Phát huy vai trò của người việt nam ở nước ngoài đối với công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay - Pdf 32

HC VIN CHNH TR - HNH CHNH QUC GIA H CH MINH

Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu
TI KHOA HC CP B NM 2011
Mó s: B.11-27

phát huy vai trò của ngời việt nam ở nớc ngoài
đối với công cuộc đổi mới ở nớc ta hiện nay

C quan ch trỡ: HC VIN CT-HC KHU VC I
Ch nhim ti: TS. Bùi Thị Thu Hà
Th ký ti: Ths. Nguyễn Thị Thu Hà

9102
H NI - 2011


Môc lôc
Trang
më ®Çu
CHƯƠNG 1: NGƯỜI VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI VÀ NHỮNG YÊU
CẦU ĐẶT RA ĐỐI VỚI CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG, PHÁT HUY VAI TRÒ
CỦA NGƯỜI VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI ĐỐI VỚI CÔNG CUỘC ĐỔI
MỚI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

1.1 Tình hình cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài
1.2 Tình hình cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài trong giai
đoạn hiện nay
1.3 Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng về Người Việt
Nam ở nước ngoài
1.4 Những yêu cầu đặt ra đối với công tác vận động, phát huy vai


CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TIẾP TỤC NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA NGƯỜI VIỆT
NAM Ở NƯỚC NGOÀI ĐỐI VỚI CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI CỦA NƯỚC
TA HIỆN NAY

101

3.1
3.2

Dự báo tình hình cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài
trong thời gian tới
Định hướng và những giải pháp chủ yếu đối với công tác phát huy
vai trò người Việt Nam ở nước ngoài đối với công cuộc đổi mới của
nước ta trong thời gian tới

KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
KIẾN NGHỊ

50
53

101

105
123
126
136

phát triển khoa học công nghệ, giáo dục, văn hóa, hỗ trợ nâng cao đời sống
người dân... Tiềm năng của đội ngũ trí thức Việt kiều được phát huy phục vụ
thiết thực cho sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.
Bên cạnh những thành tựu to lớn đã đạt được, việc vận động, phát huy vai
trò của người Việt Nam ở nước ngoài những năm qua còn gặp nhiều khó khăn
1


và có những hạn chế cần khắc phục. Công tác tuyên truyền quan điểm, đường
lối đúng đắn của Đảng về công tác vận động, phát huy vai trò người Việt Nam ở
nước ngoài chưa được quán triệt đầy đủ, sâu sắc trong bộ máy Đảng, Nhà nước,
các đoàn thể nhân dân. Trong quá trình xây dựng hệ thống chính sách về công
tác này đôi khi bị ảnh hưởng bởi "ban phát quyền lợi" cho kiều bào, chưa thể
hiện rõ trên thực tế quan điểm chiến lược của Đảng về phát huy sức mạnh đại
đoàn kết toàn dân tộc và kiều bào là một bộ phận không thể tách rời của dân tộc.
Trong quá trình triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách về vận động,
phát huy vai trò của người Việt Nam ở nước ngoài, nhiều cơ quan chức năng
chưa thực sự nhạy bén trong phân tích những diễn biến mới của tình hình để chủ
động ứng phó đối với những thách thức đang đặt ra. Công tác vận động, tuyên
truyền chưa tính toán tới việc cần thiết phải khu biệt từng nhóm đối tượng kiều
bào để có nội dung và phương pháp phù hợp; nhiều lúc, nhiều nơi công tác này
còn bó hẹp trong các hội đoàn và cá nhân tích cực, chưa đủ sức nhân rộng ra
cộng đồng. Các hình thức, phương pháp vận động, phát huy thiếu linh hoạt, sáng
tạo, còn có khuynh hướng nặng về khai thác, tranh thủ sự đóng góp vật chất của
kiều bào hơn là quan tâm tới tâm tư, tình cảm, nguyện vọng, hỗ trợ và bảo vệ
quyền lợi chính đáng của kiều bào ở các nước sở tại cũng như khi họ về nước.
Nhiều tổ chức hữu quan chưa thực sự thể hiện vai trò là chỗ dựa cần thiết cho
các đối tượng kiều bào gặp nhiều khó khăn của cuộc sống tha hương. Công tác
thông tin văn hóa mới chỉ đáp ứng được nhu cầu một bộ phận kiều bào, chưa
phát huy tốt tác dụng trong ngăn ngừa, đấu tranh với những luận điệu của bọn

Từ những vấn đề đặt ra ở trên, nghiên cứu đề tài “Phát huy vai trò của
người Việt Nam ở nước ngoài đối với công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay" có
ý nghĩa khoa học thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Thực tiễn hoạt động của công tác vận động, phát huy vai trò của người
Việt Nam ở nước ngoài đối với công cuộc xây dựng đất nước những năm qua
đạt được nhiều thành tựu quan trọng nhưng việc nghiên cứu về vấn đề này chưa
thực sự được quan tâm tương xứng. Cho đến nay có không nhiều các công trình
nghiên cứu về vấn đề này kể cả ở trong nước và nước ngoài, chưa có chuyên
khảo chuyên sâu. Tổng hợp về lịch sử nghiên cứu vấn đề này trên sách, báo tạp
chí có thể khái quát thành một số nhóm nghiên cứu sau:
Thứ nhất, các chuyên khảo về ngoại giao Việt Nam trong thời kỳ đổi mới
đã phản ánh công tác vận động, phát huy vai trò của người Việt Nam ở nước
ngoài như một mảng trong hoạt động ngoại giao. Tiêu biểu là các công trình
nghiên cứu: Bộ Ngoại giao, "Ngoại giao Việt Nam 1945-2000”, Nxb. CTQG, H,
2002; Vũ Dương Huân, "Ngoại giao Việt Nam hiện đại vì sự nghiệp đổi mới
(1975-2002)”, Học Viện Quan hệ Quốc tế, lưu hành nội bộ, năm 2002; Lưu Văn
Lợi, "Năm mươi năm ngoại giao Việt Nam 1945-1995", tập 2 (Ngoại giao Việt
Nam 1975-1995), Nxb. Công an Nhân dân, H, 1998... Trong các chuyên khảo
3


này, bên cạnh những vấn đề lớn như: chủ trương của Đảng đối với ngoại giao
Việt Nam qua các thời kỳ, đặc biệt là thời kỳ đổi mới; thành tựu và những vấn đề
đặt ra đối với việc tăng cường mối quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam với các khu
vực, quốc gia cụ thể... vấn đề người Việt ở nước ngoài được đề cập trên những
nét chính như tình hình biến đổi về cộng đồng người Việt ở nước ngoài trong quá
trình đổi mới, hội nhập; vai trò, đóng góp của cộng đồng người Việt Nam ở nước
ngoài trong củng cố, tăng cường quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam với các quốc
gia, vùng lãnh thổ sở tại; những hoạt động của ngành ngoại giao Việt Nam đối với

vùng: Tây Âu, Bắc Mỹ, Liên Xô trước đây và Đông Âu, Ôxtrâylia và Đông Nam
Á; theo từng nhóm người: trí thức, sinh viên, doanh nghiệp, văn nghệ sĩ, lao
động...
+ Nguyễn Văn Phẩm, "Tri thức kiều bào "nguồn nội lực" phát triển khoa
học và công nghệ nước nhà", Tạp chí Quê hương, năm 2003. Trong bài viết này,
tác giả đã nêu và phân tích về số lượng, chất lượng đội ngũ trí thức khoa học
công nghệ là người Việt Nam ở nước ngoài. Trên cơ sở đánh giá về thực trạng
việc khai thác nguồn lực này đối với sự phát triển của đất nước những năm qua,
tác giả đã khuyến nghị những giải pháp hữu hiệu để Đảng và Chính phủ tăng
cường việc thu hút, sử dụng nguồn lực có giá trị này đối với sự nghiệp CNH,
HĐH của Việt Nam hiện nay.
+ Nguyễn Thanh Sơn: Công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài
trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, tạp chí Cộng sản online, ngày
1-3- 2010, tác giả khái quát quá trình vận động người Việt Nam ở nước ngoài
từ 1945 đến thời kỳ đổi mới.
+ Các báo cáo, tài liệu tham khảo của các tổ chức hữu quan như: Ban Việt
Kiều Trung ương (nay là Ủy ban người Việt Nam ở nước ngoài), Bộ Nội vụ...,
đã cung cấp những số liệu cụ thể cũng như những đánh giá khách quan về tình
hình người Việt ở nước ngoài qua từng năm, hoặc một số giai đoạn cụ thể và
trên nhiều phương diện. Tiêu biểu như: Ban Việt kiều Trung ương, Báo cáo số
158/VK ngày 7-8-1990 Về tình hình người Việt Nam định cư ở nước ngoài (Tài
liệu lưu tại ủy ban về NVNONN); Ban Việt kiều Trung ương, Báo cáo số
105/VK ngày 13-3-1993 Về ban hành Nghị quyết của Đảng về công tác vận
động cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài (Tài liệu lưu tại Ủy ban về
NVNONN); Ban Việt kiều Trung ương, Báo cáo số 432/VK, ngày 28-12-1988
Về tình hình Hội người Việt Nam ở Canada (Tài liệu lưu tại Ủy ban về
NVNONN); Bộ Nội vụ, Tổng cục V (1997), Cộng đồng người Việt Nam ở nước
ngoài, Tài liệu tham khảo nội bộ, Hà Nội; ; Tổng kết hoạt động của Ủy ban
người Việt Nam ở nước ngoài được đăng trên tạp chí Quê Hương. Tiêu biểu
như: Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài, 50 năm – một chặng

trên một số lĩnh vực chủ yếu của đất nước những năm qua.
+ Nguyễn Phú Bình, "Công tác vận động người Việt Nam ở nước ngoài
và những bài học thực tế"- Tạp chí Cộng sản số tháng 2 năm 2005 và "Những
chuyển biến tích cực trong công tác vận động cộng đồng người Việt Nam ở nước
ngoài năm 2005" - Tạp chí Cộng sản năm 2006; "Tiếp tục thực hiện tốt hơn nữa
công tác vận động người Việt Nam ở nước ngoài" - Tạp chí Thông tin Đối ngoại
năm 2006.

6


+ Đặng Thế Hùng, Tiếng Việt và cộng đồng người Việt Nam ở nước
ngoài, tạp chí Quê Hương số tháng 11 - 2008.
+ Nguyễn Thế Cường, Kiện toàn bộ máy công tác về người Việt Nam ở
nước ngoài : Thực tiễn và yêu cầu đạt ra, tạp chí Quê Hương, số tháng 102010.
+ Nguyễn Dy Niên, 50 năm đôi điều suy nghĩ, tạp chí Quê Hương số
tháng 11 -2009.
+ Phạm Trường Giang, Hội nghị người Việt Nam ở nước ngoài lần thứ
nhất, tạp chí Quê Hương tháng 11- 2009.
+ Tạ Nguyên Ngọc: Phát huy nguồn lực của người Việt Nam ở nước
ngoài trong sự nghiệp phát triển đất nước, Tạp chí Quê Hương số 11- 2009.
+ Vũ Lê Hà, Bảo hộ công dân và pháp nhân Việt Nam ở nước ngoài:
Quán triệt phương châm chủ động kịp thời, nhanh chóng, hiệu quả, tạp chí Quê
Hương, số tháng 10 - 2010.
Mặc dù dung lượng các bài viết không lớn nhưng tác giả đã khái lược,
tổng kết được những nét chính của công tác vận động người Việt Nam ở nước
ngoài và phân tích những chuyển biến tích cực của công tác này trong năm 2005
trên các mặt chủ yếu. Tác giả đã khái quát những đổi mới về nội dung, phương
pháp tuyên truyền, vận đồng kiều bào qua hệ thống thông tin, văn hóa văn nghệ;
trong kết hợp vận động mang tính tổ chức với vận động bằng ảnh hưởng của các

cứu một cách hệ thống toàn diện về vấn đề đã nêu là nhiệm vụ khoa học có giá
trị thực tế của đề tài.
3. Mục tiêu và giới hạn phạm vi nghiên cứu
3.1. Mục tiêu của đề tài
- Luận chứng cơ sở khoa học về việc tăng cường và phát huy vai trò của
người Việt Nam ở nước ngoài trong giai đoạn hiện nay.
- Đề xuất những định hướng và giải pháp vào việc phát huy vai trò của
cộng đồng người Việt ở nước ngoài trong việc xây dựng và bảo vệ đất nước
trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
3.2. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Đề tài nghiên cứu về đường lối, chủ trương của Đảng và
Nhà nước trong việc vận động, phát huy vai trò của cộng đồng người Việt Nam
ở nước ngoài ở tất cả các nước và vùng lãnh thổ trên thế giới và sự đóng góp của
kiều bào trên một số lĩnh vực chủ yếu, như kinh tế, y tế - giáo dục, văn hóa -xã
hội, đấu tranh chống phá Nhà nước ta.
Về thời gian: Nghiên cứu việc đóng góp và phát huy vai trò của người
Việt Nam ở nước ngoài từ năm 1986 đến năm 2010. Tuy nhiên, để tìm hiểu về

8


cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài và quá trình nhận thức của Đảng, đề
tài có nghiên cứu những vấn đề trên thời gian trước năm 1986.
4. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu về đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước về
người Việt Nam ở nước ngoài trong việc vận động và phát huy người Việt Nam
ở nước ngoài trong công cuộc đổi mới đất nước.
5. Phương pháp luận và Phương pháp nghiên cứu
- Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở vận dụng phương pháp luận chủ nghĩa
Mác - Lênin, phép biện chứng duy vật lịch sử

- Phương pháp thống kê toán học: Phương pháp này được sử dụng để xử
lý các số liệu có liên quan đã được tập hợp, phân tích trong các báo cáo của các
cơ quan hữu quan, sách, báo, tạp chí và trong quá trình khảo sát thực tiễn.
Đề tài sẽ chuyển giao trực tiếp kết quả nghiên cứu cho Bộ Ngoại giao,
Ban Đối ngoại Trung ương, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Học viện Chính trị –
Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh và những cơ quan có liên quan
6 . Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp luận cứ khoa học cho các bộ,
ban, ngành, các tổ chức có liên quan tiếp tục đổi mới nội dung, phương pháp vận
động, phát huy vai trò của người Việt ở nước ngoài đối với công cuộc đổi mới
đất nước hiện nay.
- Khuyến nghị sửa đổi, bổ sung những cơ chế còn bất cập hiện nay về
công tác quản lý, phát huy vai trò, sự đóng góp của người Việt đối với sự nghiệp
đổi mới đất nước hiện nay.
7. Kết cấu của tổng quan
Tổng quan khoa học của đề tài được kết cấu thành 3 phần với những nội
dung nghiên cứu sau đây:
Chương 1: Người Việt Nam ở nước ngoài và những yêu cầu đặt ra đối với
công tác vận động, phát huy vai trò của người Việt Nam ở nước ngoài đối với
công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay
Chương 2: Thực trạng công tác vận động, phát huy vai trò của người Việt
ở nước ngoài đối với công cuộc đổi mới từ năm 1986 đến năm 2010
Chương 3: Định hướng và giải pháp nâng cao chất lượng công tác vận
động, phát huy vai trò của người Việt ở nước ngoài đối với công cuộc đổi mới.

10


CHƯƠNG 1:
NGƯỜI VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI VÀ NHỮNG YÊU CẦU

“người Việt hải ngoại”, “cộng đồng người Việt tự do”… Tại Nga và các nước
11


Đông Âu, những người Việt Nam ở đây dù đã định cư cũng không muốn coi
mình là Việt kiều vì mặc cảm cho rằng Việt kiều chỉ dùng để chỉ những người
Việt Nam ở các nước tư bản phương Tây và sợ lẫn với người Việt tị nạn ở nước
này.
Đại Từ điển tiếng Việt 1999 chú giải từ “kiều” là yếu tố ghép sau một
danh từ riêng, tên gọi một dân tộc để cấu tạo một danh từ, có nghĩa “Kiều dân”,
ví dụ, Hoa kiều, Việt kiều ở Mỹ, về ngôn ngữ, “kiều” mang ý xa xôi, sống phiêu
bạt ở nước ngoài.
Kiều bào là khái niệm được sử dụng nhiều trong các Nghị quyết của
Đảng, phát biểu của các lãnh đạo Đảng và Nhà nước. Đại Từ điển tiếng Việt
năm 1999 ghi “Kiều bào là dân nước mình đang sống ở nước ngoài”.1 Tuy nhiên
trong thực tế người ta không sử dụng kiều bào để chỉ những người Việt Nam đi
lao động, học tập có thời hạn ở nước ngoài.
Khái niệm Người Việt định cư ở nước ngoài lần đầu tiên được sử dụng
trong Hiến pháp 1992; được giải thích một cách chính thức trong Luật Quốc tịch
Việt Nam 1998. Điều 2, khoản 4 của Luật nêu rõ: “Người Việt Nam định cư ở
nước ngoài là công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú, làm ăn sinh
sống lâu dài ở nước ngoài”. Định nghĩa này cũng chỉ mang tính ước lệ. Trong
thực tế, xác định rõ quy chế định cư của NVONN, người ta thường phải xem xét
trong từng trường hợp cụ thể trên cơ sở giấy tờ của đương sự, các mối quan hệ,
luật pháp sở tại.
Khái niệm “người Việt Nam ở nước ngoài” được sử dụng phổ biến hiện
nay. Năm 1993, Ban Việt kiều Trung ương cũng được đổi tên Ủy ban về người
Việt Nam ở nước ngoài. Điều 2, khoản 3 Luật Quốc tịch Việt Nam 1998 quy
định: “Người Việt Nam ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người gốc Việt
Nam thường trú hoặc tạm trú ở nước ngoài”, có thể nói đây là khái niệm rộng

con vua Lý Anh Tông, em vua Lý Cao Tông và là chú vua Lý Huệ Tông… Lý
Long Tường khi vừa trưởng thành gặp lúc triều Lý đang buổi suy vong, Hoàng
triều có quá nhiều biến cố dẫn đến sự sụp đổ của nhà Lý (1009 – 1225).
Một nước láng giềng tuy không thật gần với Việt Nam về mặt địa lý,
nhưng xét về mặt phát triển giao thông thì có thể tin là nước này có liên hệ với
Việt Nam từ rất sớm, ít nhất cũng trên dưới 400 năm, đó là Nhật Bản. Qua bài
“Một mối tình Nhật – Việt 400 năm trước” của tác giả Trịnh Tiến Thuận đăng
trên tờ Phụ nữ ngày 10-4-1996, tác giả cho biết: “Từ thế kỷ thứ VIII một người
Nhật tên là Abờ Nakamaru đã phụng mệnh vua Đường sang An Nam đô hộ phủ
làm quan "Tả tôn kỵ thường thị”. Tới nửa đầu thế kỷ XV đã cõ một số người
Nhật đến Việt Nam buôn bán. Thời gian từ 1573 đến 1636 người Nhật đến Việt
Nam thường xuyên hơn và họ đã đóng vai trò khá quan trọng trong các hoạt
động kinh tế, nhất là tại khu vực của miền Trung Việt Nam lúc bấy giờ. Quá
trình người Nhật đến Việt Nam cũng gắn liền với việc người Việt Nam đến Nhật
làm ăn. Theo sử liệu Nhật Bản, công chúa của chúa Nguyễn gọi là Ngọc Vạn mà
13


người Nhật gọi là Anio, vào năm 1969 đó kết hôn với Asaki Sotaro, sau đó theo
chồng về Nagasaki.
Tác giả Trần Ánh viết: “Mối bang giao giữa triều đình nhà Nguyễn với
triều đình Nhật Bản không đơn thuần ở các bức thư từ trao đổi. Việc chúa
Nguyễn gửi 1 trong 4 cô công chúa yêu của mình là công chúa Ngọc Hoa cho
một cô công chúa tiếng tăm thời bấy giờ của Nhật cũng đã nói lên mối quan hệ
Việt – Nhật thắm thiết tời mức nào”.1
Từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, cùng với việc mở rộng kiều cư ra các
nước Châu Á là các phong trào hoạt động yêu nước mag dậm rộ nhất là phong
trào Đông Du do Phan Bội Châu khởi xướng. Phan Bội Châu hoạt động tại Nhật
Bản và Trung Quốc từ năm 1904 đến năm 1925; cũng từ năm 1904, Tăng Bạt
Hổ cũng xuất du sang Nhật, mưu đồ cứu nước, ông cùng với những người đồng

may mắn hơn được làm công chức cho Pháp. Số lượng bị cưỡng bức di cư đi
lính chiếm khoảng 51% trong tổng số người di cư ở giai đoạn này. Nếu tính cả
49.000 người bị đưa đến các nhà máy để sản xuất thiết bị quân sự, thì gần như
100% người Việt Nam di cư bị cưỡng bức trong khoảng thời gian này.
Một đặc điểm không thể không nói đến là 100.000 người bị ép buộc di cư
đã phải rời bỏ quê hương sang một xứ sở hoàn toàn xa lạ, nhiều người đã bỏ xác
ngoài mặt trận. Xứ sở xa lạ ấy hoàn toàn lạ lẫm đối với xứ An Nam thuộc địa,
không chỉ khác biệt về chủng tộc, màu da, tiếng nói, mà khác cả phong tục, tập
quán nói riêng và văn hóa nói chung. Nỗi nhớ cố hương luôn thôi thúc họ. Vì
vậy, phần lớn trong số đó không có ý định định cư lâu dài, mà chỉ cầm súng
hoặc kiếm kế sinh sống tạm thời, mong chiến tranh kết thúc và chờ khi có điều
kiện thuận lợi là họ sẵn sàng trở về Việt Nam. Có thể nói đây là cuộc di cư
không tự nguyện lớn nhất cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đến trước năm 1954.
Sách giáo khoa, tài liệu lịch sử Việt Nam có nhắc đến số phận của những
người nông dân ở cả ba miền Bắc, Trung, Nam bị chính quyền thực dân đưa
sang Pháp, làm bia đỡ đạn trong cuộc chiến với nước Đức hoặc làm công trong
những nhà máy sản xuất vũ khí. Họ được nhắc tới như những người con của đất
Việt vì nhiều lý do đã sang nước Pháp, phục vụ cho cỗ máy chiến tranh, đặc biệt
trong giai đoạn Thế chiến II (1939-1945). Trong một số tác phẩm của mình, cố
bác sĩ Nguyễn Khắc Viện, đồng thời cũng là một nhà nghiên cứu lịch sử, có
nhắc tới chuyện ông khám và chữa bệnh cho những người lính thợ Việt Nam khi
ông ở Pháp. Những người Việt Nam mang tới cho vùng đất Camarque (Pháp)
giống gạo ngon nổi tiếng, nhờ kinh nghiệm làm nông nghiệp từ quê hương cũng
từng được nhắc tới.
Pierre Daum, nhà báo, nhà nghiên cứu lịch sử người Pháp sau ba
năm điều tra từ vùng ngoại ô Paris và Marseille, cho đến Hà Nội và những làng
quê hẻo lánh ở Việt Nam, đã tìm được 25 nhân chứng cuối cùng còn sống để
viết lại những trang cay đắng của lịch sử thuộc địa Pháp ở Đông Dương. Theo
nghiên cứu của Pierre Daum, Thế chiến II bùng nổ, nước Pháp không chỉ cần
binh lính, mà còn cần những người thợ trong các xưởng vũ khí để thay thế cho

nước Tây và Bắc Âu.
Trong những ngày cuối cùng của Chính phủ Việt Nam Cộng hòa, khoảng
140.000 người Việt có quan hệ chặt chẽ với chế độ này đã di tản đến các trại tị
nạn tạm thời của Mỹ ở vùng Thái Bình Dương, đó là các căn cứ quân sự của Mỹ
trong cuộc chiến tranh Việt Nam như đảo Guam, Clark, Wake, quần đảo Hawai,
Vịnh Subic… kể cả Philipin, Thái Lan để rồi lần lượt sau đó chuyển đến Căn cứ
16


không quân Eglin ở Florida, Fort Indiantown Gap tại Camp Pendleton
Pennsylvania ở California, Fort Chaffee ở Arkansas. Sau khi tạm cư một thời
gian từ vài tuần cho đến vài tháng hoặc lâu hơn cho đến khi các trại tiếp cư này
đóng cửa vĩnh viễn vào cuối năm 1975, có tới 111.919 người được nhập cư vào
nước Mỹ nhờ Đạo luật Di cư Đông Dương và Đạo luật hỗ trợ người tị nạn. Một
số khác đã đến định cư ở các nước khác, như: Pháp, Đức, Thụy Sĩ, Bỉ, Canada...
Tiếp theo sau đó là một đợt di tản nhỏ hơn của người Việt tự tìm đường đến các
nước láng giềng tại Đông Nam Á. Đến cuối năm 1975, khoảng 5.000 người đến
Thái Lan, 4.000 đến Hồng Kông, 1.800 đến Singapore, 1.700 đến Philippines…
Cũng từ đây bắt đầu hiện tượng di dân lớn bằng các loại tàu, thuyền khác nhau
hoặc thuê người đóng mới để vượt biên bằng đường biển. Về sau người ta
thường gọi những người ra đi như thế là “thuyền nhân Việt Nam”.
Khoảng 150.000 người đã ra đi năm 1975, trong đó có 140.000 người ra
đi cuối tháng 4/1975. Sau 1975, binh sĩ và những đối tượng khác thuộc chế độ
cũ (Việt Nam Cộng hòa), học tập trong các trại cải tạo với thời hạn khác nhau từ
vài ngày đến 10 năm cũng di cư đến Mỹ, Pháp, Canada, Đức, Đan mạch, Thụy
Điển, Bỉ, Ôxtrâylia... Đây là cuộc di cư lớn nhất trong lịch sử di cư của người
Việt, nó làm thay đổi sâu sắc không chỉ số lượng, thành phần, tính chất, mà cả
địa bàn sinh sống của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.
Như vậy, do nhiều nguyên nhân khác nhau, các cuộc di cư đã trở thành
những đợt vượt biên theo cách khác nhau. Tiếp đó là số người đi ra nước ngoài

Đông Âu và thế giới, việc đưa người Việt ra nước ngoài đã có sự thay đổi trong
quan điểm của Chính phủ Việt Nam và của bản thân những người di cư ở giai
đoạn này. Đó là những người di cư ra nước ngoài để học tập, lao động và làm
việc với tư cách chuyên gia y tế, giáo dục, nông nghiệp. Ở giai đoạn này Chính
phủ Việt Nam đã gửi khoảng 1 triệu lượt người tới hơn 30 nước và vùng lãnh
thổ, trong đó có nhiều người Việt Nam di cư tự nguyện và hợp pháp. Số lượng
lưu học sinh gửi đi các nước tăng dần hàng năm, đặc biệt là tới Mỹ và Nga. Sau
15 năm, Mỹ và Việt Nam bình thường hóa quan hệ ngoại giao (1995-2010), Đại
sứ quán cùng với Tổng Lãnh sự quán Mỹ tại TP. Hồ Chí Minh đã cấp gần
300.000 visa không định cư, trong đó có khoảng 40.000 visa cấp cho thanh,
thiếu niên Việt Nam đến Mỹ học tập. Đến nay, có gần 13.000 sinh viên Việt
Nam ở Mỹ và Việt Nam đứng vị trí thứ 8 xét về số sinh viên ở Mỹ. Đây là biểu
tượng cho một trong những trụ cột quan trọng nhất trong mối quan hệ song
phương Mỹ - Việt Nam. Số lượng người di cư học tập, xuất khẩu lao động làm
việc ở nước ngoài trong thời gian này có khoảng gần 1 triệu lựợt người, tăng dần
hàng năm từ hàng nghìn đến hàng vạn người/năm. Hình thức và ngành nghề
xuất khẩu lao động ngày càng đa dạng (xây dựng, công nghiệp, nông nghiệp,
dịch vụ, vận tải biển, đánh bắt và chế biến hải sản, chuyên gia y tế, giáo dục,
nông nghiệp). Mức lương và thu nhập của người lao động cũng đã được tăng
dần lên qua các năm. Người lao động đi làm việc ở nước ngoài có thu nhập cao
18


hơn từ 6 đến 10 lần so với thu nhập của những người cùng công việc làm việc
trong nước.
Theo số liệu của Cục Quản lý lao động ngoài nước (Bộ Lao động –
Thương binh và Xã hội), từ năm 2001 đến 2010, Việt Nam đã gửi 739.710 lao
động Việt Nam làm việc tại trên 40 nước và vùng lãnh thổ. Tính trung bình mỗi
năm Việt Nam có khoảng 70.000 di cư lao động làm việc ở các nước. Thu nhập
của họ không những cải thiện đời sống cho gia đình, mà còn bổ sung nguồn vốn

xu hướng chính trị, địa vị pháp lý, thế hệ và đa dạng về nghề nghiệp, tôn giáo,
dân tộc… Sự phức tạp này cũng rất khác nhau giữa các địa bàn và thể hiện dưới
nhiều góc độ.
- Về số lượng, sự phân bố.
Số lượng và sự phân bố người Việt Nam ở các nước Tây Âu, Bắc Mỹ,
nhật và Ôxtrâylia chịu ảnh hưởng rất nhiều bởi sự kiện Mỹ thất bại tại Việt
Nam. Những Việt kiều này tới định cư chủ yếu sau sự kiện tháng 5-1975, với
mục đích định cư lâu dài và họ tập trung thành một vùng riêng biết nhất là ở Mỹ.
Phần lớn cộng đồng đã hòa nhập và ổn định về địa vị pháp lý và kinh tế, có tiềm
năng trí thức, có khă năng giúp mở rộng quan hệ, mở thị trường.Tuy vậy, đây
cũng là nơi tập trung lực lượng có khuynh hướng chính trị khác biệt và thường
có những hành động chống đối về trong nước.
Khu vực các nước láng giềng Lào, Campuchia, Thái Lan, Trung Quốc và
một số các quốc gia Đông Nam Á khác, cộng đồng người Việt thường hình
thành sớm, gắn bó với nhau và có tinh thần cách mạng, tinh thần dân tộc cao, có
nhiều đóng góp cho các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Nhìn chung, điều
kiện kinh tế Kiều bào nơi đây còn khó khăn hơn các khu vực khác, ít người được
học cao.
Trong khi đó kiều bào ở các nước thuộc Liên Xô trước đây và Đông Âu
lại có những nét đặc thù riêng. Cộng đồng hình thành chủ yếu từ sau năm 1990,
kể từ khi chế độ XHCN của các nước trên đây không còn, phần lớn là cán bộ,
học sinh được cử đi công tác, học tập và lao động đã ở lại. Những năm từ 1980
đến 1989, số lượng mới chỉ có khoảng 2000 người. Năm 1990 tăng lên khoảng
3000 và đến nay con số đã là hơn 300.000 người. Tỷ lệ người có xu hướng định
cư ở một nơi nào đó là rất ít, nhiều người không có giấy phép cư trú, không có
tư cách pháp lý. Không ít người đã qua đào tạo nhưng chuyển sang kinh doanh,
nhạy bén với thị trường, có vốn đầu tư ở trong và ngoài nước và là đầu mối để
nhiều mặt hàng Việt Nam xuất khẩu vào các thị trường này. Tâm lý chung của
họ là sẽ quay trở về nước làm ăn khi gặp khó khăn hoặc khi đã tích lũy được
một số vốn nhất định.

Chính sách đổi mới, mở cửa đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại của
bà con kiều bào ở nước ngoài về Tổ quốc và người ở trong nước đi ra nước
ngoài. Trong những năm gần đây, có hàng trăm nghìn người Việt nam lao động
tại nước ngoài, mỗi năm cũng có hàng nghìn người Việt Nam kết hôn với công
dân các nước và ngược lại… Và chúng ta đã tạo thuận lợi về cơ sở pháp lý cho
các đối tượng này có cuộc sống ổn định và bình đẳng trước pháp luật của Việt
Nam
- Về đời sống kinh tế và quan hệ thương mại.
21


Trong những năm qua, mặc dù thế giới có nhiều biến động, song cộng
đồng người Việt Nam ở nước ngoài vẫn đang phát triển theo hướng ngày càng
ổn định và hoà nhập tốt hơn vào xã hội nước sở tại; có vị trí, ảnh hưởng nhất
định ở nơi cư trú và có tác động ở mức độ khác nhau trong việc duy trì, củng cố
và phát triển mối quan hệ giữa Việt Nam với nước sở tại có người Việt Nam
sinh sống.
Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là cộng đồng trẻ, được hình
thành và phát triển chủ yếu từ giữa những năm 70 của thế kỷ trước, nên tiềm
năng kinh tế và địa vị chính trị của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài còn
ở mức khiêm tốn.
Về mặt kinh tế, tại các nước phương Tây, mặc dù đa số bà con đã ổn định
cuộc sống và được đánh giá là một cộng đồng phát triển nhanh có nhiều khả
năng và triển vọng trong làm ăn, kinh doanh, nhưng hiện tại số người giàu có
với mức vốn vài triệu USD trở lên còn ít; đại đa số bà con có mức sống thuộc
loại trung bình hoặc trung bình thấp so với mức sống của người dân sở tại.
Do nhu cầu cuộc sống, khoảng 2/3 số đồng bào đã nhập quốc tịch nước
ngoài. Mức sống của kiều bào thuộc loại trung bình thấp hoặc trung bình so với
mức sống của người dân sở tại, đa số làm thuê, số giàu có với mức vốn vài triệu
USD còn rất ít. Các doanh nghiệp của kiều bào chủ yếu phục vụ trong cộng

trung sinh sống tại các thành phố lớn và làm công ăn lương hoặc mở các cửa
hàng buôn bán nhỏ như vải sợi, may vá, nhà hàng, dịch vụ cho cộng đồng người
Việt (môi giới dịch vụ, bảo lãnh, mua bán xe cũ, cho thuê đồ cưới, khai thuế,
dạy lái xe, sửa nhà , làm mộc...). Phần đông bà con người Việt tại Ôxtrâylia là
những người nghèo. Theo tài liệu Community Profiles - 1991 Census- Việt Nam
Born của Chính phủ Australia, mức lương trung bình của người Việt tại
Ôxtrâylialà 8.300 đô la Australia /năm, trong khi đó dân bản xứ là 14.200 đô la
Ôxtrâylia/ năm. Mặt khác, tỷ lệ thất nghiệp người Việt Nam cao nhất so với gần
80 cộng đồng cư dân nước ngoài sống ở Ôxtrâylia.
Tại các nước Tây Âu và Bắc Âu, ít người Việt giàu có; đa số là những
người làm thuê, làm công ăn lương hoặc hưởng trợ cấp xã hội. Cũng như ở Mỹ,
tại một số khu vực tập trung đông người Việt Nam sinh sống ở Pháp, Cộng hoà
liên bang Đức... các doanh nghiệp, cửa hàng, cửa hiệu buôn bán của kiều bào đã
và đang bị các đối thủ kinh tế của một số cộng đồng kiều dân khác cạnh tranh,
lấn át.
Ở các nước láng giềng như Lào, Trung Quốc, Campuchia, đa số kiều bào
có cuộc sống vật chất khó khăn, nhất là kiều bào ta ở Campuchia. Họ chủ yếu
làm thợ, dịch vụ nhỏ, đánh bắt cá... ở Thái Lan, do quan hệ giữa Việt Nam và
Thái Lan được cải thiện, chính sách đối với kiều bào ta của Chính phủ Thái ngày
càng tích cực, nên kiều bào có nhiều thuận lợi hơn trong làm ăn và có vai trò
tương đối lớn trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ ở các tỉnh Đông Bắc Thái Lan.
23



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status