TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
BỘ MÔN NGHIỆP VỤ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
ĐỀ TÀI 2:
MỐI QUAN HỆ VỐN CHỦ SỞ HỮU, LỢI NHUẬN
VÀ RỦI RO TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
GVHD: PGS.TS. TRẦM THỊ XUÂN HƯƠNG
NHÓM 7 – GIẢNG ĐƯỜNG A314 – CHỦ NHẬT
Danh sách nhóm:
1.
2.
3.
4.
5.
Đặng Thị Ngọc Hân
Ôn Quỳnh Như
Phạm Thị Kim Thoa
Nguyễn Ngọc Phương Quỳnh
Nguyễn Thị Hiếu
TP. HỒ CHÍ MINH
Tháng 5, 2016
MỤC LỤC
Câu 1: Các nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng thương mại........1
Câu 2: Các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro của ngân hàng thương mại ..............9
the profitability of Malaysia commercial banks, African Journal of Business
Management, 7(8): 649-660
Ong Tze San và The Boon Heng nghiên cứu: những yếu tố tác động đến lợi
nhuận các ngân hàng thương mại Malaysia, trong giai đoạn 2003 đến năm 2009.
Nghiên cứu này sử dụng mô hình hồi quy với ba chỉ số đại diện là: tỷ suất lợi
nhuận trên tổng tài sản (ROA), tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) và thu
nhập lãi cận biên (NIM) để đo lường các yếu tố tác động đến lợi nhuận các ngân
hàng thương mại Malaysia. Theo kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả thì ROA là
Trang 3
chỉ tiêu đo lường lợi nhuận tốt nhất. Mô hình ROA cho R2 cao nhất và nó được
giải thích tốt hơn bởi các yếu tố quyết định cụ thể của ngân hàng và các yếu tố kinh
tế vĩ mô đã được sử dụng trong bài phân tích.
Mô hình:
Profitability = X0 + X1(EA)+ X2(LLR)+ X3(COSR + X4(LIQ)+ X5(SIZE)+ X6(GDP)+ X7(CPI)
Trong đó:
−
−
Biến phụ thuộc: Lợi nhuận = Lợi nhuận trên tài sản (ROA), lợi nhuận trên
vốn chủ sở hữu (ROE) hay thu nhập lãi cận biên (NIM)
Biến độc lập:
EA = Tỷ lệ vốn chủ sở hữu và tài sản;
LLR = tỷ lệ dự phòng rủi ro trên nợ xấu;
COSR = Chi phí trên thu nhập;
LIQ = Hệ số thanh toán ngắn hạn= tỷ lệ tổng tài sản lưu động và tổng nợ
−
H5: lợi nhuận ngân hàng có một mối quan hệ tích cực với tổng tài sản của
−
ngân hàng
H6: lợi nhuận ngân hàng có một mối quan hệ tích cực với tốc độ tăng trưởng
−
GDP
H7: lợi nhuận ngân hàng có một mối quan hệ tích cực với lạm phát.
Mẫu và dữ liệu: nghiên cứu này sử dụng bảng là sự kết hợp của dữ liệu thời
gian và dữ liệu chéo. Dữ liệu được thu thập từ các ngân hàng thương mại trong
nước và nước ngoài hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng của Malaysia từ năm 2003
đến năm 2009. Các dữ liệu được thu thập từ BANKSCOPE nơi mà thông tin được
cung cấp và biên soạn bởi Ngân hàng Phân tích tín dụng Quốc tế (IBCA).
BANKSCOPE là một công cụ phân tích tài chính hoàn chỉnh, trong đó kết hợp các
thông tin về 29.199 ngân hàng trên toàn thế giới với một chương trình phần mềm
phân tích tài chính. Dữ liệu của bảy năm đã được chọn vì AmBank (M) Bhd được
thành lập vào năm 2002 như là một kết quả của việc sáp nhập và mua lại, do đó các
dữ liệu chỉ có sẵn trong năm 2003. Dữ liệu liên quan đến các biến Malaysia đã
được thu thập từ các website chính thức của Sở thống kê Malaysia. Có 23 ngân
hàng thương mại trong nước và nước ngoài tại Malaysia. Tuy nhiên, chỉ có 20
ngân hàng thương mại (9 trong nước và 11 nước ngoài đã được sử dụng trong
nghiên cứu này. Bangkok Bank Bhd, Ngân hàng Công thương Trung Quốc (M)
Điều này gợi ý rằng COSR là một biến số cần thiết trong ROA đo lường lợi
nhuận ngân hàng. Ngân hàng quản lý chi phí một cách hiệu quả sẽ có một
−
COSR thấp và sẽ làm khả năng sinh lời cao hơn.
LIQ là yếu tố quyết định trong đo lường lợi nhuận ROA. Điều này ngụ ý
rằng LIQ cải thiện hiệu suất lợi nhuận của các ngân hàng. Các ngân hàng có
tài sản thanh khoản cao sẽ hạ thấp nguy cơ phải phá sản vì chúng có thể chịu
được rủi ro tài chính. Họ có thể làm giảm chi phí vay từ bên ngoài và kết quả
−
lợi nhuận cao hơn. Do đó, chúng ta nên giữ đủ tài sản lưu động.
SIZE là yếu tố quyết định lợi nhuận của ngân hàng. Nó ảnh hưởng tích cực
đến lợi nhuận ngân hàng và ngụ ý rằng các ngân hàng quy mô lớn có nhiều
−
lợi nhuận hơn so với các ngân hàng nhỏ.
Các biến kinh tế vĩ mô như tăng trưởng GDP và lạm phát không ảnh hưởng
đến hiệu suất lợi nhuận. Những phát hiện trong bài nghiên cứu này khác so
với các nghiên cứu trước đây đã tìm thấy rằng tốc độ tăng trưởng GDP và
lạm phát ảnh hưởng rõ đến hoạt động của ngành ngân hàng. Đối với các
ngân hàng thương mại Malaysia, tăng trưởng GDP và lạm phát không phải
Trang 6
là yếu tố quyết định lợi nhuận trong bất kỳ biện pháp mô hình bằng ROA,
ROE, và tỷ lệ NIM.
−
−
Trang 7
−
Các biến còn lại là các biến giải thích và ý nghĩa cụ thể được thể hiện trong
bảng dưới đây:
Biến
Đại diện
Định nghĩa
Lợi nhuận ngân hàng
ROA
Lợi nhuận trên tổng tài sản
Tăng trưởng kinh tế
ln GDP
Ln (GDP)
Chính sách tiền tệ
quy hỗn hợp. Khi nói đến hồi quy tác động cố định và các hồi quy tác động ngẫu
nhiên, nghiên cứu sử dụng thử nghiệm Hausman. Trong điều kiện đó giả thuyết là
mô hình tác động ngẫu nhiên, giá trị P lớn hơn 0.05 vì vậy giả thuyết không thể bị
bác bỏ.
Có thể nhìn thấy trong hình dưới đây, ROA của các ngân hàng thương mại
của Trung Quốc đang tăng đều đặn. Trung Quốc gia nhập WTO vào năm 2001, do
đó ngành ngân hàng phải chịu những cú sốc nhất định, kết quả trong một vài năm
ROA tương đối thấp. Sau đó, các ngân hàng thương mại nhà nước của Trung Quốc
bắt đầu cải cách cổ phần từ năm 2003 trở đi, dẫn đến sự gia tăng lợi nhuận trên tài
sản. ROA đạt 1,33 trong năm 2012.
Các kết quả nghiên cứu cho thấy yếu tố kinh tế vĩ mô không có tác động
đáng kể đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại. Tăng trưởng, lạm
phát, lãi suất cho vay dài hạn và tăng trưởng cung tiền có mối tương quan thuận
với lợi nhuận ngân hàng, trong khi tổng vốn hóa thị trường chứng khoán có một
mối tương quan nghịch với lợi nhuận ngân hàng. Trong số các biến kinh tế vĩ mô
Trang 9
được lựa chọn, ảnh hưởng của tăng trưởng cũng tiền là rõ ràng nhất. Vì vậy bài
viết này đưa ra ba đề xuất:
−
Đẩy mạnh đổi mới tài chính và chiến lược đa dạng hóa: đổi mới tài chính là
sự thay đổi của hệ thống tài chính và việc bổ sung các công cụ tài chính mới
để có được lợi nhuận tiềm năng mà hiện tại các tổ chức tài chính hiện hành
và các công cụ tài chính không thể đạt được. Đổi mới tài chính có thể làm
giảm nguy cơ của các ngân hàng thương mại; giảm chi phí và nâng cao hiệu
thương mại
CÂU 2: CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN RỦI RO CỦA NGÂN
HÀNG.
Bài nghiên cứu: Michael Salkeld (2011), Determinants of Banks' Total
Risk: Accounting Ratios and Macroeconomic Indicators
Nghiên cứu này phân tích giao dịch công khai của các ngân hàng tại Mỹ từ
năm 1978 đến năm 2010. Các tỷ lệ khác nhau và các chỉ số kinh tế vĩ mô được sử
dụng như các proxy cho các tác động của hoạt động ngân hàng riêng lẻ và những
thay đổi trong môi trường kinh tế. Rủi ro tổng thể được đo bằng độ lệch chuẩn của
ROA và ROE, hồi quy so với tỷ lệ tài chính và các chỉ số kinh tế để xác định các
thành phần quan trọng trong tổng rủi ro. Quy mô ngân hàng, tỷ lệ vốn chủ sở
hữu/tài sản, tỷ lệ tổn thất cho vay, tỷ lệ thanh khoản, tỷ lệ cho vay so với tài sản,
tăng trưởng GDP thực , tăng trưởng cung tiền và lãi suất tất cả có liên quan đáng
kể với tổng rủi ro. Nghiên cứu thấy rằng những thay đổi trong môi trường kinh tế
trong thực tế liên quan đáng kể đến tổng mức độ rủi ro của ngân hàng, sau đó cho
thấy ở các nước đang đi qua một cuộc suy thoái kinh tế, các ngân hàng có thể điều
chỉnh hoạt động của mình cho phù hợp để bảo vệ chống lại mức độ rủi ro cao hơn.
Mẫu nghiên cứu bao gồm 326 ngân hàng Mỹ được phân tích qua các thời kỳ
theo quý từ năm 1978 đến năm 2010. Các ngân hàng được sử dụng trong nghiên
cứu này được công khai giao dịch và phân loại như các ngân hàng lớn trong ngành
tài chính của Sở giao dịch Nasdaq.
Mô hình nghiên cứu:
Trang 11
SDROE = β0 - β1Size - β2Equity/Asset + β3 Loan Loss - β4Liquidity + β5 Loan/Asset β6Dividend Payout - β7GDP Growth +/- β8M2 Growth + β9Interest Rate Gap+ εi
Trong đó:
−
lệ phần trăm của các khoản vay ngân hàng dự kiến không thu được;
Liquidity (thanh khoản): tính bằng tiền mặt và phải trả/ tổng tài sản; đo về
khả năng của một ngân hàng để hấp thụ những thay đổi bất ngờ trong các tài
khoản tài sản và trách nhiệm phải trả;
Loan Asset (Vay ròng/tổng tài sản): phần trăm tổng tài sản trong dư nợ cho
vay;
Dividend Payout (chi trả cổ tức): (Cổ tức Cổ phiếu phổ thông + Cổ tức cổ
phiếu ưu đãi) / thu nhập thuần; đo về kỳ vọng về thu nhập ròng của nhà đầu
tư;
GDP Growth (tăng trưởng GDP): GDP quý này/GDP quý trước; đo lường
tăng trưởng hàng quý của GDP;
Trang 12
M2 Growth (tăng trưởng cung tiền): Cung tiền quý này/Cung tiền quý trước;
đo lường tăng trưởng hàng quý của M2;
được định nghĩa là các nhà đầu tư không tham gia vào kinh doanh chứng khoán
ngắn hạn, nhưng nắm giữ cổ phiếu trong một thời gian dài. Rủi ro giảm ban đầu
với cổ đông ổn định, và sau đó tăng lên khi tác động các tài sản thay thế lớn hơn
tác động của quản lý về rủi ro ngân hàng. Sự suy giảm của giá trị thương hiệu làm
tăng rủi ro ngân hàng.
Bài nghiên cứu dùng một bảng dữ liệu của các ngân hàng trong khu vực của
Nhật Bản bao gồm các giai đoạn từ năm 1990 đến năm 1999. Các ngân hàng mẫu
phải được niêm yết trên thị trường chứng khoán. Có 54 ngân hàng khu vực niêm
yết trên thị trường chứng khoán Tokyo (TSE) trong khoảng thời gian mẫu, loại trừ
các ngân hàng có cổ phiếu được giao dịch ít thường xuyên trên TSE. Bài nghiên
cứu loại trừ các ngân hàng có cổ phiếu không có giao dịch trong 75 ngày hoặc hơn
trong năm trong thời kỳ mẫu. Sáu ngân hàng bị loại bỏ bởi tiêu chí này với mẫu
còn 48 ngân hàng khu vực.
Các số liệu về lợi nhuận cổ phiếu hàng ngày được thu thập từ “Kabuka CDROM 2001” được biên soạn bởi Toyo Keizai Data Bank. Các thông tin về việc
chấp nhận amakudari officers là từ “Kigyo Keiretsu Soran” (Báo cáo Thường niên
về Keiretsu) xuất bản bởi Toyo Keizai. Các dữ liệu về cổ đông ổn định được thu
thập từ “Kaisha Shikiho” xuất bản bởi Toyo Keizai, với cổ đông ổn định được định
nghĩa là các cổ đông liên quan nhỏ (chẳng hạn như các nhà quản lý ngân hàng) và
top 10 cổ đông nắm giữ cổ phiếu một thời gian dài. Các dữ liệu trên Topix (TSE
chỉ số giá cổ phiếu giá trị trọng) và năng suất của trái phiếu chính phủ mười năm
đã được thu thập từ Nihon Keizai Shimbun, các đối tác Nhật Bản của tờ Wall
Trang 14
Street Journal. Phần còn lại của dữ liệu cần thiết để phân tích sau đây được lấy từ
cơ sở dữ liệu NIKKEI QUICK.
Uớc lượng mô hình hồi quy sau đây sử dụng kỹ thuật dữ liệu bảng:
RISKi = α0 + α1CAPREQi + α2AMAKUDARIi + α3HOLDINGSi + α4(HOLDINGS)2i +
α5FRANCHISEi + α6ASSETi + α7 FREQUENCYi+ ԑi
của nợ chia cho giá trị ghi sổ của tài sản.
ASSET: log của giá trị sổ sách của tổng tài sản (triệu yên).
FREQUENCY: Khối lượng trung bình hàng ngày của cổ phiếu chia cho
tổng số cổ phiếu đang lưu hành.
Bài nghiên cứu đưa ra kết quả:
−
Việc thực hiện các yêu cầu an toàn vốn giảm nguy cơ dùng tại các ngân
hàng thương mại.
Trang 15
−
Việc chấp nhận các viên chức về hưu của Bộ Tài chính và BOJ vào ngân
−
hàng ít có ít nghĩa về rủi ro ngân hàng.
Mối quan hệ giữa cổ đông ổn định và rủi ro ngân hàng là phi tuyến với cổ
đông ổn định được định nghĩa là các nhà đầu tư không tham gia vào kinh
doanh chứng khoán ngắn hạn, nhưng nắm giữ cổ phiếu trong một thời gian
dài. Rủi ro giảm ban đầu với cổ đông ổn định, và sau đó tăng lên khi tác
−
động các tài sản thay thế lớn hơn tác động của quản lý về rủi ro ngân hàng.
SHARE: thị phần tiền gửi;
MKTGROW: tốc độ gia tăng tiền gửi của thị trường ngân hàng;
MSA: biến giả thể hiện các ngân hàng có ở khu vực trung tâm của
thống kê không;
AC: chi phí hoạt động trên tổng tài sản trung bình 3 năm;
RWA/TA: tài sản rủi ro trọng yếu trên tổng tài sản;
NPRF/TA: nợ xấu trên tổng tài sản;
CHRG/TA: khoanh nợ trên tổng tài sản;
Các biến giả về quy mô, thời gian và biến giả ngân hàng riêng lẻ;
Một số biến khác...
Bài nghiên cứu cho thấy tại các ngân hàng ở Mỹ giai đoạn 1980s CAR và
ROE có quan hệ thuận chiều mạnh mẽ và mỗi biến tác động tích cực với biến còn
lại theo quan hệ nhân quả Granger. Theo đó, vốn càng cao thì lợi nhuận càng cao
và ngược lại. Các nhân tố khác cũng có tác động đáng kể nhưng tính trung bình thì
các tác động này có xu hướng làm giảm, thay vì làm nổi bật lên mối quan hệ tích
cực.
Bài nghiên cứu: Per Hortlund (2005), The Long-Term Relationship
between Capital and Earnings in Banking, SSE/EFI Working Paper Series in
Economics and Finance, No 611
Bài nghiên cứu giới thiệu các dữ liệu mới về đòn bẩy và lợi nhuận tại các
ngân hàng thương mại Thụy Điển trong giai đoạn 1870 – 2001, qua đó tìm ra các
dấu hiệu của mối quan hệ trong dài hạn. Trong giai đoạn nghiên cứu, tỷ lệ vốn-tài
j =1
ROEit = α τ + ciτ + θ tτ + ∑ β 1jτ k i ,t − j + ∑ β j2τ ROEi ,t − j + βτ' X i ,t −1 + γ τ' SIZE it + ε it
Trang 18
Trong đó:
−
−
Biến phụ thuộc: ROE
Biến độc lập:
3 biến độ trễ của ROE;
k: vốn;
X: các nhân tố tác động đến ROE được trình bày ở các nghiên cứu liên
quan;
SIZE: quy mô ngân hàng;
Biến thời gian.
Bài nghiên cứu cho thấy “k” tác động tích cực mạnh mẽ đến ROE cuối
những năm 1980, sau đó chuyển sang tiêu cực vào đầu những năm 1990. Ước
lượng FE cho thấy tác động tiêu cực tiếp tục kéo dài đến cuối những năm 1990,
đầu những năm 2000 trong khi ước lượng GMM cho thấy cuối thập niên 90 tác
động tiêu cực gần như bằng 0. Cuối những năm 2000, trong bối cảnh khủng hoảng
tài chính toàn cầu, các ước lượng cho thấy tác động tiêu cực của k giảm một cách
hình được sử dụng gồm:
Capital equation:
2 Xem Giuliano Iannottaa , Giacomo Nocerab, Andrea Sironi, 2007, “Ownership structure. risk and performance in
the European banking industry”.
3 Xem Faten Ben Bouheni , 2014, "Banking regulation and supervision: can it enhance stability in Europe?"
4 Xem Demirguc-Kunt và Kane, 2002, “Deposit insurance around the world: where does it work?”
5 Xem
Faten Ben Bouheni và Houssem Rachdi, 2015, “Bank Capital Adequacy Requirements And Risk-Taking
Behavior In Tunisia: A Simultaneous Equations Framework”
Trang 20
Risk equation:
Trong đó:
−
−
−
β và δ là tham số ước tính;
ε là phần dư của mô hình;
Bank capital (Cap): Biến đại diện cho vốn chủ sở hữu của ngân hàng, được
−
đo lường bằng vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản;
Trang 21
tại các ngân hàng Thụy Sĩ khi họ buộc phải tuân theo mức vốn quy định tối thiểu.
Kết qua chỉ ra áp lực điều tiết và những quy định của chính phủ khiến cho các ngân
hàng phải tăng vốn, nhưng điều này lại không ảnh hưởng đến mức độ rủi ro của
các ngân hàng.
CÂU 5: BASEL QUY ĐỊNH VỀ TỶ LỆ VỐN AN TOÀN TRONG
HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG NHƯ THẾ NÀO?
Basel I (1988)
Năm 1988, Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng ban hành hệ thống đo lường
vốn và rủi ro tín dụng với tên thường gọi là Hiệp ước Basel 1.
Basel 1 chia vốn tự có ngân hàng ra thành hai loại: vốn tự có cơ bản (Core
Capital/ Tier I Capital) và vốn tự có bổ sung (Supplementary capital/Tier II
Capital). Basel I nhấn mạnh tầm quan trọng của tỷ lệ vốn an toàn trong hoạt động
kinh doanh ngân hàng. Các cơ quan quản lý phải đưa ra các quy định về an toàn
vốn tối thiếu phù hợp với các ngân hàng để phản ánh những rủi ro mà Ngân hàng
có thể gặp phải. Cơ quan quản lý cũng phải quy định rõ ràng các thành phần của
vốn, bảo đảm rằng vốn có khả năng chịu đựng được lỗ.
Các yêu cầu về tỷ lệ vốn an toàn theo Basel I:
−
−
Tỷ lệ vốn cơ bản (Tier 1) trên tổng tài sản quy đổi rủi ro phải ít nhất là 4%
Tỷ lệ vốn tự có (Tier 1+ Tier 2) trên tổng tài sản quy đổi rủi ro phải ít nhất là
−
8%.
Tổng số vốn bổ sung được giới hạn trong tỷ lệ 100% so với vốn cơ bản.
Trước những diễn biến phức tạp của khủng hoảng tài chính toàn cầu và hệ
lụy lâu dài của chúng đối với hệ thống tài chính – Ngân hàng toàn thế giới, Ủy ban
Basel một lần nữa dự thảo và thông qua phiên bản thứ 3 về tiêu chuẩn an toàn vốn
tối thiểu:
−
−
−
Hệ số CAR theo Basel 3 vẫn được giữ nguyên ở mức 8%.
Nâng tỷ lệ vốn chủ sở hữu tối thiểu (cổ phần phổ thông) từ 2% lên 4,5%.
Nâng tỷ lệ vốn cấp 1 tối thiểu từ 4% lên 6%.
Trang 23
−
Bổ sung phần vốn đệm dự phòng tài chính đảm bảo bằng vốn chủ sở hữu
2.5%.
Tùy theo bối cảnh của mỗi quốc gia, một tỷ lệ vốn đệm phòng ngừa sự suy
giảm theo chu kỳ kinh tế có thể được thiết lập với tỷ lệ từ 0-2.5% và phải được
đảm bảo bằng vốn chủ sở hữu phổ thông. Phần vốn dự phòng này chỉ đòi hỏi trong
trường hợp có sự tăng trưởng tín dụng nóng, nguy cơ dẫn đến rủi ro cao trong hoạt
động tín dụng một cách có hệ thống. Các tiêu chuẩn của Basel 3 bắt đầu có hiệu
lực từ năm 2013, áp dụng cho các cá ngân hàng có hoạt động quốc tế, được thực
hiện theo một lộ trình đến hết năm 2018 và sẽ thực hiện đầy đủ vào ngày
01/01/2019.
CÂU 6: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG BASEL TẠI VIỆT NAM?
Thông tư số 13/2010/TT-NHNN (9% và phương pháp tính đã tiếp cận Basel
II). Giai đoạn này hệ thống NHTM VN đảm bảo được hệ số an toàn vốn tối
thiểu, tuy nhiên tính riêng từng năm thì năm 2010, trong nhóm các NHTM
NN, VietinBank và Agribank vẫn chưa đạt được chỉ tiêu này. Còn tính đến
tháng 11/2011 vẫn còn 5 NHTMCP chưa đáp ứng được con số 9%. Đến
ngày 31/12/2015, theo số liệu của NHNN VN, toàn hệ thống đạt chỉ tiêu
CAR ở mức 13%, tuy nhiên khối NHTM NN có hệ số CAR thấp nhất, chỉ ở
mức 9.42%
Bảng: Thống kê một số chỉ tiêu cơ bản ngày 31/12/2015
Đơn vị tính: tỷ đồng, %
Tổng tài sản có
Vốn tự có
Loại hình
TCTD
Vốn điều lệ
Tỷ lệ Tỷ lệ vốn
an ngắn hạn
toàn cho vay
vốn tối trung, dài
thiểu
hạn
Tốc độ
Tốc độ
Tốc độ