Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học phân môn luyện từ và câu cho học sinh lớp 5 - Pdf 44

MỤC LỤC
TT

NỘI DUNG

TRANG

A

Mở đầu

1

I

Lý do chọn đề tài

1

II

Mục đích nghiên cứu

2

III

Đối tượng nghiên cứu

2


4

Hiệu quả của sáng kiến

14

C

Kết luận và kiến nghị

15

1

Kết luận

15

2

Kiến nghị

15


A. MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài:
Con người muốn tư duy phải có ngôn ngữ: Cả những lúc chúng ta nghĩ
thầm trong bụng, chúng ta cũng "bụng bảo dạ" cũng nói thầm, tức là cũng sử
dụng ngôn ngữ, một hình thức ngôn ngữ mà các nhà chuyên môn gọi là ngôn

2


Vì những lí do trên, sau nhiều năm giảng dạy, tôi đã đi sâu nghiên cứu,tìm
tòi vận dụng các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học sao cho giờ học đến
với các em nhẹ nhàng nhưng lại hiệu quả nhất. Với kinh nghiệm tích lũy
được, tôi đã quyết định chọn đề tài “Một số biện pháp nâng cao chất lượng
day học phân môn “Luyện từ và câu” để làm sáng kiến kinh nghiệm của
mình.
II. Mục đích nghiên cứu:
Tìm hiểu việc dạy- học phân môn “Luyện từ và câu” của giáo viên,HS
khối 5 trường Tiểu học Ba Đình để thấy được những ưu, nhược điểm. Từ đó
áp dụng các phương pháp, hình thức dạy học phù hợp để nâng cao chất lượng
các dạy học phân môn “Luyện từ và câu” cho HS lớp 5.
III. Đối tượng nghiên cứu:
- Nghiên cứu thực trạng dạy học phân môn “Luyện từ và câu” lớp 5 ở
trường TH Ba Đình
- Các phương pháp, hình thức dạy học Luyện từ và câu để nâng cao chất
lượng các giờ dạy “Luyện từ và câu” cho HS lớp 5.
IV. Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình nghiên cứu, tôi đã sử dụng các phương pháp sau:
4.1. Các PP nghiên cứu:
- PP nghiêu cứu tài liệu
- PP điều tra, thống kê
- PP phân tích, tổng hợp
- PP dự giờ,thăm lớp...
4.2. Các phương pháp dạy học:
- PP dạy học “Nêu vấn đề”
- PP hỏi đáp
- PP trò chơi

Ngoài ra, ở một chừng mực nào đó, phân môn “Luyện từ và câu” ở tiểu
học còn có nhiệm vụ cung cấp cho học sinh một số khái niệm có tính chất sơ

4


giản ban đầu về cấu tạo và nghĩa của từ tiếng Việt (như các khái niệm từ đồng
nghĩa, từ trái nghĩa).
2. Thực trạng của vấn đề:
Do luyện từ và câu là một phân môn mới và khó, cho nên giáo viên còn
lúng túng trong việc tổ chức một tiết dạy - học Luyện từ và câu sao cho đúng
yêu cầu của phân môn, đúng đặc trưng của phân môn và đạt được hiệu quả
cao trong dạy - học. Dưới cái nhìn của giáo viên, có thể nói một số nội dung
giảng dạy (được trình bày trong sách giáo khoa) còn ít nhiều xa lạ và phương
pháp dạy phân môn này hầu như chưa định hình, cho nên giáo viên gặp nhiều
khó khăn trong giảng dạy. Giáo viên có tâm lý ngại dạy “Luyện từ và câu”.
Hiệu quả dạy - học giờ “Luyện từ và câu” nhìn chung còn thấp. Có thể do
mấy nguyên nhân cơ bản sau:
a. Về phía giáo viên:
- Vốn từ ngữ của một số giáo viên chưa phong phú, chưa đáp ứng được
yêu cầu hướng dẫn học sinh mở rộng vốn từ, phát triển vốn từ. Đa số giáo
viên còn lúng túng khi miêu tả, giải thích nghĩa của từ. Vì vậy giáo viên
hướng dẫn học sinh tập giải nghĩa từ, làm bài tập giải nghĩa từ cũng chưa đạt
hiệu quả cao. Kiến thức về từ vựng - ngữ nghĩa học của một số giáo viên còn
hạn chế, nên bộc lộ những sơ suất, sai sót về kiến thức.
- Cách dạy của nhiều giáo viên trong giờ Luyện từ và câu còn đơn điệu,
lệ thuộc một cách máy móc vào sách giáo viên, hầu như rất ít sáng tạo, chưa
sinh động, chưa cuốn hút được học sinh. Các tiết dạy phân môn “Luyện từ và
câu” của đa số giáo viên còn mang tính áp đặt, hình thức tổ chúc dạy học đơn
điệu khiến cho giờ học căng thẳng, gây tâm lý nặng nề. Chính vì những phân

Việc tổ chức một tiết học có tầm quan trọng đặc biệt, nó ảnh hưởng trực
tiếp đến chất lượng và hiệu quả giờ học. Qua quá trình nghiên cứu, tìm tòi và
áp dụng linh hoạt các phương pháp dạy - học sao cho giờ dạy đạt hiệu quả
cao nhất. Tôi đã tiến hành theo các biện pháp sau:
3. Giải pháp và tổ chức thực hiện:
6


* Biện pháp 1: Tổ chức cho học sinh lĩnh hội kiến thức bài học nhẹ
nhàng, tự nhiên, phát huy được tính tích cực của học sinh.
Đối với bài: "Nghĩa của từ": Nghĩa của từ là khái niệm về sự vật, hiện
tượng trong thực tế khách quan được phản ánh vào trong ngôn ngữ, được
ngôn ngữ hóa. Nói cách khác "Nghĩa của từ là các sự vật, hoạt động, tính
chất, số lượng mà từ biểu thị".
* Ví dụ:
+ Đất: Chất rắn ở trên đó người và các loại động vật đi lại, sinh sống,
cây cỏ mọc.
+ Công nhân: Người lao động chân tay, làm việc ăn lương.
Nghĩa của từ được miêu tả, giải thích rất rõ ràng trong các sách từ điển.
Khi dạy về nghĩa của từ, chúng ta cần:
- Tạo điều kiện cho học sinh tiếp xúc với sự vật, hoạt động, tính chất mà
nó biểu thị
Tôi còn tìm cách giải thích nghĩa của từ sát hợp với tâm sinh lý lứa tuổi
học sinh tiểu học. Cụ thể lối miêu tả, trực quan khi giải nghĩa từ. Bên cạnh đó,
tôi còn chấp nhận và khuyến khích cách giải nghĩa từ theo lối "khôi phục các
biểu tượng", hoặc giải nghĩa từ một cách " mộc mạc, gần gũi"... của học sinh.
* Ví dụ:
+ Tổ quốc: đất nước mình
+ Bão biển: Bão ở vùng biển.
+ Bà ngoại: Người sinh ra mẹ

củng cố kiến thức như sau:
* Ví vị Điền từ trái nghĩa vào chỗ trống trong từng cây thơ sau:
Yếu trâu còn hơn ............ bò (khỏe)
8


Có bé lại xé ra ................ đáng buồn (to)
Lành làm gáo .................. làm môi (vỡ)
Ở............. người cười, ở hẹp người chê (rộng)
Học sinh suy nghĩ tìm từ trái nghĩa thích hợp điền vào bài đã rất hứng
thú tập trung thực hiện yêu cầu bài tập.
Tôi còn tổ chức trò chơi trong lớp để tạo hứng thú cho học sinh.
* Ví dụ: Đặc câu với cặp từ trái nghĩa béo - gầy, khỏe - yếu...
Luật chơi là em nào đặt câu xong, đúng sẽ có quyền chỉ định bạn khác.
Cả lớp học đều thi nhau xung phong đặt câu. Ngay cả những học sinh trước
nay rất ít khi xung phong lên bảng như em Đạt, em Thư... cũng hồ hởi tham
gia vào trò chơi học tập.
Hình thức vừa dạy vừa tổ chức trò chơi như vậy ngay trong không gian
lớp học, tại thời gian của lớp học làm cho học sinh đỡ căng thẳng, tạo được
hứng thú và niềm tin trong học tập. Cứ mỗi khi tôi cho các em tiếp xúc với
đoạn thơ, câu đố, các em chăm chú theo dõi. Những đôi mắt ánh lên niềm vui
thích rồi thi đua xung phong. Em được chỉ định thì phấn khởi, hồ hởi, em
không được gọi thì xuýt xoa rồi những tràng vỗ tay cổ vũ...
Ở dạng bài tập điền từ, học sinh cần được dựa vào từ cho sẵn (từ in đậm
trong câu thơ), coi đó là từ "điểm tựa" để tìm từ có nghĩa trái ngược, tạo nên
một cặp từ trái nghĩa hoàn chỉnh. Còn ở dạng bài tập đặt câu, học sinh cần căn
cứ vào đặc trưng về nghĩa của cặp từ trái nghĩa đó để đặt câu có nội dung
thích hợp.
Hoặc khi dạy bài: Nghĩa của từ
Để chuyển tải được khái niệm Nghĩa gốc và nghĩa chuyển của từ khi

cực hóa hoạt động học tập của các em, hình thành năng lực tư duy tốt mỗi học
sinh đều được bộc lộ mình và phát triển rèn luyện óc duy nghĩ tổng hợp, sự
10


quan sát nhanh cùng với sự thích thú của lứa tuổi hiếu động, giàu cảm xúc,
hồn nhiên, luôn ưa thích cái mới lạ, vui tươi, hấp dẫn.
* Biện pháp 3: Mở rộng vốn từ cho học sinh.
Đây là nhiệm vụ cơ bản của phân môn Luyện từ và câu. Khi có vốn từ
phong phú, học sinh rất thuận lợi trong giao tiếp và tư duy.
Ở lớp 5, loại bài tập mở rộng vốn từ phát triển vốn từ được sử dụng khá
nhiều dưới các dạng khác nhau: Tìm từ ngữ cùng chủ đề, tìm từ có tiếng cho
trước tìm từ cùng nghĩa, gần nghĩa, tìm từ có cùng yếu tố cấu tạo.
Có thể mở rộng vốn từ bằng nhiều cách:
a. Cách ghép từ: Xuất phát từ từ gốc, bằng phương pháp ghép từ sẽ cho
ra các từ mới .
* Ví dụ: bài tập 3 tiết 3 (SGK 5) yêu cầu học sinh tìm một số từ có tiếng
"đồng" (theo nghĩa là cùng).
Để học sinh có được vốn từ khá phong phú, tôi đã cho học sinh thi tìm từ
điền vào bài thơ sau:
.................................. son sắc một lòng (đồng lòng)
.................................. là chỗ cùng làng, cùng quê (đồng hương)
.................................. ý hợp tâm đầu (đồng tình)
.................................. sát cánh chẳng hề xa nhau (đồng đội)
.................................. chung lớp chung trường (đồng môn)
.................................. tiến bước trước sau nhịp nhàng (đồng hành)
.................................. tay nắm chặt tay (đồng chí)
.................................. sum họp bốn phương một nhà (đồng bào)
.................................. quần áo quả là đẹp thay (đồng phục)
.................................. hội tụ một nơi (đồng quy)



* Biện pháp 5: Sử dụng tích cực các đồ dùng dạy học
Đối với người giáo viên để đạt hiệu quả cao trong giảng dạy thì không
thể thiếu đồ dùng dạy học. Thực tế trong dạy học phân môn Luyện từ và câu
lở lớp 5B năm học 2015 - 2016 tôi đã sử dụng linh hoạt đa dạng các đồ dùng
dạy học như vật thật, máy chiếu...
* Ví dụ: Giải thích từ "chôm chôm", tôi cho học sinh nhìn thấy quả
chôm chôm (quả có gai mềm ở vỏ, khi chín vỏ có màu đỏ, cùi trắng, ngọt như
quả vải).
Giải nghĩa từ "bế", "ôm" tôi cho các em làm động tác để quan sát.
Ngoài ra, có thể dùng tranh ảnh, mô hình, đặc biệt là hình ảnh qua ứng
dụng CNTT... cho HS quan sát, từ đó nêu nghĩa của từ như : sông, suối, thác,
biển.... (bằng cách này học sinh có thể hiểu nghĩa của từ chỉ các sự vật, hiện
tượng không trực tiếp nhìn thấy hoặc diễn ra ở xung quanh).
Ví dụ khi dạy bài Từ đồng nghĩa (tiết 1, tuần 1) chẳng hạn:
Đầu tiên tôi cho học sinh quan sát tranh một chiếc máy bay bay trên bầu
trời. Để tìm từ thay thế cho từ máy bay, bất ngờ tôi lại đưa ra một chiếc tàu
bay gấp bằng giấy rồi mô hình một chiếc phi cơ... để các em nhận biết và so
sánh nghĩa của từ máy bay, tàu bay, phi cơ, các em dễ dàng hiểu được thế nào
là từ đồng nghĩa.
* Biện pháp 6: Hướng dẫn học sinh đọc sách tại thư viện, trên
intenet...
Sách là nơi cung cấp tri thức, cho ta bao điều bổ ích, lý thú trong cuộc
sống, sách là người bạn đáng tin cậy.
Vì vậy, tôi đã tạo cho học sinh lớp 5B mà tôi trực tiếp giảng dạy một thói
quen tốt đó là đọc sách và luôn tìm tòi kiến thức trong những quyển Văn học
tuổi trẻ, tham khảo những bài văn hay để mở rộng vốn từ... Hay ghi chép
những đoạn văn hay để học tập...
14


0

Giữa học kì II:
Hoàn thành

Chưa hoàn thành

Số lượng

35

0

Tỉ lệ %

100 %

0

15


C. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận:
Qua quá trình áp dụng các biện pháp trên, tôi nhận thấy: Giờ học
“Luyện từ và câu”của HS lớp 5B thực sự chuyển biến tốt, học sinh hứng thú
hơn khi học phân môn “Luyện từ và câu” nói riêng, môn Tiếng Việt nói
chung. Giờ học thật sự thoải mái, sôi nổi, hiệu quả. Đặc biệt, mọi học sinh
đều có cơ hội được thể hiện, bộc lộ những suy nghĩ, vốn sống, vốn từ, quan

Tôi xin cam đoan đây là SKKN
của mình viết, không sao chép nội
dung của người khác.
NGƯỜI VIẾT

Thiều Thị Sáu
XÁC NHẬN CỦA TRƯỞNG PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỈM SƠN

17


PHỤ LỤC
(Tài liệu tham khảo)

1. Phương pháp giảng dạy Tiếng Việt Tiểu học – Lê phương Nga, Lê
Hữu Tỉnh- NXBGD
2. Từ điển Tiếng Việt – Hoàng Phê chủ biên - NXBGD 1997
3. Sách GV hướng dẫn giảng dạy Tiếng Việt lớp 5- Nguyễn Huyền
Trang chủ biên – NXBGD
4. Tài liệu BDTX cho giáo viên Tiểu học chu kì III, tập 2- Nhiều tác giả
- NXBGD

18


PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỈM SƠN
TRƯỜNG TIỂU HỌC BA ĐÌNH

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status