ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐÀO THANH HẢI
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ MỘT SỐ MÔ HÌNH
NÔNG LÂM KẾT HỢP TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN MAI SƠN, TỈNH SƠN LA
Ngành : Phát triển nông thôn
Mã số: 60.62.01.16
LUẬN VĂN THẠC SĨ ^
PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Dương Văn Sơn
Thái Nguyên - 2015
3
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả
nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công
trình nghiên cứu nào khác.
rp r _
•2
luyện
đã
có
với tất cả
những cố gắng
năng
học
tập
và rèn
lực, sự
nhiệt tình và say mê nhưng do hạn chế về trình độ và thời gian nên luận văn không
tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng
góp xây dựng quý báu của các nhà khoa học cùng bạn bè đồng nghiệp để luận văn
4
được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2015
Tác giả
SALT
UBND
Nông lâm kết hợp
Nông nghiệp phát triển nông thôn
Phương thức canh tác
Paticipatory Rural Appasaisal - Phương pháp đánh giá
nhanh nông thôn có sự tham gia của cộng đồng
System Agro Land Technogogy - Hệ thống canh tác
trên đất dốc
Ủy ban nhân dân
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
DANH MỤC CÁC HÌNH
6
MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
Trong những năm qua do áp lực về dân số và để đảm bảo nhu cầu đời sống
trước mắt của mình, con người đã khai thác cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên để
đảm bảo cho nhu cầu cuộc sống hàng ngày bất chấp quy luật khách quan làm diện
tích rừng ngày càng bị thu hẹp. Đất rừng chuyển sang canh tác nông nghiệp đã làm
phá vỡ tính cân bằng vốn có của nó, môi trường suy thoái, hạn hán lũ lụt xảy ra ở
nhiều nơi, xói mòn rửa trôi đất diễn ra mạnh làm giảm độ phì nhiêu của đất. Năng
suất cây trồng ngày một giảm khiến đời sống của người dân gặp nhiều khó khăn. Từ
thực trạng trên đòi hỏi con người phải biết giải quyết một cách khoa học mối quan
ao - chuồng (VAC) vườn cây ăn quả,... Các mô hình nông lâm kết hợp đựơc mở
rộng cả về quy mô và chiều sâu, nhiều vùng miền núi đã từng bước phát triển cả về
kinh tế cũng như trình độ dân trí. Cũng như nhiều quốc gia khác trên thế giới, tập
quán NLKH đã có ở Việt Nam
từ lâu đời, như các hệ thống canh tác nương rẫy
truyền thống của đồng bào các dân tộc ít người, hệ sinh thái vườn nhà ở nhiều vùng
địa lý sinh thái trên khắp cả nước,... Làng, bản truyền thống của người Việt cũng có
thể xem là hệ thống NLKH bản địa với nhiều nét đặc trưng về cấu trúc và các dòng
chu chuyển vật chất và năng lượng. Trong những năm gần đây, để đảm bảo vấn đề
an ninh lương thực trên cả nước, các hệ thống NLKH bắt đầu được chú trọng và phát
triển. Sự kết hợp giữa cây trồng dài ngày với cây lương thực, giữa cây công nghiệp
như chè, cà phê với cây ăn quả, cây che bóng, cây lấy gỗ..., đã phát huy được tác
dụng trong bảo vệ môi trường đất, tăng thêm nguồn thu nhập cho
người dân.
Mai Sơn là huyện trọng điểm về phát triển nông nghiệp của tỉnh Sơn La, đây
là nơi sinh sống của nhiều đồng bào dân tộc anh em như: Kinh, Thái, Mông, Sinh
Mun,... với nhiều phương thức canh tác sử dụng đất trồng khác nhau. Với diện tích
rộng 143.247 ha, hiện nay huyện Mai Sơn chia thành 21 xã và 01 thị trấn, với 151,4
nghìn người sinh sống (dân số khu vực thành thị chiếm 11,22%, nông thôn chiếm
88,78%) (Tính đến thời điểm tháng 12 năm 2014). Trước áp lực về sự gia tăng dân
số trong khi diện tích đất canh tác không đổi, đòi hỏi cần phải có giải pháp nhằm
tăng hiệu quả kinh tế trên cùng một diện tích đất đai có sẵn, chính quyền và nhân
dân trong huyện cũng tích cực áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất,
đặc biệt các mô hình NLKH cũng được hình thành, tạo nên sự đa dạng về các hệ
thống NLKH trên địa bàn.
Bên cạnh những hiệu quả đã đạt được khi áp dụng phương thức canh tác
NLKH, cũng như nhiều vùng trên cả nước, huyện Mai Sơn cũng gặp không ít những
vấn đề còn tồn tại như: đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, sản xuất nông
2.1.
Mục tiêu tổng quát
Mục tiêu chung của đề tài là xác định được mô hình NLKH dựa trên cơ sở
cây cà phê có hiệu quả và phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội tại địa
bàn nghiên cứu.
2.2.
Mục tiêu cụ thể
Để đạt được mục tiêu chung đó, đề tài xác định mục tiêu cụ thể như sau:
-
Thứ nhất là điều tra, xác định và phân loại các hệ thống canh tác nông lâm
kết hợp, các mô hình NLKH dựa trên cơ sở là cây cà phê hiện có tại địa bàn
nghiên cứu.
-
Thứ hai là phân tích đặc điểm và đánh giá hiệu quả các phương thức canh tác
nông lâm kết hợp, các mô hình nông lâm kết hợp tiêu biểu liên quan đến cây
Cà phê tại địa phương.
9
- Và cuối cùng dựa trên các phân tích hiện trạng các hệ thống NLKH
dựa
trên cơ sở cây Cà phê đề xuất các giải pháp bổ sung, hoàn thiện và nhân rộng các
để sản xuất ra sản phẩm chung của hệ thống, khác với kết quả riêng lẻ của từng yếu
tố [8].
Hệ thống canh tác (HTCT) là một phạm trù rất rộng lớn, có rất nhiều khái
niệm về hệ thống canh tác, điển hình có một số khái niệm sau:
Theo Nguyễn Văn Hiền (2007),“hệ thống canh tác ” là thể thống nhất hoạt
động của con người sử dụng tài nguyên (sinh học, tự nhiên, kinh tế, xã hội) trong
một phạm vi nhất định để tạo ra sản phẩm thỏa mãn nhu cầu ăn, mặc của con người
(bản thân, gia đình, cộng đồng và xã hội) [5].
Hệ thống canh tác là một phức hợp của đất đai, cây trồng, vật nuôi, lao động
và các nguồn lợi đặc trưng khác trong một ngoại cảnh mà các nông hộ quản lý theo
sở thích khả năng và kỹ thuật có thể có. Hệ thống canh tác (Farming System) là sự
bố trí một cách thống nhất và ổn định các ngành trong nông trại, được quản lý bởi
các hộ gia đình trong môi trường tự nhiên, sinh học và kinh tế xã hội, phù hợp với
mục tiêu mong muốn và nguồn lực của nông hộ.
Phạm Chí Thành và Cs (1994) cho rằng hệ thống cây trồng gồm hệ thống
không gian và thời gian với hệ thống biện pháp kỹ thuật được thực hiện nhằm đạt
năng suất cây trồng cao và nâng cao độ phì nhiêu của đất đai. Trong hệ thống canh
tác thì luân canh cây trồng là biện pháp hữu hiệu nhất, các chế độ canh tác như bón
phân tưới nước, làm đất bao giờ cũng phải căn cứ vào hệ thống cây trồng [11].
1.1.2.
Đặc điểm và thuộc tính của HTCT
Đặc điểm của HTCT: Bất kỳ HTCT nào cũng có những đặc điểm sau:
-
Có mục tiêu chung: các thành phần trong hệ thống có cùng chung mục tiêu,
từ đó chức năng hoạt động của từng thành phần được xác định rõ hơn.
không gian do bị tác động của môi trường. Khi các thành phần thay đổi, hệ
thống cũng thay đổi theo.
Thuộc tính của HTCT
-
Sức sản xuất: là khả năng sản xuất ra giá trị sản phẩm trên một đơn vị tài
nguyên (đất, lao động, năng lượng, tiền vốn,..). Đơn vị đo lường có thể là
tấn/ha, kg/ngày công, kg/đồng,... Sức sản xuất của 1 HTCT có thể tăng, có thể
giảm hay cân bằng theo thời gian.
-
Khả năng sinh lợi nhuận: là hiệu quả kinh tế (cho người sản xuất và xã hội)
của một HTCT.
-
Tính ổn định: của một HTCT là khả năng duy trì sức sản xuất khi có rủi ro
như thay đổi điều kiện thời tiết, điều kiện kinh tế thị trường,...
-
Tính
hệ
bền vững: của một HTCT là khả năng duy trì sức sản xuất của
thống trong một thời gian dài khi chịu tác động của môi trường. Một hệ thống được
hệ thống là một vấn đề phổ biến trên thế giới nhằm phát triển nông nghiệp một cách
toàn diện, sử dụng một cách hữu hiệu các nguồn lực tại chỗ, hạn chế việc khai thác
quá mức tài nguyên thiên nhiên dẫn đến huỷ hoại môi trường sinh thái. Nghiên cứu
hệ thống góp phần tạo điều kiện cho các thành phần của hệ thống có cơ hội tác động
qua lại lẫn nhau, thúc đẩy lẫn nhau phát triển, tránh được tình trạng thành phần này
cản trở sự phát triển của thành phần khác.
HTCT Taungya (Taungya system) được bắt đầu vào năm 1856 ở Myanma.
Nhà nước đã cho trồng cây gỗ Tếch kết hợp trồng cây lúa cạn, ngô trong 2 năm đầu
khi rừng chưa khép tán. Mục tiêu chính của hệ thống này là khôi phục lại rừng bị tàn
phá, sản xuất lương thực là thu nhập phụ. Đây là dạng mô hình chuyển tiếp từ canh
tác nương rẫy sang canh tác NLKH (dẫn theo Phạm Xuân Hoàn, 1996) [6].
HTCT Ifugao trên dải núi cao ở Philippin, do Clofsam (1984) mô tả là HTCT
của người dân tộc Ifugao, họ biết canh tác lúa nước ở ruộng có hệ thống nước tưới
kết hợp trồng cây lấy gỗ, lấy củi, cây ăn quả và cây thuốc. HTCT hỗn hợp đã giúp
giữ được nước chống xói mòn và sạt lở đất (dẫn theo Viện Khoa học kỹ thuật nông
nghiệp, 1996) [15]. Ở Thái Lan, Hoey. M (1990) đưa ra mô hình sử dụng đất dốc
nhấn mạnh việc canh tác trên đường đồng mức, trồng cỏ thành băng, hạn chế làm đất
đến
mức tối thiểu góp phần phát triển nông lâm nghiệp ổn định trên đất dốc
dưới 200. Những kết quả nghiên cứu ở Kanđihult Bắc Thái Lan trồng cây ăn quả,
cây cà phê theo băng kết hợp với bón phân đã cho hiệu quả kinh tế cao và có tác
dụng cải tạo nâng cao độ phì của đất (trích dẫn theo Thái Phiên, Nguyễn Tử Siêm,
1999) [9].
Khi phân tích các HTCT theo mô hình nông lâm kết hợp, chăn thả,...
Agbool.A (1990) đã cho rằng hệ thống đa dạng hoá cây trồng là tốt nhất. Việc sử
dụng đất dốc để trồng các loài cây nào còn tuỳ thuộc vào các yếu tố khác như mưa
phiến thạch sét và phù sa cổ, là biện pháp giải quyết phân bón tại chỗ có hiệu quả
cao để thâm canh tăng năng suất sắn trên đất dốc.
Theo Nguyễn Tử Siêm và Thái Phiên (1999), đối với vùng cao, dân cư thưa,
trình độ dân trí thấp, sản xuất còn ở mức thô sơ, cơ sở hạ tầng thấp, an toàn lương
thực là vấn đề cấp bách vì vậy các mô hình canh tác có triển vọng là trồng cây đặc
sản, cây ăn quả, cây dược liệu phối hợp với bảo vệ rừng đầu nguồn, cây trồng dưới
tán rừng lâu năm, hạn chế du canh, chuyển đổi du canh thành nương định canh với
các loài cây họ đậu cải tạo đất [9].
Tác giả Vũ Biệt Linh, Nguyễn Ngọc Bình (1995) cho rằng cơ cấu cây trồng
được chọn vào mô hình NLKH bao gồm: cây phòng hộ (Muồng đen, Keo dậu, So
đũa, Phi lao, Keo lá tràm,...); cây dài ngày (Chè, Cà phê, Trám, Hồ tiêu, cây ăn
quả,...); cây ngắn ngày (Lúa nước, Ngô, Lúa nương, cây có củ, đậu đỗ,.) và sắp xếp
như sau:
-
Đất dốc trên 250 - 300 tốt nhất là để rừng che phủ, rừng cây rậm kín, hỗn giao
nhiều tầng tán, nhiều cỏ cây trong đó phải có những cây gỗ lớn với số lượng
đông đủ sẽ là chủ thể trong hệ sinh thái rừng và đất dốc.
-
Đất dốc từ 150 - 250, có thể tạo ra quần xã thực vật theo kiểu vườn rừng với tỷ
lệ cây to khoảng 30% - 40 % còn lại là cây phòng hộ và mương máng giữ đất,
giữ nước.
-
Đất dốc dưới 150 nếu sườn đồi ngắn nên san bằng thành ruộng bậc thang ở
phía dưới, có rừng ở phía trên càng tốt. Có thể sử dụng 60% - 70% đất nông
Tình hình nghiên cứu và phát triển hệ thống nông lâm kết hợp
1.2.1.
Khái niệm và đặc điểm chung về hệ thống nông lâm kết hợp
1.2.1.1.
Khái niệm
Nông lâm kết hợp và một lĩnh vực khoa học mới đã được đề xuất vào thập
niên 60 bởi Keng (1969). Qua nhiều năm, nhiều khái niệm khác nhau được phát triển
để diễn tả hiểu biết rõ hơn về nông lâm kết hợp. Hiện nay có rất nhiều các khái niệm
khác nhau về nông lâm kết hợp [10].
Theo Bene và các cộng sự (1977), Nông lâm kết hợp là một hệ thống quản lý
đất vững bền làm gia tăng sức sản xuất tổng thể của đất đai, phối hợp sản xuất các
loại hoa màu (kể cả cây trồng lâu năm), cây rừng và /hay với gia súc cùng lúc hay kế
tiếp nhau trên một diện tích đất và áp dụng các biện pháp canh tác tương ứng với
điều kiện văn hóa xã hội của dân cư đia phương.
Theo PCARRD (1979), Nông lâm kết hợp là một hệ thống quản lý đất đai
trong đó các sản phẩm của rừng và trồng trọt được sản xuất cùng một lúc hay kế tiếp
nhau trên các diện tích đất thích hợp để tạo ra các lợi ích kinh tế, xã hội, sinh thái
cho cộng đồng dân cư tại địa phương.
Theo Lundgren và Raintree (1983), Nông lâm kết hợp và tên chung của
những hệ thống sử dụng đất trong đó các cây lâu năm (cây gỗ, cây bụi, cọ tre, cây ăn
quả, cây công nghiệp,...) được trồng có suy tính trên cùng một đơn vị diện tích quy
hoạch đất với hoa màu và/hoặc với vật nuôi dưới dạng xen theo không gian hay xen
ví dụ, có những tính chất đặc trưng cho sự vật gốc mà mô hình đó biểu diễn; theo
nghĩa thứ hai, thì mô hình là một
biểu diễn cho các phần quan trọng của một hệ
thống (có sẵn hoặc sắp được xây dựng) với mục đích nghiên cứu hệ thống đó [15].
* Mô hình NLKH: Mô hình NLKH có thể được hiểu là một đại diện thu nhỏ
của một hệ thống canh tác NLKH, có những thành phần cây trồng được bố trí theo
không gian và thời gian giống với hệ thống, có thể đã có sẵn hoặc sắp được xây
dựng với mục đích nghiên cứu hệ thống đó.
1.2.1.2.
Đặc điểm chung của hệ thống nông lâm kết hợp
Hệ canh tác sử dụng đất được gọi là nông lâm kết hợp cần có các đặc điểm
sau:
-
Hệ thống NLKH thường gồm hai hay nhiều hơn hai loài thực vật (có thể cả
thực vật và động vật) trong đó có ít nhất phải có một loài cây trồng lâu năm.
-
Có ít nhất hai hay nhiều hơn sản phẩm từ hệ thống.
-
Chu kỳ sản xuất thường dài hơn là một năm.
-
Tạo nên một hệ thống quản lý đất đai bền vững.
-
Gia tăng năng suất và dịch vụ trên một đơn vị diện tích sản xuất.
-
Sắp xếp hoa màu canh tác phù hợp giữa các thành phần cây lâu năm, hoa
màu và/hoặc vật nuôi theo không gian trên cùng một diện tích đất.
-
Đóng góp vào phát triển cho các cộng đồng dân cư về các mặt dân sinh, kinh
tế và hoàn cảnh sinh thái mà vẫn tương thích với các đặc điểm văn hóa xã hội
của địa phương.
-
Kỹ thuật mang đậm nét bảo tồn những yếu tố sinh thái môi trường.
1.2.2.
Tình hình nghiên cứu và phát triển NLKH trên thế giới
Canh tác cây thân gỗ kết hợp với cây trồng nông nghiệp trên cùng một đơn vị
diện tích là tập quán sản xuất lâu đời của nhân dân ở nhiều nơi trên thế giới. Chính
vì vậy khó có thể xác định một cách chính xác thời điểm mà tại đó cội nguồn của các
hệ thống NLKH ra đời.
Như vậy sự hình thành các hệ thống NLKH cận đại gắn liền với sự
Phi có phần khác biệt hơn, ở phía Nam Nigeria người ta trồng Khoai, Ngô, Bí ngô và
Đậu với nhau được sự che chở của tầng cây gỗ (Forde - 1937) [15].
NLKH mang đặc điểm chủ yếu là hệ thống có hai hay nhiều loài cây nhưng ít
nhất phải có một loài cây thân gỗ có chu kỳ kinh doanh dài hơn một năm, sản phẩm
của
hệ thống luôn đa dạng có hai hoặc nhiếu sản phẩm đầu ra. Hệ thống
NLKH dù đơn giản nhất cũng phức tạp hơn hệ thống độc canh về cả phương diện
kinh tế học và sinh thái học. NLKH có vai trò quan trọng hạn chế suy giảm tài
nguyên rừng, bảo vệ và nâng cao độ phì của đất. Chính vì vậy mà ngay từ các kỳ
họp năm 1967 và 1969 của tổ chức lương thực và nông nghiệp thế giới (FAO) đã
quan tâm đền vấn đề này và đi đến một sự thống nhất đúng đắn là áp dụng các biện
pháp NLKH là phương pháp tốt nhất để sử dụng đất rừng nhiệt đới một cách hợp lý,
tổng hợp nhằm giải quyết vấn đề về lương thực, thực phẩm và sử dụng lao động dư
thừa đồng thời thiết lập lại cân bằng sinh thái của môi sinh [3].
Năm 1977, Hội đồng quốc tế về nghiên cứu NLKH được thành lập, năm
1991 đổi thành trung tâm quốc tế nghiên cứu nông lâm kết hợp (ICRAF). Nhờ có sự
quan tâm đầu tư nghiên cứu và tuyên truyền phổ biến thông tin của các tổ chức quốc
tế nên nông lâm kếp hợp có một bước phát triển nhảy vọt trong thời kỳ này. Người
ta đi sâu vào phân loại các phương thức canh tác, điều tra đánh giá, tổng hợp các mô
hình tổ chức xây dựng các mô hình mới phù hợp với từng vùng hình thành các tổ
chức chuyên nghiên cứu tuyển chọn, sưu tầm các loài cây đa tác dụng cây cố định
đạm, cây gỗ củi, cây cho thực phẩm,... Nhiều công trình nghiên cứu đã đi sâu vào sự
ảnh hưởng qua lại của các thành phần trong mô hình NLKH, vòng tuần hoàn dinh
dưỡng khoáng chất trong NLKH.
1.2.3.
hợp cho từng vùng cụ thể.
Bên cạnh sự nỗ lực của bản thân, Việt Nam còn được sự giúp đỡ của các tổ
chức quốc tế như FAO đã giúp Việt Nam xây dựng chương trình NLKH (1987 1989) thực hiện ở vùng đất ven biển [3].
Vào tháng 10/1992 với sự hỗ trợ của tổ chức nông, lâm, gỗ củi khu vực châu
á thái bình dương (dự án GCT/RAS - 131 NET), hội thảo quốc gia về NLKH ở khu
vực trung du và miền núi Việt Nam đã được tổ chức tại trường Đại học Lâm Nghiệp
Việt Nam, một trong những nội dung chính của hội thảo là đề cập tới các mô hình
NLKH trên các vùng sinh thái Tây Bắc, Đông Bắc, Duyên hải Miền Trung và Tây
Nguyên, ngoài ra hội thảo cũng đề cập tới một số vấn đề có liên quan đến NLKH.
Từ những năm 1990 trở lại đây Đảng và Nhà nước đã quan tâm đẩy mạnh sản
xuất nông, lâm nghiệp cũng như NLKH cùng sự quan tâm hỗ trợ của các tổ chức
quốc tế. Nhiều mô hình NLKH có hiệu quả kinh tế cao đã được tổng kết, hoàn thiện
và từng bước nhân rộng. Theo báo cáo của Hoàng Hoè tại hội nghị NLKH vùng
châu Á Thái Bình Dương 1990 ở Việt Nam có thể kể tới một số mô hình sau đây:
* Phương thức du canh du cư:
Người Gia Lai và Ê Đê ở Tây Nguyên chặt phá và đốt lớp thực vật che phủ ở
những nơi có tầng đất màu mỡ, sau khi canh tác nông lâm từ một đến hai năm họ
chuyển đi nơi khác sau 10 đến 15 năm họ quay trở lại sản xuất,
Người Mường ở Hoà Bình và Thanh Hoá có truyền thống phát quang rừng
sau đó trồng hạt xoan, tiếp đó họ đốt lớp thực bì đã phát quang nhằm mục đích kích
thích sự nảy mầm của hạt xoan, sau đó họ trồng lúa nương. Sau 3 vụ thu cây xoan đã
lớn người ta không thể tiếp tục trồng lúa nữa mà để các cây trong họ tre nứa mọc tự
nhiên. Sau 10 năm họ quay lại khai thác để làm tiếp luân kỳ 2.
Người Dao ở Thanh Hoá, Lào Cai, Yên Bái có truyền thống trồng lúa nương,
sắn, quế trong 3 năm đầu, cây lúa nương và cây sắn đáp ứng nhu cầu lương thực cho
người
dân trồng quế vừa có tác dụng bảo vệ đất trong những năm rừng quế
cây cải tạo đất trong giai đoạn bỏ hóa. Nhiều nơi chính quyền địa phương có sáng
kiến quy hoạch vùng sản xuất canh tác nương rẫy như ở Nghệ An, Sơn La,... chính
quyền địa phương cùng nông dân chia đất canh tác ra nhiều lô để trông luân canh
cây hoa màu và các cây cải tạo đất. Thời gian canh tác từ 2 - 5 năm phụ thuộc vào số
lô luân canh, tổng diện tích đất canh tác và khả năng sinh trưởng của cây cải tạo đất.
Thứ hai: Hệ thống rừng và ruộng bậc thang. Hệ thống rừng và lúa trồng theo
ruộng bậc thang tồn tại từ rất lâu đời ở Việt Nam, được áp dụng một số nơi ở miền
núi phía Bắc và miền núi Trung Bộ. Kỹ thuật này hạn chế việc xói mòn và chủ động
được lượng nước tưới, hệ thống này đóng vai trò quan trọng trong việc giữ nước và
điều hòa nước, cung cấp nước cho các ruộng bậc thang, chống sạt lở. Ngoài ra nó
còn cung cấp nguồn lâm sản cho nhân dân.
Thứ ba: Hệ canh tác nương rẫy tổng hợp. Đây là hình thức canh tác phổ biến
của nông hộ các dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc và cộng đồng dân cư khác sống ở
ven thung lũng, với ba nhân tố cơ bản là luân canh rừng - rẫy trên sườn dốc, canh tác
lúa nước dưới thung lũng kết hợp với chăn nuôi gia súc và thu hái các lâm sản phụ
từ rừng.
Hệ thống này tỏ ra khá bền vững khi mật độ dân số tăng cao đến
khoảng 100 người/1km2.
Thứ tư: Hệ canh tác vườn nhà truyền thống. Vườn nhà truyền thống là một
trong những hình thức nông lâm kết hợp phổ biến ở các vùng nông thôn khắp cả
nước. Trong vườn nhà các cây lâu năm, cây ngắn ngày, vật nuôi và thủy sản kết hợp
hài hòa tận dung có hiệu quả khả năng sản xuất của đất, không gian trên mặt đất
được tận dụng triệt để và phát huy một cách tối đa thời gian và nguồn lao động trong
gia đình để sản xuất lương thực, thực phẩm và tạo nguồn thu nhập cho gia đình.
Thứ năm: Hệ canh tác vườn rừng. Đây là những khu đất được sử dụng để
trồng cây lâm nghiệp và cây ăn quả theo hướng thâm canh để cung cấp nhiều loại
sản phẩm có giá trị hàng hóa cao. Tùy theo điều kiện sinh thái, tập quán và kinh
thuật sử dụng đất mới ở Việt Nam trong thời gian gần đây. Hiện nay ở Việt Nam có
rất nhiều hệ thống NLKH cải tiến đã và đang được giới thiệu và áp dụng trên nhiều
vùng đất dốc khác nhau của cả nước như: Hệ thống canh tác xen theo băng, hệ thống
đai phòng hộ chắn gió,.... Ngày 19/02/2013 Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn đã ký quyết định phê duyệt dự án: “Xây dựng các thử nghiệm nông lâm
kết hợp tại tỉnh Sơn La, Điện Biên và Yên Bái” trong khuôn khổ dự án NLKH cho
sinh kế các nông hộ nhỏ vùng Tây Bắc Việt Nam do Trung tâm Nông lâm Thế giới
(ICRAF) tài trợ.
Với mục tiêu là cải thiện hiệu quả của các hệ thống
canh tác của nông hộ nhỏ tại khu vực Tây Bắc kết hợp nhằm tăng gia sản lượng của
các cây ngắn ngày và vật nuôi kết hợp hướng đến các hệ thống sản xuất bền vững,
đa dạng hơn và đem lại lợi nhuận tốt hơn từ cây.
1.2.4.
Vài nét về tình hình nghiên cứu và phát triển các MH NLKH tại
điểm nghiên cứu
Sơn La là một tỉnh miền núi có khoảng 10% diện tích canh tác nông nghiệp
có độ dốc dưới 15%. Chính bởi vậy, người dân ở Sơn La, hầu hết phải canh tác sản
xuất nông nghiệp ở nhiều diện tích có độ dốc lớn hơn 15% thậm chí có những nơi
người dân phải canh tác ở vùng đất có độ dốc 20%, 25% như huyện Bắc Yên, Sông
Mã, các xã vùng cao thuộc các huyện Thuận Châu, Mường La v.v...Với tập quán
canh tác truyền thống đó là trồng độc canh cây trồng trên một diện tích. Biểu hiện rõ
nhất là cây Ngô, Lúa, Sắn v.v. Do canh tác độc canh cây ngô nên đất canh tác ngày
càng bị xói mòn và rửa trôi, năng suất các loại cây trồng ngày càng giảm, khả năng
cân
bằng về sự bền vững giữa nhu cầu sản xuấtcủa người dân và với tài
thống độc canh ngô trên đất dốc của huyện Mai Sơn, giúp
người dân nâng cao thu nhập cho người dân, đa dạng hoá cây trồng, bảo vệ môi
trường sinh thái. Từ khi được lựa chọn xây dựng mô hình thí nghiệm trồng xen cây
cà phê và cây họ
đậuvới cây Mắc ca, một số hộ gia đình đã bước đầu có được
những kết quả đáng mừng khi năng suất và sản lượng của các loại hàng nông sản có
chất lượng và giá cả ổn định. Tuy nhiên các mô hình khảo nghiệm này cần phải theo
dõi chặt chẽ đảm bảo tính bền vững về mặt kinh tế cho người nông dân. Đặc biệt là