, đất đai, tư liệu sản xuất cơ bản của hộ gia đình, hoàn toàn
kinh tế của các tổ chức sản xuất hoạt động kinh doanh nông nghiệp, xét ở phạm vi
chăn nuôi. Bao gồm các hoạt động trước và sau sản xuất nông sản hàng hoá xung
quanh các trục trung tâm là hệ thống các trang trại chăn nuôi ở các vùng kinh tế
khác nhau.
KTTTCN cũng được mang nhiều khái niệm khác nhau, nhưng có thể đúc kết lại
rằng kinh tế trang trại chăn nuôi là một hình thức tổ chức sản xuất cơ sở trong nông
nghiệp với mục đích chủ yếu là sản xuất hàng hoá như: thịt, trứng, sữa,…Với qui mô
đất đai, các yếu tố sản xuất đủ lớn, có trình độ kỹ thuật cao, có tổ chức và quản lý tiến
bộ, có hạch toán kinh tế như các doanh nghiệp.
1.1.2. Các đặc trưng chủ yếu của kinh tế trang trại chăn nuôi
- Kinh tế trang trại chăn nuôi sản xuất các sản phẩm thịt, trứng, sữa,… trong
điều kiện kinh tế thị trường thời kỳ công nghiệp hoá nên mọi hoạt động sản xuất
kinh doanh đều xuất phát nhu cầu thị trường. Chính vì vậy tất cả các yếu tố đầu vào
như vốn, lao động, giống, khoa học công nghệ,… cũng như các yếu tố đầu ra như
sản phẩm thịt, trứng, sữa,… đều là sản phẩm hàng hoá.
- Do đặc trưng sản xuất hàng hoá ngành chăn nuôi chi phối mà phải đòi hỏi tạo
ra ưu thế cạnh tranh trong sản xuất và kinh doanh, để thực hiện yêu cầu tái sản xuất
mở rộng, hoạt động kinh tế trang trại chăn nuôi theo xu thế tích tụ, tập trung sản
xuất kinh tế ngày càng cao, tạo ra tỷ xuất hàng hoá cao, khối lượng hàng hoá
ngày càng nhiều, chất lượng tốt. Đi đôi với việc tập trung, nâng cao năng lực sản
xuất của từng trang trại còn diễn ra xu thế tập trung các trang trại thành các vùng
chuyên môn hoá về từng loại như vùng chuyên canh nuôi đại gia súc như: trâu,
bò,… vùng chuyên nuôi lợn nái sinh sản, lợn thịt, sữa với mục đích tạo ra khối lượng hàng hoá lớn.
- Kinh tế trang trại chăn nuôi là một nền tảng lớn của một hệ thống kinh tế
trang trại nói chung, là một bộ phận của nền sản xuất trong nông nghiệp, khác với
các ngành sản xuất khác: Lâm nghiệp hay Thuỷ sản phụ thuộc nhiều vào điều kiện
đất đai, khí tượng và thời tiết nhưng đối với chăn nuôi đó chỉ là những ảnh hưởng
6
nghiệp sang các ngành phi nông nghiệp, thúc đẩy tiến trình công nghiệp hoá nông
nghiệp, nông thôn.
7
* Vai trò của kinh tế trang trại nói chung
- Vai trò thúc đẩy sản xuất hàng hoá phát triển, góp phần đưa sản xuất nông
nghiệp lên công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
- Vai trò chuyển dịch cơ cấu kinh tế và hình thành quan hệ sản xuất mới trong
nông nghiệp và nông thôn.
- Vai trò huy động, khai thác các nguồn lực trong dân, giải quyết việc làm cho
lao động xã hội, làm giàu cho nông dân, cho đất nước.
- Vai trò sử dụng hiệu quả và bảo vệ tài nguyên đất đai.
- Vai trò hợp tác, liên kết giữa các trang trại với nhau và với kinh tế nhà nước về
nhiều mặt để có sức cạnh tranh trên thị trường và cùng nhau chung sức giải quyết các
nhu cầu xã hội.
* Vai trò của kinh tế trang trại chăn nuôi nói riêng
KTTTCN là một bộ phận của KTTT, nó mang đầy đủ các tính chất, vai trò của
KTTT trong lĩnh vực chăn nuôi, có nhiệm vụ tạo ra năng lực sản xuất cao về nông
sản hàng hoá mà chủ yếu là sản phẩm thịt, trứng, sữa,… Nó đóng góp 25% GDP
cho ngành nông nghiệp và còn quyết định tính ổn định của nền kinh tế.
1.1.4. Một số các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển của hệ thống trang trại nói
chung và trang trại chăn nuôi nói riêng
* Các nhân tố chủ quan
Điều kiện về kinh tế - xã hội: Các yếu tố về dân số, lao động, truyền thống văn
hóa, nguồn vốn đầu tư, thị trường nông nghệ sản phẩm, trình độ phát triển kết cấu
hạ tầng, trình độ khoa học công là các nhân tố ảnh hưởng trực tiếp và có tính quyết
định đến quá trình sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất và
tiêu thụ sản phẩm hàng hóa nông sản của các trang trại.
hầu hết số lao động đều chưa qua đào tạo, trình độ kỹ thuật còn hạn chế, do đó ảnh
hưởng rất lớn tới việc áp dụng KHKT vào sản xuất, hạn chế sự phát triển của các
trang trại, hạn chế khâu vệ sinh và bảo vệ môi trường.
* Các nhân tố khách quan
Điều kiện tự nhiên: Vị trí địa lý; điều kiện thời tiết, khí hậu; điều kiện đất đai;
môi trường sinh thái đều có ảnh hưởng đến quá trình hình thành và phát triển của
các loại hình kinh tế trang trại nói chung và trang trại chăn nuôi nói riêng.
Môi trường pháp lý: Các chính sách về đất đai; chính sách thuế; chính sách
lao động; chính sách khoa học kỹ thuật, công nghệ, môi trường; chính sách thị
9
trường, chính sách bảo hộ tài sản đã đầu tư của trang trại là những chính sách hết
sức quan trọng trực tiếp tác động vào quá trình hình thành và phát triển của các
trang trại.
- Nhân tố môi trường.
+ Khí hậu (nhiệt độ, độ ẩm, thời tiết…): Ảnh hưởng trực tiếp tới sự sinh trưởng và
phát triển của vật nuôi, tới việc bảo quản thức ăn, nguy cơ bùng phát dịch bệnh…
+ Dịch bệnh: Dịch bệnh ảnh hưởng trực tiếp tới sự tồn tại và phát triển của mỗi
trang trại. Nếu trang trại phòng trừ và chữa trị tốt vật nuôi khỏe mạnh lớn nhanh sẽ
đem lại lợi nhuận lớn cho trang trại. Tuy nhiên nếu không có biện pháp phòng trừ
hợp lý để dịch bệnh lây lan trên diện rộng không những làm thiệt hại cho trang trại
mà còn ảnh hưởng tới các trang trại xung quanh, cũng như vấn đề vệ sinh môi
trường khu vực lân cận.
+ Chính sách của nhà nước: Các chủ trương chính sách hợp lý thông thoáng sẽ
kích thích sự phát triển của hệ thống trang trại, tăng cường lưu thông hàng hóa phát
triển kinh tế xã hội. Tuy nhiên do còn nhiều vướng mắc chưa được tháo gỡ, các quy
định của cơ quan nhà nước như thú y, kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm, chất
lượng thức ăn gia súc còn những bất cập chưa tạo điều kiện cần và đủ để trang trại
Thái Nguyên, ngày 25 tháng 12 năm 2015
TÁC GIẢ
Đinh Ngọc Tưởng
11
1.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài
1.2.1. Tình hình phát triển trang trại chăn nuôi trên thế giới
Lương thực, thực phẩm và vệ sinh an toàn thực phẩm là vấn đề sống còn của
nhân loại. Ngày nay nông nghiệp có vai trò quan trọng cung cấp lương thực và các
loại thực phẩm nuôi sống cả nhân loại trên trái đất. Ngành chăn nuôi không chỉ có
vai trò cung cấp thịt, trứng, sữa là các thực phẩm cơ bản cho dân số của cả hành tinh
mà còn góp phần đa dạng nguồn giene và đa dạng sinh học trên trái đất. Do đó chăn
nuôi trang trại đã được khẳng định là mô hình sản xuất phù hợp và đạt hiệu quả
kinh tế trong sản xuất của ngành chăn nuôi. Tuy nhiên, do đặc thù của mỗi quốc gia,
kinh tế trang trại chăn nuôi rất đa dạng cả về hình thức quản lý, quy mô và cơ cấu
sản xuất.
Ở hầu hết các nước, trang trại chăn nuôi là hình thức sản xuất giữ vị trí xung
kích trong quá trình công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn và trở thành lực lượng
chủ lực khi nền kinh tế phát triển đến giai đoạn cao. Thực tiễn đã chứng minh rằng
kinh tế trang trại có vai trò quan trọng ở các nước đang phát triển (Hàn Quốc, Đài
Loan,…) và đang tiếp tục phát huy tác dụng ở những nước có nền kinh tế phát triển
cao (Mỹ, Tây Âu, Nhật Bản,…). Kinh tế trang trại gia đình đã thể hiện rõ vai trò
tích cực trong quá trình phát triển nông nghiệp thế giới, thúc đẩy ngành sản xuất
nông sản hàng hoá và đưa nền nông nghiệp tiến lên hiện đại.
Kinh tế trang trại phát triển mạnh ở thời kỳ các nước tiến hành công nghiệp
hoá, khi công nghiệp phát triển thì số lượng trang trại có xu hướng giảm dần và quy
mô trang trại có xu hướng tăng lên cụ thể.
ha chiếm 35,6%.
- Ở Inđônêsia, năm 1963 có 744.000 trang trại với diện tích bình quân là 1,20
ha/trang trại đến năm 1973 có 808.000 trang trại với diện tích bình quân là 1,14
ha/trang trại/ đến năm 1983 có 916.000 trang trại với diện tích bình quân là 0,95
ha/trang trại
- Ở Thái Lan, năm 1963 có 3.124.000 trang trại với diện tích bình quân là 0,55
ha/ trang trại đến năm 1978 có 4.018.000 trang trại với diện tích bình quân là 0,8
ha/trang trại.
Theo số liệu thống kê của Tổ chức Nông lương thế giới - FAO năm 2009 số
lượng đầu gia súc và gia cầm chính của thế giới như sau: Tổng đàn trâu 182,2 triệu
13
con và trâu phân bố chủ yếu ở các nước Châu Á, tổng đàn bò 1.164,8 triệu con, dê
591,7 triệu con, cừu 847,7 triệu con, lợn 887,5 triệu con, gà 14.191,1 triệu con và
tổng đàn vịt là 1.008,3 triệu con... Tốc độ tăng về số lượng vật nuôi hàng năm của
thế giới trong thời gian vừa qua thường chỉ đạt trên dưới 1% năm.
Các quốc gia có số lượng vật nuôi lớn là:
Đàn bò: Nhiều nhất là Brazin 204,5 triệu con, thứ hai là Ấn Độ 172,4 triệu, thứ
ba là Hoa kỳ 94,5 triệu, thứ tư là Trung Quốc 92,1 triệu, thứ năm Ethiopia và thứ
sáu Argentina có trên 50 triệu con.
Đàn trâu: Nhiều nhất là Ấn Độ 106,6 triệu con (chiếm trên 58% tổng số trâu
của thế giới), thứ hai Pakistan 29,9 triệu trâu, thứ ba Trung Quốc 23,7 triệu con, thứ
tư Nepan 4,6 triệu con, thứ năm Egypt 3,5 triệu, thứ sáu Philippine 3,3 triệu con và
Việt Nam đứng thứ 7 thế giới đạt 2,8 triệu con .
Đàn lợn: Số một là Trung Quốc 451,1 triệu con, thứ hai Hoa Kỳ 67,1 triệu, thứ
ba Brazin 37,0 triệu, Việt Nam đứng thứ 4 có 27,6 triệu con và thứ năm Đức 26,8
triệu con lợn.
Đàn gà: Số một Trung Quốc 4.702,2 triệu con, thứ hai Indonesia 1.341,7 triệu,
mô và phổ cập chăn nuôi hữu cơ.
Theo Tổ chức Nông Lương Liên hợp quốc (FAO), nhu cầu về sản phẩm chăn
nuôi như thịt, trứng, sữa của toàn cầu tăng lên hàng năm do dân số tăng và thu nhập
tăng, mức sống tăng cao. Sản phẩm chăn nuôi chủ yếu của thế giới là thịt, trứng và
sữa. Tổng sản lượng thịt khoảng 281 triệu tấn thịt sản xuất hàng năm, trong đó thịt
bò, thịt lợn và gia cầm chiếm vị trí quan trọng nhất về số lượng. Với tổng sản lượng
sữa trên 696 triệu tấn năm, sữa bò chiếm 80% tổng sản lượng sữa, sau đó là sữa dê
15% và các loại sữa khác 5%. Với dân số thế giới trên 6,7 tỷ người như hiện nay thì
bình quân đầu người hàng năm là 102,7 kg sữa. Tốc độ tăng về số lượng vật nuôi
hàng năm của thế giới trong thời gian vừa qua thường chỉ đạt trên dưới 1% năm,
trong khi đó dự báo mỗi năm dân số thế giới tăng 0,7-0,8 triệu, nếu không chú ý tới
phát triển chăn nuôi, cũng như phát triển KTTTCN thì nguy cơ gia tăng tỷ lệ đói
nghèo trên toàn cầu là khó tránh khỏi (FAO).
1.2.2. Tình hình phát triển kinh tế trang trại chăn nuôi trong nước
Khoảng 10 năm gần đây, một sự bứt phá của ngành chăn nuôi là có sự chuyển
đổi từ chăn nuôi tự cung, tự cấp, nhỏ lẻ phân tán sang chăn nuôi trang trại tập trung,
tiếp cận dần tới công nghiệp hóa chăn nuôi. Đây có thể coi là bước đột phá mới trong
phát triển của ngành chăn nuôi. Chăn nuôi trang trại (TT) phát triển sẽ đáp ứng nhu
cầu thị trường ngày càng nhiều và đa dạng của nhân dân về sản phẩm chăn nuôi, nâng
15
cao tính cạnh tranh năng suất, chất lượng sản phẩm chăn nuôi, tăng cường khả năng
tiếp thu công nghệ, tiên bộ khoa học mới, là nhân tố sức mạnh thúc đẩy ngành chăn
nuôi phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Chăn nuôi theo quy mô
trang trại đã và đang là xu hướng phát triển tất yếu của ngành chăn nuôi. Bởi vì chăn
nuôi trang trại mới cho được số lượng sản phẩm lớn, mới đủ khả năng và thông số
mẫu đủ lớn để áp dụng các tiến bộ khoa học, các công nghệ phục vụ chăn nuôi cao
sản, kiểm soát dịch bệnh dễ dàng hơn so với chăn nuôi phân tán nhỏ lẻ. Từ đó nâng
chiếm 40% tổng số TTTT cả nước) và lợn (7.038 TT chiếm 32,8%). Chăn nuôi gia
cầm được xếp hạng thứ ba với 3.721 trang trại chiếm 17,3% tổng số TT toàn quốc.
Chăn nuôi dê mới được chú trọng nhưng số lượng trang trại là 1.449 chiếm 6,75%,
cao hơn 418 trang trại trâu (chiếm có 1,94%), còn lại là 250 trang trại ong và 1 trang
trại gấu theo đúng tiêu chí xác định trang trại của Thông tư 69. Chăn nuôi TT chủ yếu
tập trung ở miền Nam với 12.332 TT (57,43%). Các vùng có chăn nuôi TT phát triển
là Đông Nam bộ (7.645 TT- 35,6%), Bắc Trung bộ (4.464 TT, chiếm 20,79%), vùng
ĐBSH (3.257 TT, chiếm 15,17%) và vùng Duyên hải Nam Trung hộ (2.608 TT,
chiếm 12,14%). Thấp nhất cả nước là vùng Tây Bắc với 577 trang trại chăn nuôi tập
trung, chiếm 2,68% tổng số TT chăn nuôi trên toàn quốc.
Chăn nuôi TT cũng không ngừng được tăng nhanh về số lượng và vốn đầu tư
trên khắp các vùng miền trong cả nước. Ví dụ, chăn nuôi TT ở tỉnh Thái Bình (hiện
có 507 TT) đã tăng gấp 3,7 lần so với năm 2003. Sự tăng trưởng của TT chăn nuôi
đạt cả về số lượng, quy mô và chủng loại gia súc. Mức tăng trưởng về TT chăn nuôi ở
Bình Thuận còn đạt tới 6,2 lần với từ 110 TT năm 2001 thì đến năm 2005 đã lên tới 684
trang trại chăn nuôi, chiếm 36,3% tổng số TT trong phạm vi toàn tỉnh.
Chăn nuôi trang trại đã góp phần khai thác và sử dụng có hiệu quả diện tích
đất đồi gò, đất hoang hóa, đất ven sông ven biển và diện tích mặt nước ,tạo ra những
vùng sản xuất tập trung với khối lượng hàng hóa lớn, thúc đẩy quá trình chuyển đổi
cơ cấu cây trồng, vật nuôi, tạo điều kiện cho công nghiệp chế biến, giết mổ phát
triển. Đồng thời với việc mở rộng về số lượng và quy mô chăn nuôi, loại hình chăn
nuôi trang trại, tập trung đã góp phần tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người
sản xuất. Chăn nuôi TT đã thu hút nhiều thành phần kinh tế tham gia đầu tư như
nông dân, cán bộ, công chức, người đã nghỉ hưu, các doanh nhân trong và ngoài
nước. Cùng với sự phát triển chăn nuôi trang trại đã hình thành các phương thức tổ
chức sản xuất mới trong ngành chăn nuôi như HTX sản xuất dịch vụ, liên minh
HTX, câu lạc bộ trang trại. Các loại hình sản xuất này đã góp phần củng cố và thúc
đẩy chăn nuôi trang trại phát triển có hiệu quả, bền vững.