I. TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Tiếng Việt là môn học có vai trò rất quan trọng đối với học sinh, nhất là học sinh
bậc Tiểu học. Môn Tiếng Việt cung cấp kiến thức và trau dồi ngôn ngữ cho học sinh,
tạo điều kiện cho các em học tốt các môn khác. Bậc Tiểu học, ở lớp 2 học sinh mới
làm quen với phân môn Luyện từ và câu nên các em còn bỡ ngỡ. Đầu năm học, các em
không biết luyện từ và câu là gì, học như thế nào. Luyện từ và câu vừa hình thành,
khai thác, cung cấp về từ ngữ vừa kết hợp với việc cung cấp các kiến thức về câu. Các
kiến thức về từ và câu không dạy riêng lẻ, tách biệt nhau mà chúng đồng hành hỗ trợ
qua lại cho nhau giúp cho việc dạy và học môn Tiếng Việt đảm bảo tính chặt chẽ,
lôgic. Vì vậy, muốn các em học tốt phân môn này để làm nền tảng cho những lớp trên
của bậc Tiểu học, trước hết giáo viên cần rèn cho các em những kĩ năng cơ bản trong
quá trình học, đồng thời cũng rèn cho các em các kỹ năng dùng từ đặt câu, mở rộng
vốn từ để làm cơ sở cho việc học phân môn Tập làm văn và các môn học khác.
Qua dự giờ thăm lớp và thực tế giảng dạy, chúng tôi nhận thấy nhiều học sinh
nắm kiến thức về từ và câu chưa chắc chắn, một số em chỉ nắm kiến thức mang tính
tức thời, dễ nhớ, mau quên, trong giờ học còn lơ là, chưa tập trung, kĩ năng dùng từ
chưa chính xác, đặt câu chưa đúng theo mẫu, lời văn chưa hay, ý chưa phong phú. Một
số em rất sợ khi học đến phân môn này.
Đối với môn Tiếng Việt, ở lớp Một các em chỉ chú trọng đến đọc đúng, viết
đúng. Sang lớp Hai các em phải học nhiều phân môn hơn, Luyện từ và câu lại là phân
môn khó, làm thế nào để thu hút học sinh học tập ? Làm thế nào để học sinh không
cảm thấy bỡ ngỡ, sợ sệt khi học Luyện từ và câu ?
Trò chơi học tập môn Tiếng Việt nhằm tạo điều kiện cho các em thực hành, rèn
luyện các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết đồng thời tiếp thu bài học một cách nhẹ nhàng,
tự giác và sáng tạo. Tham gia vào các trò chơi học tập, học sinh còn được rèn luyện
phát triển cả về thể lực và nhân cách, đáp ứng yêu cầu của môn học.
Đặc biệt trò chơi học tập được áp dụng nhiều nhất ở phân môn Luyện từ và câu,
là hình thức tổ chức dạy học gây hứng thú học tập cho học sinh, giúp học sinh thoải
mái học tập, tạo không khí sôi nổi, làm cho các em thấy gần gũi với môn học này hơn,
không còn sợ sệt đối với môn học này, giúp các em học tập tích cực hơn, nhớ bài kĩ
hơn và vận dụng vào bài tập có hiệu quả hơn.
các em có nhiều vốn từ hơn, đặt câu hay hơn, phong phú hơn. Kết quả là học sinh chưa
làm quen với sự tư duy, sáng tạo trong cách nghĩ, cách làm .
Trong thực tế, giáo viên thường tổ chức trò chơi để củng cố kiến thức, kỹ năng
chứ chưa mạnh dạn tổ chức cho học sinh trò chơi để hình thành kiến thức, kỹ năng
mới. Mặc khác, giáo viên ngại phải đầu tư, suy nghĩ và mạo hiểm vì muốn tổ chức trò
chơi phải có nhiều đồ dùng dạy học và mất nhiều thời gian hoặc nếu làm không tốt sẽ
làm mất trật tự trong giờ học khiến hiệu quả tiết dạy không cao.
* Đối với học sinh:
- Học sinh còn bỡ ngỡ khi học phân môn này, các em chưa có hứng thú và tâm
thế để học tập.
- Phần mở rộng vốn từ học sinh tìm từ rất ít, chỉ một đến hai từ, đặt câu chủ yếu
dựa vào câu mẫu của giáo viên, các em chưa biết tự suy nghĩ để tìm ra câu mới.
- Khả năng tiếp thu bài của học sinh còn chậm.
Để làm thay đổi hiện trạng trên, đề tài nghiên cứu này chú trọng đến phương
pháp tổ chức trò chơi học tập khi dạy Luyện từ và câu cho học sinh. Sử dụng phương
pháp tổ chức trò chơi không những ở phần củng cố kiến thức, kĩ năng mà còn áp dụng
vào phần truyền thụ kiến thức mới giúp các em tiếp thu bài học một cách nhẹ nhàng,
thoải mái, tích cực hơn và hiệu quả hơn.
2. Giải pháp thay thế:
Phương pháp tổ chức trò chơi là một hình thức học tập bằng hoạt động hấp dẫn học
sinh, do đó duy trì tốt hơn sự chú ý của các em đối với bài học. Trò chơi làm thay đổi hình
thức học tập bằng hoạt động trí tuệ, làm giảm tính chất căng thẳng của giờ học làm cho
các em được thoải mái hơn, tham gia học tập tích cực hơn, nhớ bài kĩ hơn, kích thích học
sinh tư duy làm nâng cao kết quả học tập. Bên cạnh đó, trò chơi sẽ tạo cơ hội rèn luyện kỹ
năng hợp tác cho học sinh, giúp các em đoàn kết và biết tự thể hiện khả năng của mình
trước bạn bè.
3. Một số nghiên cứu gần đây có liên quan đến đề tài:
- Kinh nghiệm rèn học sinh học tốt phân môn Luyện từ và câu khối 2 trường Tiểu
học Bàu Năng B của tác giả Nguyễn Thị Thu Thảo.
- Trò chơi thực hành Tiếng Việt 2 - Nhà xuất bản Giáo dục (Tác giả Vũ Khắc Tuân).
NỮ
DT KINH
26
15
26
15
25
13
25
13
Học lực
GIỎI KHÁ TB
18
6
2
18
6
1
Hạnh kiểm
YẾU
THĐĐ
26
25
2. Thiết kế nghiên cứu:
Chọn hai lớp nguyên vẹn: lớp 2C là lớp thực nghiệm, lớp 2D là lớp đối chứng.
Cho hai lớp 2C và 2D làm bài kiểm tra 1 tiết môn Luyện từ và câu trước tác động.
Kết quả kiểm tra cho thấy điểm trung bình của hai lớp có sự khác biệt, do đó
Đối chứng
(lớp 2D)
6,67
Tác động
KT sau tác động
Dạy học có sử dụng
phương pháp tổ chức
trò chơi học tập.
Dạy học không có sử
dụng phương pháp tổ
chức trò chơi học tập.
8,13
6,82
Ở thiết kế này chúng tôi sử dụng phép kiểm chứng T- test độc lập.
3. Quy trình nghiên cứu:
3
3.1. Sự chuẩn bị bài của giáo viên:
* Nhóm nghiên cứu:
- Cô Nguyễn Thị Thu Thảo dạy lớp thực nghiệm: Thiết kế bài dạy có sử dụng
phương pháp tổ chức trò chơi học tập được giảng dạy đối với lớp thực nghiệm:
+ Giáo viên tiến hành tham khảo tài liệu, nghiên cứu một số trò chơi có thể áp
dụng vào các bài tập trong các tiết Luyện từ và câu.
13
27/11/2014
2C
15
03/12/2014
2C
16
22/01/2014
2C
22
12/02/2014
2C
25
Từ ngữ về công việc gia đình.
Kiểu câu Ai làm gì ?
Từ chỉ đặc điểm. Kiểu câu Ai
thế nào ?
lấy ý kiến trong nhóm nghiên cứu và giáo viên dạy để bổ sung, chỉnh sửa cho phù hợp
với trình độ học sinh lớp thực nghiệm và lớp đối chứng (nội dung kiểm tra trình bày ở
phần phụ lục).
Tổ chức kiểm tra hai lớp cùng một thời điểm, cùng đề. Sau đó tiến hành chấm bài
theo đáp án đã được xây dựng.
4.3. Kiểm chứng độ giá trị nội dung:
4
Kiểm chứng độ giá trị nội dung của các bài kiểm tra bằng cách: chúng tôi cùng
hai giáo viên trực tiếp dạy chấm bài hai lớp thực nghiệm và đối chứng.
Nhận xét của giáo viên để kiểm chứng giá trị nội dung của dữ liệu:
- Về nội dung đề bài: Phù hợp với trình độ của học sinh lớp thực nghiệm và lớp
đối chứng. Các câu hỏi có phản ánh các vấn đề của đề tài nghiên cứu: Các câu hỏi
luyện từ và câu có mở rộng vốn từ và đặt câu theo mẫu, tìm từ có liên quan đến việc tổ
chức trò chơi.
- Về kết quả: Lớp thực nghiệm có điểm trung bình là 8,13. Lớp đối chứng có
điểm trung bình là 6,82 thấp hơn lớp thực nghiệm là 1,31. Điều đó cho thấy lớp thực
nghiệm có sử dụng phương pháp tổ chức trò chơi trong dạy học nên có kết quả cao hơn.
4.4. Kiểm chứng độ tin cậy:
Bài kiểm tra trước tác động do chúng tôi tự thiết kế. Chúng tôi tiến hành kiểm tra
độ tin cậy bằng công thức Spearman- Brown kết quả như sau:
Trước tác động: Nhóm đối chứng: r SB = 0,78, nhóm thực nghiệm: rSB = 0,71> 0,7
là dữ liệu đáng tin cậy.
Sau tác động: Nhóm đối chứng: rSB = 0,71, nhóm thực nghiệm: rSB = 0,76 > 0,7 là
dữ liệu đáng tin cậy.
IV. PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ BÀN LUẬN KẾT QUẢ
5
1,3
1,6
P = 0,46
P = 0,001
0,81
2. Phân tích dữ liệu:
* Kiểm chứng để xác định nhóm tương đương trước tác động:
Với kết quả P1 = 0,46 > 0,05 chứng tỏ sự chênh lệch điểm số trung bình cộng
trước tác động của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng là không có ý nghĩa nên có khả
năng xảy ra ngẫu nhiên. Hai nhóm được coi là tương đương.
* Phân tích dữ liệu và kết quả sau tác động:
Với kết quả P2 = 0,001 < 0,05 chứng tỏ sự chênh lệch giữa điểm trung bình lớp
thực nghiệm và lớp đối chứng là rất có ý nghĩa, tức là chênh lệch kết quả điểm trung
bình nhóm thực nghiệm cao hơn nhóm đối chứng là không ngẫu nhiên mà do kết quả
của tác động.
Chênh lệch giá trị trung bình chuẩn SMD =
8,13 − 6,82
= 0,81. Điều đó cho thấy
1,61
mức độ ảnh hưởng của việc dạy học luyện từ và câu có sử dụng phương pháp tổ chức
trò chơi học tập đến kết quả học tập của học sinh là lớn.
Giả thuyết của đề tài: “Nâng cao chất lượng phân môn Luyện từ và câu cho học
sinh lớp 2 trường Tiểu học Bàu Năng B bằng phương pháp tổ chức trò chơi” đã được
kiểm chứng.
7
1. Kết luận:
Việc sử dụng phương pháp tổ chức trò chơi học tập trong dạy học luyện từ và câu
cho học sinh lớp 2 trường Tiểu học Bàu Năng B đã nâng cao kết quả học tập môn
Tiếng Việt một cách rõ rệt.
Học sinh biết tìm từ đặt câu, mở rộng vốn từ phong phú hơn, học sinh không còn
khó khăn khi tìm từ, đặt câu, từ đó các em càng tự tin hơn trong học tập và đặc biệt là
các em say mê khi học Tiếng Việt.
Sử dụng phương pháp tổ chức trò chơi học tập giúp học sinh phát triển tư duy,
rèn các kỹ năng: giao tiếp, xử lý tình huống, ứng phó, thao tác, phản xạ nhanh.
Sử dụng phương pháp tổ chức trò chơi học tập giáo dục tinh thần đoàn kết, hợp tác,
chia sẻ; tính trung thực trong thi đua học tập. Tạo môi trường và không khí học tập vui tươi,
thân thiện.
* Để giúp học sinh vận dụng tốt phương pháp này giáo viên cần phải:
- Bước 1: Giới thiệu tên, mục đích của trò chơi.
- Bước 2: Hướng dẫn chơi. Bước này bao gồm những việc sau:
+ Tổ chức người tham gia trò chơi: Số người tham gia, số đội tham gia (mấy
đội chơi), quản trò, trọng tài.
+ Các dụng cụ dùng để chơi (giấy khổ to, quân bài, thẻ từ, cờ…).
+ Cách chơi: Từng việc làm cụ thể của người chơi hoặc đội chơi, thời gian
chơi, những điều người chơi không được làm….
+ Cách xác nhận kết quả và cách tính điểm chơi, các giải của cuộc chơi (nếu có).
Đề tài này khi áp dụng ở lớp thực nghiệm đã nâng cao chất lượng học Tiếng Việt
cho học sinh, do đó sẽ được nhân rộng trong toàn trường và các trường trong huyện.
2. Khuyến nghị:
* Đối với cán bộ quản lý:
- Ban giám hiệu thường xuyên dự giờ, trao đổi kinh nghiệm đến các giáo viên,
khuyến khích giáo viên mạnh dạn sử dụng trò chơi trong dạy học.
Câu 4. (2 điểm): Đặt dấu câu thích hợp vào câu sau và viết lại cho đúng chính tả:
Trời mưa to Hòa quên mang áo mưa Lan rủ bạn đi chung áo mưa với mình
đôi bạn vui vẻ về nhà.
Câu 5. (1 điểm): Đặt câu hỏi cho bộ phận câu được gạch chân sau:
Em là học sinh lớp Hai.
Câu 6. (1 điểm): Đặt một câu theo mẫu Ai là gì ?
Câu 7. (1 điểm): Điền từ thích hợp vào chỗ chấm:
Cô …….chúng em chăm học.
Câu 8. (2 điểm): Tìm 4 từ chỉ hoạt động của người, sự vật trong bài “Làm việc
thật là vui”.
…..…………………………….Hết………………..………………
HƯỚNG DẪN CHẤM KIỂM TRA TRƯỚC TÁC ĐỘNG
9
Câu 1. (1,5 điểm): Học sinh tìm được mỗi từ chỉ hoạt động đạt 0,5 điểm, tìm
được 3 từ đúng đạt 1,5 điểm.
Câu 2. (1 điểm): Học sinh sắp xếp lại các từ trong câu sau để tạo thành 2 câu
mới có ý nghĩa phù hợp đạt 1 điểm, được 1 câu đạt 0,5 điểm:
Thu là bạn thân nhất của em.
* Gợi ý:
- Bạn thân nhất của em là Thu.
- Em là bạn thân nhất của Thu.
Câu 3. (0,5 điểm): Khoanh tròn vào chữ cái trước câu trả lời đúng đạt 0,5 điểm:
Các từ chỉ sự vật là:
c) Phượng vĩ, cô giáo, thước kẻ.
Câu 4. (2 điểm): Đặt dấu câu thích hợp vào câu sau và viết lại cho đúng chính tả:
Trời mưa to. Hòa quên mang áo mưa. Lan rủ bạn đi chung áo mưa với mình.
Ngày xưa có đôi bạn là Diệc và Cò chúng thường cùng ở cùng ăn, cùng
làm việc và đi chơi cùng nhau hai bạn gắn bó với nhau như hình với bóng.
Câu 5. (1 điểm): Tìm 4 từ có tiếng “biển”.
Câu 6. (1 điểm): Khoanh tròn vào chữ cái trước câu trả lời đúng:
Câu hỏi được dùng để đặt câu cho bộ phận gạch chân trong câu “Chúng
khoan khoái đớp bóng nước mưa.” là:
a) Vì sao ?
b) Như thế nào ?
c) Khi nào ?
Câu 7. (1 điểm): Đặt câu theo mẫu Ai thế nào ?
Câu 8. (2 điểm): Tìm từ chỉ đặc điểm trong câu sau:
Mấy bông hoa vàng tươi như những đốm nắng đã nở sáng trưng trên giàn
mướp xanh mát.
…..…………………………….Hết………………..………………
11
HƯỚNG DẪN CHẤM KIỂM TRA SAU TÁC ĐỘNG
Câu 1. (1,5 điểm): Học sinh tìm được 1 từ chỉ đặc điểm về tính tình của một
người đạt 0,5 điểm, tìm được 2 từ đúng đạt 1 điểm.
Câu 2. (1 điểm): Học sinh biết nói lời đáp của em khi chị bảo em nhặt rau giúp
chị nhưng em chưa làm xong bài phù hợp đạt 1 điểm.
* Gợi ý: Chị ơi, khi nào làm bài tập xong em sẽ làm giúp chị nhé!
Câu 3. (1 điểm): Học sinh đặt được câu hỏi cho bộ phận câu được gạch chân
đạt 1 điểm:
* Gợi ý: Khi nào dòng sông trở thành một đường trăng lung linh dát vàng ?
Câu 4. (2 điểm): Học sinh đặt đúng 1 dấu câu thích hợp 0,5 điểm. Viết lại cho
đúng chính tả đạt 0,5 điểm.
Ngày xưa có đôi bạn là Diệc và Cò. Chúng thường cùng ở, cùng ăn, cùng làm
- Bài này yêu cầu ta làm gì ? (ghép các tiếng đã cho thành những từ có hai tiếng)
- Giáo viên hướng dẫn mẫu: yêu mến, mến quý.
- Giáo viên yêu cầu học sinh thảo luận nhóm bốn, thời gian 3 phút.
- Đại diện các nhóm nêu kết quả. (yêu thương, thương yêu, yêu mến, mến yêu,
yêu kính, kính yêu, yêu quý, quý yêu, thương mến, mến thương, quý mến, kính mến)
- Nhận xét.
* Bài tập 2: Em chọn từ ngữ nào điền vào chỗ trống để tạo thành câu hoàn chỉnh.
- Mục tiêu: Học sinh biết dùng một số từ tìm được để điền vào chỗ trống trong câu.
- GV gọi 2 học sinh đọc yêu cầu bài tập.
- Giáo viên gợi ý để học sinh tìm ra từ, giáo viên hướng dẫn học sinh làm mẫu
câu a sau đó học sinh suy nghĩ cá nhân để tìm kết quả câu b và c.
a/ Cháu kính yêu ông bà.
b/ Con…..cha mẹ.
c/ Em ….anh chị.
- Nhiều học sinh nêu miệng kết quả.
- Giáo viên nhận xét và chốt kết quả.
* Bài tập 3: Nhìn tranh nói 2 đến 3 câu về hoạt động của mẹ và con (2 học sinh
đọc yêu cầu bài tập).
- Mục tiêu: Học sinh nói được 2 đến 3 câu về hoạt động của mẹ và con được vẽ
trong tranh.
- Học sinh quan sát tranh thảo luận nhóm đôi dựa vào câu hỏi gợi ý của giáo
viên như:
+ Tranh vẽ gì ?
+ Trên tay mẹ có gì ?
- Hết thời gian thảo luận giáo viên gọi đại diện một số học sinh trình bày kết quả.
- Ví dụ: Bạn gái đưa cho mẹ xem một bài kiểm tra có ghi điểm 10 đỏ chói. Mẹ
một tay ôm em bé trong lòng và tay kia cầm bài kiểm tra của bạn mẹ khen: “Con gái
mẹ giỏi lắm!” Cả hai mẹ con đều rất vui.
- Nhận xét bạn nêu hay, đủ ý.
+ Học sinh hiểu về tình cảm gia đình.
+ Nắm được cách đặt dấu phẩy vào câu cho đúng ngữ pháp.
+ Học sinh biết ghép tiếng thành câu.
- Kĩ năng:
+ Học sinh biết ghép tiếng thành từ theo mẫu để tạo các từ chỉ tình cảm gia
đình, biết dùng một số từ tìm được để điền vào chỗ trống trong câu.
+ Học sinh nói được 2 đến 3 câu về hoạt động của mẹ và con được vẽ trong tranh.
+ Học sinh biết đặt dấu phẩy vào chỗ hợp lí trong câu.
- Thái độ: HS biết yêu thương cha mẹ và những người trong gia đình.
- GDMT: Giáo dục HS tình cảm yêu thương, gắn bó với gia đình.
II. ĐỒ DÙNG DẠY HỌC
- Giáo viên làm các bộ quân bài ghi tiếng (đủ cho số nhóm học sinh tham gia thi);
mỗi bộ quân bài có kích thước khoảng 5cm x 15cm. Mỗi bộ gồm 24 quân ghi các tiếng
sau: yêu (8 quân); thương (4 quân); quý (3 quân); mến (6 quân); kính (3 quân).
III. CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
1. Hoạt động 1: Trò chơi “Thi ghép tiếng thành từ ”
* Bài tập 1: Ghép các tiếng sau thành những từ có hai tiếng: yêu, thương, quý,
mến, kính.
Mục tiêu: Học sinh biết ghép tiếng theo mẫu để tạo các từ chỉ tình cảm gia đình.
- Mở rộng vốn từ bằng cách ghép tiếng.
- Rèn khả năng nhận ra từ, rèn tác phong nhanh nhẹn.
Tiến hành:
- Giáo viên gọi 2 học sinh đọc yêu cầu bài tập (học sinh đọc).
- Giáo viên hỏi: bài tập yêu cầu gì ? (yêu cầu ghép các tiếng cho sẵn thành từ có
hai tiếng có nghĩa)
- Giáo viên tổ chức cho học sinh trò chơi học tập.
+ Giáo viên chuẩn bị sẵn 4 bộ quân bài ghi tiếng (đủ cho số nhóm học sinh tham
gia thi); mỗi quân bài có kích thước khoảng 5cm x 15cm. Mỗi bộ gồm 24 quân ghi
các tiếng sau: yêu (8 quân); thương (4 quân); quý (3 quân); mến (6 quân); kính (3
quân).
- 2 học sinh đọc yêu cầu bài tập.
- Bài tập 2 yêu cầu chúng ta làm gì ? (Bài tập yêu cầu chúng ta chọn từ ngữ thích
hợp để điền vào chỗ trống trong câu.)
- Giáo viên hướng dẫn học sinh làm mẫu câu a như:
a/ Cháu …….ông bà.
+ Trong câu a ta tìm từ nào để điền vào chỗ chấm thích hợp và có nghĩa.
+ Học sinh có thể nêu các từ như: kính yêu, yêu thương, thương yêu.
+ Giáo viên chọn một trong những từ học sinh vừa tìm để hướng dẫn mẫu.
Ví dụ: Cháu kính yêu ông bà.
- Giáo viên chia lớp thành 3 nhóm, mỗi nhóm là một dãy bàn, ngồi đối mặt nhau.
- Giáo viên nêu tên trò chơi và hướng dẫn học sinh cách chơi: Học sinh thảo
luận nhóm trong thời gian 1 phút sau đó mỗi nhóm lần lượt nêu câu mình đã điền
được. Nhóm nào không nêu được xem như thua cuộc, nhóm nào nêu được nhiều câu
nhất thắng cuộc. Mỗi nhóm chọn ra một em để làm giám khảo xác định câu đúng, sai.
- Học sinh có thể chọn bất kỳ câu nào trong 3 câu sau để điền vào chỗ chấm:
a/ Cháu …….ông bà.
b/ Con ………cha mẹ.
c/ Em……….anh chị.
- Giáo viên yêu cầu học sinh thảo luận trong thời gian 1 phút sau đó bắt đầu
trò chơi.
- Ban giám khảo theo dõi và nhận xét.
- GV nhận xét, tuyên dương nhóm thắng cuộc.
- Giáo viên chốt ý: Đây là những câu nói về tình cảm gia đình. Mọi người trong
gia đình nên yêu thương, quý mến và giúp đỡ lẫn nhau.
3. Hoạt động 3: Quan sát tranh và đặt câu theo tranh.
* Bài tập 3: Nhìn tranh nói 2 hoăc 3 câu về hoạt động của mẹ và con
- Mục tiêu: Học sinh nói được 2 đến 3 câu về hoạt động của mẹ và con được vẽ
trong tranh.
- Học sinh đọc yêu cầu bài tập.
- Giáo viên hỏi: Bài tập yêu cầu gì ? (Đặt câu nói về hoạt động của mẹ và con
- Học sinh làm vào vở câu b, c.
- Giáo viên nhận xét, sửa bài.
2. Hoạt động nối tiếp: Củng cố, dặn dò.
3. Rút kinh nghiệm:
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
17
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Sách “Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng” của xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội.
2. Sách “Tiếng Việt lớp 2” của nhà xuất bản Giáo dục.
3. Sách giáo viên Tiếng Việt lớp 2 nhà xuất bản Giáo dục.
4. Tài liệu tập huấn “Nghiên cứu sư phạm ứng dụng”.
5. Trò chơi thực hành Tiếng Việt lớp 2 Nhà xuất bản Giáo dục. (Vũ Khắc Tuân)
6. Trò chơi học tập Tiếng Việt lớp 3 Nhà xuất bản Giáo dục. (Nguyễn Thị Hạnh- Lê
Phương Nga)
18
MỤC LỤC
I. Tóm tắt: ..........Trang 1
II. Giới thiêu......................................................................................................Trang 2
1. Hiện trạng.......................................................................................................Trang 2
2. Giải pháp thay thế...........................................................................................Trang 2
3. Một số nghiên cứu gần đây............................................................................Trang 2
4. Vấn đề nghiên cứu..........................................................................................Trang 2
5. Giả thuyết nghiên cứu....................................................................................Trang 2