PGS.TS VŨ HÀO QUANG
CéNG §åNG NG¦êI VIÖT NAM
ë N¦íC NGOµI
NH÷NG NÐT V¡N HO¸ §ÆC TR¦NG
(Sách chuyên khảo)
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
2
CéNG §åNG NG¦êI VIÖT NAM
ë N¦íC NGOµI
NH÷NG NÐT V¡N HO¸ §ÆC TR¦NG
3
BẢNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT
4
N
số lượng
THPT
Chương I. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN NGHIÊN CỨU ..... 11
1. Cơ sở lí luận............................................................................................... 11
1.1. Văn hóa: khái niệm, ₫ịnh nghĩa, loại hình ........................................... 11
1.2. Khái niệm và ₫ịnh nghĩa “con người" .................................................. 16
2. Các lí thuyết ₫ược vận dụng ₫ể nghiên cứu con người và văn hóa
cộng ₫ộng người Việt Nam ở nước ngoài .............................................. 19
2.1. Lí thuyết “₫ẩy-kéo” trong nghiên cứu di chuyển dân cư ...................... 19
2.2. Lí thuyết “thị trường lao ₫ộng” trong nghiên cứu chuyển cư ................ 20
2.3. Lí thuyết giá trị và ₫ịnh hướng giá trị trong nghiên cứu NVNƠNN ....... 21
2.4. Thuyết biến ₫ổi giá trị ......................................................................... 31
2.5. Một số hình thức biến ₫ổi giá trị, giải thích biến ₫ổi giá trị
trong ₫iều kiện của NVNƠNN ............................................................ 34
3. Một số cách tiếp cận chính trong nghiên cứu về con người văn hóa
cộng ₫ồng người Việt Nam ở nước ngoài .............................................. 36
3.1. Tiếp cận triết học ................................................................................ 36
3.2. Tiếp cận hệ thống ............................................................................... 37
3.3. Tiếp cận lịch sử................................................................................... 39
3.4. Tiếp cận nhân học văn hóa ................................................................ 40
3.5. Tiếp cận tâm lí học dân tộc................................................................. 42
4. Các khái niệm công cụ và thao tác hóa các khái niệm .......................... 42
4.1. Di cư ................................................................................................... 42
5
4.2. Tị nạn ................................................................................................. 43
4.3. Văn hóa .............................................................................................. 44
4.4. Tiếp biến văn hóa ............................................................................... 44
4.5. Cộng ₫ồng .......................................................................................... 44
4.6. Xã hội ................................................................................................. 45
4.7. Gia ₫ình .............................................................................................. 46
3.2. Sự hội nhập vào cộng ₫ồng cư dân bản ₫ịa........................................ 97
3.3. Các hình thức hội nhập của cộng ₫ồng .............................................. 98
3.4. Sự ₫ánh giá của người bản ₫ịa về vị thế cộng ₫ồng người Việt Nam
so với cộng ₫ồng các dân tộc của các nước láng giềng
như Lào, Campuchia .......................................................................... 99
3.5. Mức ₫ộ nắm bắt những thông tin về ₫ời sống kinh tế, văn hoá, xã hội
Việt Nam qua các kênh truyền thông của người Việt ở Thái Lan ...... 101
3.6. Đánh giá về mức ₫ộ hạnh phúc của gia ₫ình.................................... 102
3.7. Đánh giá về ₫ịa vị kinh tế gia ₫ình mình so với các gia ₫ình Việt kiều
khác ở nước sở tại ............................................................................ 103
3.8. Lí do quyết ₫ịnh nhập cư vào Thái Lan ............................................. 104
4. Xu hướng biến ₫ổi những ₫ặc trưng cơ bản về văn hóa của cộng
₫ồng Việt kiều Thái Lan ......................................................................... 105
4.1. Biến ₫ổi về ₫ịnh hướng giá trị phong tục, tập quán ........................... 105
4.2. Biến ₫ổi các giá trị văn hóa truyền thống của thế hệ thứ ba
ở Thái Lan ........................................................................................ 106
4.3. Biến ₫ổi nội dung giao tiếp do việc sử dụng ngôn ngữ Việt
của thế hệ thứ hai ............................................................................ 107
4.4. Biến ₫ổi nội dung giao tiếp do việc sử dụng ngôn ngữ
của thế hệ thứ ba trong giao tiếp tại gia ₫ình ................................... 109
4.5. Biến ₫ổi các nếp sống do những khó khăn của ₫ời sống .................. 110
4.6. Sự khác biệt giữa các thế hệ Việt kiều ở Thái Lan ............................ 112
7
5. Đánh giá chung về thực trạng người Việt Nam ₫ang ₫ịnh cư
tại Thái Lan ............................................................................................. 114
Chương III. QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA
VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC
nhóm nghiên cứu đã nhận được sự giúp đỡ của nhiều cơ quan
hữu quan như: Uỷ ban về Người Việt Nam ở nước ngoài thuộc
Bộ Ngoại giao; Đại sứ quán Việt Nam tại Washington DC, Tổng
lãnh sự Việt Nam tại San fransisco; Trung tâm Nghiên cứu Châu
Á tại San fransisco; Khoa Chính trị học, Đại học Mahasharakham,
Thái Lan; Hội Việt kiều Thái Lan; Trường Đại học Khoa học Xã
hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội; Viện Nghiên
cứu dư luận xã hội thuộc Ban Tuyên giáo Trung ương. Ngoài ra,
nhóm nghiên cứu còn nhận được sự giúp đỡ chân thành có hiệu
quả cao của một số bà con Việt kiều tại Mĩ và Thái Lan. Phương
pháp thu thập thông tin chính gồm: Điều tra bằng bảng hỏi;
phỏng vấn sâu; thảo luận nhóm tập trung; phỏng vấn chuyên
gia; phân tích tài liệu; quan sát thực địa; các phần mềm hỗ trợ xử
lí thông tin: SPSS; NVIVO.
9
Các lí thuyết và các phương pháp tiếp cận chính trong công
trình: Lí thuyết chức năng, Thuyết cấu trúc ‐ chức năng; Thuyết
tương tác biểu trưng; Thuyết hành động xã hội; Lí thuyết giá trị.
Những vấn đề trọng tâm được đề cập đến trong cuốn sách này là:
‐ Những đặc trưng cơ bản về con người và văn hóa của cộng
đồng người Việt Nam ở nước ngoài hiện nay;
‐ Những nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành các đặc trưng
cơ bản đó;
‐ Thực trạng đời sống văn hóa tinh thần của cộng đồng
người Việt Nam ở nước ngoài hiện nay và những vấn đề đặt ra;
‐ Xu hướng biến đổi bản sắc của con người và văn hóa cộng
đồng người Việt Nam ở nước ngoài trong những năm tới;
‐ Cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định chính sách
phản ánh một cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau. Ngay từ
năm 1952, hai nhà nhân loại học Mĩ là Alfred Kroeber và Clyde
Kluckhohn đã thống kê và kết quả cho thấy có tới 164 định nghĩa
khác nhau về văn hóa trong các công trình nổi tiếng thế giới. Văn
hóa được đề cập đến trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu như dân tộc
học, nhân loại học (theo cách gọi của Mĩ hoặc dân tộc học hiện đại
theo cách gọi của châu Âu), dân gian học, địa văn hóa học, văn
hóa học, xã hội học,... và trong mỗi lĩnh vực nghiên cứu đó, định
nghĩa về văn hóa cũng khác nhau.
Theo định nghĩa chung nhất, văn hóa bao gồm tất cả những
sản phẩm của hoạt động người. Và như vậy, văn hóa bao gồm cả
hai khía cạnh: khía cạnh phi vật chất của xã hội như ngôn ngữ, tư
tưởng, giá trị và khía cạnh vật chất như nhà cửa, quần áo, các
phương tiện, v.v... Cả hai khía cạnh cần thiết để làm ra sản phẩm
và đó là một phần của văn hóa.
Văn hóa bao gồm nhiều loại hình khác nhau. Bàn về các loại
hình văn hóa, Ngô Đức Thịnh cho rằng: trong một quốc gia, các
dạng thức văn hoá thường rất phong phú, đa dạng, tuy nhiên có
11
thể quy chúng về mấy nhóm chính, như: a) Văn hoá cộng đồng (văn
hoá tộc người, văn hoá quốc gia Việt Nam, văn hoá làng, văn hoá
gia đình, dòng họ, văn hoá tôn giáo tín ngưỡng, ...), b) Văn hoá cá
nhân, c) Văn hoá vùng‐lãnh thổ (văn hoá vùng, văn hoá địa
phương,...) và d) Văn hoá sinh thái. Trong mỗi nhóm như vậy lại
chứa đựng nhiều dạng thức văn hoá khác nhau.1
Người ta phân loại các định nghĩa về văn hóa thành những
dạng chủ yếu sau đây:
Về mặt thuật ngữ khoa học: Văn hóa được bắt nguồn từ chữ
Các định nghĩa chuẩn mực nhấn mạnh đến các quan niệm về
giá trị, chẳng hạn William Isaac Thomas (1863‐1947), nhà xã hội
học người Mĩ coi văn hóa là các giá trị vật chất và xã hội của bất
kỳ nhóm người nào (các thiết chế, tập tục, phản ứng, cư xử,...).
Các định nghĩa tâm lí học nhấn mạnh vào quá trình thích
nghi với môi trường, quá trình học hỏi, hình thành thói quen, lối
ứng xử của con người. Một trong những cách định nghĩa như vậy
của William Graham Sumner (1840‐1910), viện sỹ Mĩ, giáo sư Đại
học Yale và Albert Galloway Keller, học trò và cộng sự của ông
cho rằng: Tổng thể những thích nghi của con người với các điều
kiện sinh sống của họ chính là văn hóa, hay văn minh... Những sự
thích nghi này được bảo đảm bằng con đường kết hợp những thủ
thuật như biến đổi, chọn lọc và truyền đạt bằng kế thừa.
Ralph Linton (1893‐1953), nhà nhân loại học người Mĩ định
nghĩa: a) Văn hóa suy cho cùng là các phản ứng lặp lại ít nhiều có
tổ chức của các thành viên xã hội; b) Văn hóa là sự kết hợp giữa lối
ứng xử mà các thành tố của nó được các thành viên của xã hội đó
tán thành và truyền lại nhờ kế thừa.
Theo Pitirim Alexandrovich Sorokin (1889‐1968), với nghĩa
rộng nhất, văn hóa chỉ tổng thể những gì được tạo ra, hay được cải
biến bởi hoạt động có ý thức hay vô thức của hai hay nhiều cá
nhân tương tác với nhau và tác động đến lối ứng xử của nhau.
Joseph H.Fichter đã đưa ra định nghĩa về văn hóa dựa trên
định nghĩa của E.B.Taylor E, B nhưng có bổ sung cho phù hợp với
đối tượng nghiên cứu của ngành xã hội học. Fichter J, H viết: “Văn
13
hóa là một toàn bộ phức tạp bao gồm kiến thức, tín ngưỡng nghệ thuật,
đạo đức, luật pháp, phong tục và các khả năng khác cùng tập quán do
14
‐ Tiểu văn hóa
Tiểu văn hóa là văn hóa của các cộng đồng xã hội mà có
những sắc thái khác với nền văn hóa chung của toàn xã hội.
Người ta thường hay nhắc đến tiểu văn hóa của thanh niên, của
một dân tộc ít người nào đó hay tiểu văn hóa của một cộng đồng
người dân sinh sống lâu đời ở một nước, v.v..... Thực chất, tiểu
văn hóa vẫn là một bộ phận của nền văn hóa chung; nó tuy có
những nét khác biệt khá rõ so với nền văn hóa chung song không
đối lập với nền văn hóa chung đó.
‐ Phản văn hóa
Trong khi tiểu văn hóa vẫn hướng tới bảo vệ những giá trị
của nền văn hóa chung thì phản văn hóa công khai bác bỏ những
chuẩn mực, giá trị của nền văn hóa chung. Phản văn hóa có thể
được xem như tập hợp các chuẩn mực, giá trị của một nhóm
người trong xã hội mà đối lập, xung đột với các chuẩn mực, giá trị
chung của toàn xã hội. Như vậy, sự khác biệt giữa phản văn hóa
và văn hóa chung lớn hơn nhiều so với tiểu văn hóa. Phản văn hóa
là điều thường thấy trong mọi xã hội.
‐ Văn hóa nhóm
Văn hóa nhóm là hệ thống các giá trị, các quan niệm, tập
tục được hình thành trong nhóm. Văn hóa nhóm được hình
thành từ khi các mối quan hệ trong nhóm được thiết lập và
cùng với thời gian các quy chế được hình thành, các thông tin
được trao đổi và các thành viên cùng trải qua các sự kiện. Tất cả
các nhóm nhỏ đều có văn hóa của mình, nhưng đồng thời cũng
là một phần của nền văn hóa toàn xã hội. Như vậy, văn hóa
tạo ra những công cụ và học được những kĩ năng mới. Trong giới
tự nhiên, con người là loài duy nhất đã tìm ra lửa, nấu thức ăn, tự
may quần áo, và sử dụng các công nghệ kĩ thuật trong đời sống.
Con người khác với con vật ở chỗ con người có khả năng tư
duy trừu tượng, có thể quyết định và lựa chọn. Con người có thể
làm những dự án trù liệu và tính toán cho tương lai, suy nghĩ về
chính những hành động và phản ứng của mình, chịu trách nhiệm
về hành vi của mình và có khả năng phát triển ý thức trách nhiệm
của mình đối với người khác1
1
Joseph H. Fichter, Xã hội học, (Trần Văn Đĩnh dịch), Sài Gòn, 1974, trang 21-22.
17
1.2.2. Độ ổn ₫ịnh thŸi ₫ộ vš ₫ịnh nghĩa thŸi ₫ộ cŸ nhŽn
Việc xác định được độ ổn định của thái độ và thái độ của
cá nhân có ý nghĩa quan trọng trong việc nghiên cứu các đặc
trưng về con người trước những tác động của môi trường sống.
Sự cân bằng và tính nhất quán, ổn định của nguồn tin có phù
hợp với mong đợi của chủ thể hành động hay không chính là
nguyên nhân hay nguồn gốc của độ ổn định hay là sự thay đổi
của thái độ của cá nhân. Khi một cá nhân mong muốn sự thống
nhất hay toàn vẹn của một hiện tượng, sự vật tác động đến phù
hợp với nhận thức thì những thông tin đó sẽ được tiếp nhận,
ngược lại, thông tin sẽ bị loại bỏ khi nó có nguy cơ thách thức
thái độ hiện tại. Leon Festinger (1919–1990) đã đưa ra thuyết
2.1. L˝ thuyết ¹₫ẩy-k˙oº trong nghi˚n cứu di chuyển dŽn cư
Ravenstein thống kê một số luận điểm mang tính thiết yếu
trong học thuyết của mình nhằm giải thích di cư như một xu
hướng nảy sinh trên những điều kiện do hiện diện của một loạt
các biến số. Ông nhấn mạnh đến khoảng cách di chuyển của
người chuyển cư. Ông chỉ ra rằng, thông qua một số biến số tác
động, sự chuyển cư trực tiếp đến các trung tâm đô thị mang tính
hấp đẫn đối với họ. Nhân tố quan trọng thứ tư mà ông nhấn mạnh
là sự hiện diện của dòng di chuyển có tính toán hoặc là dòng di cư
có định hướng. Dấu hiệu rõ rệt nhất mà ông phát hiện trước hết là
sự phát triển công nghệ, thương nghiệp làm gia tăng dòng di
chuyển, thứ hai là đòi hỏi có sự “tốt hơn” trong nhu cầu vật chất
của họ1.
Ở cấp cá nhân còn tồn tại những nguyên nhân có tính chất
xã hội như:
Muốn gần người thân, gia đình, đoàn tụ gia đình, v.v.....
1
Ravenstein, E.G. The Laws of Migration, op. cit, 52 (2), 1989, pp. 241-301. Trích
theo Tống Văn Chung “Đánh giá thực trạng đời sống văn hóa tinh thần của cộng
đồng người Việt Nam ở nước ngoài hiện nay và những vấn đề đặt ra cần giải
quyết“. Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Vai trò của cộng đồng người Việt Nam ở nước
ngoài với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, Thành phố Hồ Chí
Minh, tháng 5/2010.
19
University Press, Cambridge, 1969, p.77.
2
Wallerstein, I. The Modern World Systems. Academic Pres. New York. 1974.
3
Petra, E. M. The global labor market in the modern world economy. In: M. M.
Kritc, C.B Keely, S. M. Tomasi. Global Trends In Migration, Center for
Migration Studies, New York, 1981, pp. 44-63.
20
giải phóng tự do làm cho cá nhân người lao động là chủ thể hành
động xã hội tự do lựa chọn đối với khả năng có thể trong thị trường
lao động; quan điểm thứ hai chính là việc thừa nhận sự trao đổi lao
động từng phần giữa các quốc gia1.
“Các nhà kinh tế xem di dân diễn ra từ khu vực truyền thống
lan truyền sang khu vực hiện đại của nền kinh tế, nơi có mức tiền
lương cao hơn. Theo Tarado (1971) sự chênh lệch lớn về tiền công
lao động giữa nông thôn và đô thị, giữa khu vực kinh tế chính
thức và phi chính thức là nguyên nhân thúc đẩy di dân nông thôn‐
đô thị”. “Nơi nào có điều kiện kinh tế, có mức lương và thu nhập
cao hơn sẽ thu hút được lao động đến nơi đó. Trong giai đoạn
kinh tế khủng hoảng và đình đốn, các dòng di dân lao động
hướng vào khu vực kinh tế phi chính thức”2. Rõ ràng rằng, trong
hoàn cảnh nào, người dân di cư cũng cố gắng giành và cải tạo địa
vị kinh tế của mình cho dù họ có thể, hoặc không thể, vượt khỏi
tầng lớp người lao động. Song ngay trong tầng lớp đó, họ có thu
nhập là có thể vượt sang tầng lớp (bộ phận khác), chẳng hạn như
thoát được đói nghèo.
Vận dụng lí thuyết này cho thấy có thể xem xét nhu cầu và
động của con người được thúc đẩy bởi một giá trị nhân văn cao
cả, ví dụ làm từ thiện, cứu người khác khi họ gặp hoạn nạn v.v...
là những hành động hợp lí về mặt giá trị. Khái niệm “giá trị” được
cá nhân cắt nghĩa cho chính mình, khi thấy hạt nhân của sự hợp lí
về mặt giá trị thì con người hành động. Trường hợp này là sự
đồng nhất về mặt giá trị giữa động cơ hành động và kết quả hay
mục đích của hành động. Con người luôn đặt ra cho bản thân
những câu hỏi như: Mình làm việc đó để làm gì? Đối tác sẽ phản
ứng ra sao? Câu hỏi này đã được lí giải trong bốn điển loại hành
động xã hội. Khi chủ thể hành động thấu hiểu được mục đích của
hành động tức là cắt nghĩa được động cơ hành động trong tương
quan với khả năng phản ứng đáp lại của đối tác. Trong quá trình
định hướng hành động, giá trị giữ vai trò dẫn đường, nhờ đó chủ
thể hành động (actor) có thể thực hiện hành động hoặc dừng hành
động1. Theo quan niệm của Weber, bất kỳ hành động nào của cá
nhân có ý thức thì đều kèm theo một giá trị. Tuy nhiên, hành vi có
1
Sam Whimster, “Max Weber: Work and Interpretation”, trong Handbook of Social
theory, George Ritzer và Barry Smart, SAGE Publications Ltd, 2003, pp.54-60.
22
ý thức của cá nhân cũng chưa đủ điều kiện để trở thành hành vi
xã hội được nếu như chủ thể hành động không có định hướng,
không cân nhắc tới phản ứng đáp lại của những người xung
quanh (xã hội). Khi con người gia nhập vào các hoạt động tập thể
nó phải tuân thủ kỷ luật, quy tắc của tập thể, đó chính là những
thống giá trị cơ bản trong xã hội luôn luôn khẳng định lợi ích của
nhóm xã hội và có xu hướng đè bẹp lợi ích cá thể trong trường
hợp đối lập1.
Theo Durkheim thì giá trị có đặc tính bề ngoài đối với tất cả
các thành viên của xã hội, giá trị xã hội có thuộc tính ép buộc về
mặt đạo đức vì bản thân nó phụ thuộc vào hiện thực khách quan.
Đồng thời nó lại là một phần của chính hiện thực khách quan đó,
tiếc rằng, chính phần “khách quan” đó lại “tuột khỏi tay của cá
thể”. Dựa trên cách tiếp cận xã hội bằng con đường thực chứng,
trên cơ sở quyết định luận xã hội, ông đã giải thích sự kiện tự tử
như là một sự kiện xã hội chứ không phải là hiện tượng tâm lí cá
nhân đơn thuần. Khi phân tích trường hợp tự tử vị tha, ông đã
nhấn mạnh vào tinh thần đoàn kết, liên kết tập đoàn và sự nhỏ bé
của đời sống cá thể. Cá nhân sẵn sàng quyên sinh vì tập thể, vì xã
hội, loại quyên sinh này khẳng định tính kỷ luật, hệ thống giá trị
tập đoàn và mức liên kết, tinh thần đoàn kết của tập đoàn nói
riêng của xã hội nói chung.
Việc nghiên cứu hiện tượng tự tử đã cho phép Durkheim có
những nhận xét quan trọng về việc xem xét sự chuyển giao giá trị
xã hội từ cấp độ ý thức, niềm tin cá nhân với tư cách là thành viên
của tập đoàn xã hội. Ông cho rằng ý thức tập đoàn có đặc tính bề
ngoài, nó chỉ thực sự có sức mạnh khi nó được thấm nhuần trong
ý thức các cá thể. Khi đó các chủ thể hành động buộc phải phục
tùng chuẩn mực xã hội với thái độ tôn kính và tinh thần trách
nhiệm. Khi cá thể đã thấm nhuần những giá trị xã hội thì nó
1
John Gillin, “For a science of Socialism”, Phương pháp, New York, 1954, tr.110 -113.
1
W.I. Thomas and F. Znaniecki, The Polish peasant in Europe and America,
Boston 1918 - 1920.
2
The nature of Human nature. N.Y 1937, pp 135-143.
25