MỤC LỤC
ST
T
Nội dung
Trang
1
I. Tóm tắt
2
2
II. Giới thiệu
3
3
1. Hiện trạng
3
4
2. Nguyên nhân
3
10
1. Khách thể nghiên cứu
10
11
2. Thiết kế
10
12
3. Quy trình nghiên cứu
11
13
4. Đo lường
12
14
IV. Phân tích dữ liệu và kết quả
13
20
2. Khuyến nghị
21
VI. Tài liệu tham khảo
16,17
1
VII. Phụ lục
22
- Đề, đáp án bài kiểm tra trước và sau tác động.
- Kế hoạch bài học của lớp đối chứng và lớp thực nghiệm.
- Một số hình ảnh minh họa.
I. TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Việc hình thành cho học sinh một thế giới quan khoa học và niềm say mê
khoa học, sáng tạo là một mục tiêu quan trọng của giáo dục hiện đại khi mà nền
kinh tế tri thức đang dần dần chiếm ưu thế tại các quốc gia trên thế giới. “Bàn
tay nặn bột” là một phương pháp dạy học tích cực, thích hợp cho việc giảng dạy
các kiến thức khoa học tự nhiên, đặc biệt là đối với bậc trung học cơ sở, khi học
sinh đang ở giai đoạn bắt đầu tìm hiểu mạnh mẽ các kiến thức khoa học, hình
thành các khái niệm cơ bản về khoa học.
Hiện nay Bộ Giáo dục và Đào tạo đang thực hiện đổi mới căn bản và toàn
học của học sinh lớp 9A1trường Trung học cơ sở Bàu năng.
II. GIỚI THIỆU
Trong Hóa học lớp 9, ở chương II Kim loại giáo viên cần cung cấp cho học sinh
các kiến thức về tính chất vật lý, tính chất hoá học của kim loại nói chung và của
nhôm, sắt nói riêng. Học sinh phải biết được dãy hoạt động hoá học của kim loại
và hiểu được ý nghĩa để vận dụng vào việc viết phương trình hoá học, giải các
bài tập định tính, định lượng, biết được thế nào là gang, thép và quy trình sản
xuất gang, thép. Học sinh trình bày được một số ứng dụng của kim loại nhôm, sắt,
gang, thép. Học sinh biết thế nào là sự ăn mòn kim loại, các yếu tố ảnh hưởng
đến sự ăn mòn kim loại và biện pháp bảo vệ kim loại khỏi sự ăn mòn đồng thời
tiến hành một số thí nghiệm hoá học đơn giản, an toàn, biết quan sát hiện tượng
xảy ra trong quá trình thí nghiệm, biết phân tích, giải thích, kết luận để chứng
minh các tính chất dự đoán và vận dụng các kiến thức vào đời sống có thể giải
thích các hiện tượng trong thực tế. Do đó trong hoạt động học tập của học sinh,
giáo viên cần vận dụng các phương pháp dạy học tích cực đặc biệt là phương
pháp Bàn tay nặn bột là việc làm hết sức cần thiết nhằm giúp học sinh khám phá
các sự vật, hiện tượng trong thế giới tự nhiên theo con đường mô phỏng tìm ra
kiến thức mới, đưa ra dự đoán, thực hiện thí nghiệm, thảo luận với nhau giúp
cho học sinh rèn luyện các kỹ năng, tìm phương án giải quyết cho các vấn đề đặt
ra, giúp các em hiểu kiến thức hơn và biết cách đưa ra kết luận từ đó học sinh
hiểu bài, ghi nhớ khắc sâu kiến thức.
1. Hiện trạng
Qua việc thăm lớp, dự giờ khảo sát trước tác động, tôi thấy giáo viên chỉ
thực hiện các thí nghiệm cho học sinh quan sát. Tiết dạy có bài học mới giáo
viên cố gắng chỉ ra những hệ thống câu hỏi gợi mở, dẫn dắt học sinh tìm hiểu
vấn đề, học sinh có nắm được kiến thức, học sinh tích cực trả lời câu hỏi của
giáo viên, học sinh thuộc bài nhưng chưa có hiểu sâu kiến thức và khắc sâu kiến
thức. Một số học sinh chỉ học thuộc lòng ghi nhớ trong sách giáo khoa.
Trường chưa có phòng học bộ môn và phòng thí nghiệm để phục vụ cho
phương pháp dạy học hoàn toàn mới này nhưng tôi vẫn cố gắng tìm ra những
giải pháp thực hiện theo tinh thần đổi mới sao cho phù hợp với tình hình học tập
của học sinh Trường Trung học cơ sở Bàu Năng.
Tôi lựa chọn giải pháp thay thế đối với lớp thực nghiệm là ở bước hướng dẫn
học sinh tự học ngoài việc dặn các em học bài và làm các bài tập ở nhà, tôi yêu
cầu các em đọc trước bài học, tự tìm hiểu xem bài học cho ta biết được những
kiến thức gì, tự đề ra tình huống xuất phát và câu hỏi nêu vấn đề. Đến tiết học
mới tôi yêu cầu các em thảo luận bàn bạc, thí nghiệm kiểm chứng, đóng góp ý
kiến và tự rút ra bài học sau đó tôi tóm tắt, kết luận và hệ thống lại để học sinh
ghi vào vở xem như kiến thức của bài học.
* Tiến trình dạy học theo phương pháp bàn tay nặn bột
Phương pháp Bàn tay nặn bột đề xuất một tiến trình dạy học ưu tiên xây
dựng những tri thức hiểu biết kiến thức bằng khai thác, thực nghiệm và thảo
luận. Đó là sự thực hành khoa học bằng hành động , hỏi đáp, tìm tòi, thực
nghiệm, xây dựng tập thể chứ không phải phát biểu lại các kiến thức có sẵn xuất
phát từ sự ghi nhớ thuần túy. Học sinh tự mình thực hiện các thí nghiệm, các suy
nghĩ và thảo luận để biết được các kiến thức cho chính mình.
Học sinh học tập nhờ hành động cuốn hút, cuốn mình trong hành động. Học
sinh học tập tiến bộ dần bằng cách tự nghi vấn, tự hỏi đáp với các học sinh cùng
lớp (theo nhóm làm việc hai người hoặc với nhóm lớn) bằng cách trình bày quan
4
điểm cá nhân của mình, đối lập với quan điểm của bạn và về các kết quả thực
nghiệm để kiểm tra sự đúng đắn và tính hiệu lực của nó.
Giáo viên tùy theo tình hình, từ một câu hỏi của học sinh có thể đề xuất
những tình huống cho phép tìm tòi một cách có lý lẽ. Giáo viên thường xuyên
hướng dẫn học sinh chứ không làm thay. Giáo viên giúp đỡ học sinh làm sáng tỏ
và thảo luận quan điểm của mình đồng thời chú ý tuân thủ việc nắm bắt ngôn
Nhôm có phản ứng với dung dịch kiềm không?
-Khi dạy bài Sắt giáo viên có thể nêu tình huống và nêu vấn đề:
Sắt là một kim loại có nhiều ứng dụng trong đời sống và sản xuất. Sắt có những
tính chất hóa học như thế nào?
Pha 2. Hình thành câu hỏi của học sinh
Giáo viên khuyến khích học sinh nêu những suy nghĩ, nhận thức ban đầu của
mình trước khi được học kiến thức mới. Để làm bộc lộ quan niệm ban đầu của
học sinh, giáo viên có thể yêu cầu bằng nhiều hình thức biểu hiện của học sinh
5
như bằng lời nói thông qua phát biểu cá nhân hoặc bằng cách viết hay vẽ để biểu
hiện suy nghĩ. Từ những quan niệm ban đầu của học sinh, giáo viên giúp học
sinh đề xuất câu hỏi xoáy sâu vào những quan niệm liên quan đến kiến thức
trọng tâm của bài học.
Giáo viên cần khéo léo lựa chọn một số quan niệm ban đầu khác biệt để giúp
học sinh so sánh, từ đó giúp học sinh đặt câu hỏi liên quan đến nội dung bài học.
Ví dụ: - Khi dạy bài Nhôm, giáo viên yêu cầu học sinh dự đoán tính chất hóa
học của nhôm. Học sinh có thể đưa ra nhiều dự đoán khác nhau. Các nhóm học
sinh đưa ra các câu hỏi: Nhôm có những tính chất hóa học nào? Nhôm còn có
tính chất hóa học nào khác? Nhôm phản ứng với dung dịch kiềm như thế nào?
Nhôm đứng trước những kim loại nào và đứng sau những kim loại nào trong dãy
hoạt động hóa học của kim loại?
- Khi dạy bài Sắt, học sinh có thể có các câu hỏi:
+ Sắt tác dụng với các phi kim khác nhau: O 2, S, Cl2 có tạo ra oxit, muối
trong đó hóa trị của sắt giống nhau không?
+ Sắt tác dụng với dung dịch muối của kim loại hoạt động yếu hơn thường
tạo ra sản phẩm là muối sắt (II) hay sắt (III)?.
Pha 3. Xây dựng giả thuyết và thiết kế phương án thực nghiệm
Từ các câu hỏi được đề xuất, giáo viên nêu câu hỏi cho học sinh , đề nghị
Câu hỏi 3: Kim loại được tiếp xúc với 3.Cho vào ống nghiệm khoảng 2-3 ml
oxi và nước mặn thì kim loại bị ăn dung dịch muối ăn. Thả đinh sắt vào
mòn không? Nhanh hay chậm?
ống nghiệm.
Câu hỏi 4: Kim loại được đặt trong 4.Cho khoảng 5 ml nước cat61vo2 ống
môi trường nước sạch, không có không nghiệm. Thả đinh sắt sạch vào ống
khí thì kim loại có bị ăn mòn không?
nghiệm. Cho tiếp vào ống nghiệm 1 ít
dầu ăn khoảng 1ml.
Pha 4. Tiến hành thực nghiệm tìm tòi nghiên cứu.
Khi tiến hành thí nghiệm, giáo viên nêu rõ yêu cầu và mục đích thí nghiệm
hoặc yêu cầu học sinh cho biết mục đích của thí nghiệm. Sau đó giáo viên phát
các dụng cụ và vật liệu thí nghiệm tương ứng với hoạt động.
Các thí nghiệm tiến hành lần lượt tương ứng với từng modun kiến thức. Mỗi
thí nghiệm được thực hiện xong, giáo viên nên dừng lại để học sinh rút ra kết
luận. Giáo viên lưu ý học sinh ghi chép vật liệu thí nghiệm, cách bố trí và thực
hiện thí nghiệm, kết luận sau thí nghiệm vào vở thực hành. Phần ghi chép này
giáo viên để học sinh ghi chép tự do, không nên gò bó và có khuôn mẫu quy
định, nhất là đối với những lớp mới làm quen với phương pháp Bàn tay nặn bột
Khi học sinh làm thí nghiệm, giáo viên bao quát lớp, quan sát từng nhóm.
Nếu thấy nhóm hoặc học sinh nào làm sai theo yêu cầu thì giáo viên chỉ nhắc
nhỏ trong nhóm đó, không nên thông báo lớn tiếng cho cả lớp vì làm như vậy sẽ
phân tán tư tưởng và ảnh hưởng đến công việc của các nhóm học khác. Giáo
viên nên chú ý yêu cầu học sinh thực hiện độc lập các thí nghiệm trong trường
hợp từng cá nhân. Nếu thực hiện theo nhóm thì cũng yêu cầu tương tự như vậy
để tránh việc học sinh nhìn và làm theo cách của nhau.
Ví dụ: Ở bài, Sắt căn cứ vào các câu hỏi nghiên cứu đặt ra, học sinh thảo luận
để đề xuất các thí nghiệm phù hợp. Giáo viên tổng hợp các thí nghiệm và có thể
hỗ trợ cho học sinh chọn các thí nghiệm có thể tiến hành nhanh, rõ hiện tượng
an toàn.
- Chú ý đảm bảo ánh sáng cho học sinh.
- Đối với những bài học có làm thí nghiệm thì giáo viên cần có chỗ để
các dụng cụ làm thí nghiệm, không nên để sẵn các dụng cụ thí nghiệm trên bàn
học sinh trước khi dạy học vì nhiều học sinh hiếu động không chịu nghe lời dặn
của giáo viên, có thể sẽ mất tập trung vì mãi nghịch các dụng cụ trên bàn. Một lý
do nữa là sẽ làm lộ ý đồ dạy học của giáo viên khi giáo viên muốn học sinh tự
đề xuất thí nghiệm nghiên cứu.
- Không khí làm việc trong lớp học
Phương pháp Bàn tay nặn bột khuyến khích học sinh xây dựng kiến thức
thông qua làm việc chung, tiến hành thử nghiệm, chia sẻ ý tưởng nên để bầu
không khí học tập sôi nổi trong lớp, giáo viên cần xây dựng bầu không khí làm
việc và mối quan hệ giữa các học sinh dựa trên sự tôn trọng lẫn nhau và đối xử
công bằng, bình đẳng giữa các học sinh trong lớp. Giáo viên cần phải chú ý bao
quát lớp học, khuyến khích các học sinh có ý tưởng tốt nhưng rụt rè không dám
trình bày.
- Giúp học sinh bộc lộ quan niệm ban đầu.
- Quan niệm ban đầu của học sinh thường là quan niệm hay khái quát
chung chung về sự vật hiện tượng, có thể sai hoặc chưa thực sự chính xác về
mặt khoa học. Vì là lần đầu tiên được hỏi đến nên học sinh ngại nói, sợ sai và sợ
bị chê cười, do đó giáo viên cần khuyến khích học sinh trình bày ý kiến của
mình. Cần biết chấp nhận và tôn trọng những quan điểm sai của học sinh. Nếu
học sinh nêu ý kiến đúng, giáo viên không nên vội vàng khen ngợi hoặc có
những biểu hiện chứng tỏ ý kiến đó là đúng vì nếu làm như thế giáo viên đã vô
tình làm ức chế các học sinh khác tiếp tục muốn trình bày ý kiến của mình.
- Tuyệt đối không bình luận hay nhận xét gì về tính đúng hay sai của các
ý kiến ban đầu của học sinh.
4. Một số nghiên cứu gần đây liên quan đến đề tài
“Vận dụng hiệu quả phương pháp Bàn tay nặn bột vào giảng dạy môn
Hóa học 9 Trường THCS An Thành giúp học sinh ham thích học tập bộ môn”
8
Dân tộc kinh
Lớp 9A1
36
18
18
36
Lớp 9A6
36
19
17
36
Cả hai lớp có ý thức trong học tập. Tuy không phải là hai lớp có thành tích
nổi bật như các lớp khác nhưng các em tích cực và ham học hỏi. Tuy nhiên cả 2
lớp vẫn còn một số học sinh thụ động, chưa mạnh dạn tham gia xây dựng bài,
năng lực tư duy hạn chế, khi giao việc về nhà vẫn còn học sinh chuẩn bị bài theo
kiểu đối phó, chiếu lệ.
Về kết quả học tập của năm học trước cũng tương đương về học sinh giỏi,
khá, trung bình, yếu. Về số điểm các môn cũng khá đồng đều nhau.
15/2
16/12
4/3
36/17
10
* Khi dạy hai lớp: 9A1và 9A6 tôi luôn cố gắng giảng dạy các em với tinh
thần trách nhiệm cao, luôn tìm tòi nghiên cứu các phương pháp giảng dạy sao
cho học sinh dễ hiểu, dễ nhớ và luôn tìm cách truyền cảm hứng cho các em yêu
thích học tập môn Hóa học.
2. Thiết kế nghiên cứu
Kiểm tra trước và sau tác động đối với các nhóm tương đương:
Chọn hai lớp 9A1 và 9A6 trường THCS Bàu Năng: Lớp 9A1 là lớp
thực nghiệm, lớp 9A6 là lớp đối chứng. Tôi cho học sinh cả hai lớp làm một bài
kiểm tra khảo sát trước tác động, sử dụng kết quả bài kiểm tra này và dùng phép
kiểm chứng t-test độc lập để kiểm chứng sự chênh lệch giữa điểm số trung bình
của hai nhóm trước tác động.
Bảng kết quả kiểm chứng xác định các nhóm tương đương (So sánh điểm
trung bình bài kiểm tra trước tác động)
Nhóm đối chứng
Nhóm thực nghiệm
Giá trị điểm trung bình
5.60
5.58
Vận dụng phương pháp Bàn tay nặn
bột vào tiết dạy truyền thụ kiến thức
mới khi dạy một số bài ở chương II
Kim loại
7.04
5.60
Không vận dụng phương pháp Bàn
6.01
11
TĐ
tay nặn bột vào tiết dạy truyền thụ
kiến thức mới khi dạy một số bài ở
chương II Kim loại
(ĐC)
Ở thiết kế này, tôi sử dụng phép kiểm chứng t-test độc lập.
3. Quy trình nghiên cứu
* Chuẩn bị bài của giáo viên
24
Thứ tư
Hóa
12/11/2014
25
Thứ tư
Hóa
19/11/2014
27
Tên bài dạy
Dãy hoạt động hóa học của kim loại
Nhôm
Sắt
Ăn mòn kim loại và bảo vệ kim loại
không bị ăn mòn.
4. Đo lường và thu thập dữ liệu
* Quy trình kiểm tra và chấm bài kiểm tra
- Bài kiểm tra trước tác động là bài kiểm tra kiến thức ở chương I
- Bài kiểm tra sau tác động là bài kiểm tra sau khi học xong một số bài ở
chương II. Bài kiểm tra gồm 4 câu.
- Tổ chức kiểm tra hai lớp cùng một thời điểm, cùng đề. Sau đó tổ chức
chấm điểm theo đáp án đã xây dựng.
1.42
1.26
1.12
Giá trị p của
T-test
0.0005
SMD
0.92
Biểu đồ so sánh kết quả điểm trung bình giữa hai lớp trước và sau tác động.
13
2. Phân tích dữ liệu
Kết quả bài kiểm tra sau tác động cho thấy điểm trung bình của nhóm
thực nghiệm cao hơn nhóm đối chứng, chênh lệch điểm số là 7.04 – 6.01 = 1.03.
Điều này cho thấy điểm trung bình của hai lớp đối chứng và thực nghiệm đã có
sự khác biệt rõ rệt, lớp được tác động có điểm trung bình cao hơn lớp đối chứng.
Chứng tỏ rằng khi có sự tác động bằng phương pháp Bàn tay nặn bột ở lớp 9A1
đã cho kết quả hoàn toàn khả quan.
Sử dụng phép kiểm chứng t- test để kiểm chứng chênh lệch điểm trung bình
cho kết quả p = 0,0005
chênh lệch điểm trung bình giữa hai nhóm rất có ý nghĩa. Điều này minh chứng
14
là điểm trung bình lớp thực nghiệm cao hơn lớp đối chứng không phải do ngẫu
nhiên mà là do kết quả của sự tác động mang lại.
- Tác động đã có ý nghĩa với lớp thực nghiệm, kết quả học tập của học
sinh 9A1 tăng rõ rệt.
Bước đầu học sinh còn lúng túng, song dưới sự điều khiển của giáo viên
học sinh đã dần dần làm quen với phương pháp học mới, học sinh hứng thú học
tập, thích nghiên cứu tìm tòi khám phá kiến thức mới, mạnh dạn dưa ra ý tưởng
đề xuất các câu hỏi một cách hợp lý. Học sinh đã mạnh dạn trình bày ý kiến
quan điểm của mình trước tập thể. Xác định được kiến thức một cách rõ ràng, hệ
thống được các kiến thức vừa học.
* Hạn chế
Do phương pháp Bàn tay nặn bột còn mới mẻ nên giáo viên mất nhiều thời
gian để chuẩn bị một tiết dạy.
Bàn ghế học sinh chưa phù hợp với phương pháp Bàn tay nặn bột, trước tiết
học, học sinh phải sắp xếp bàn ghế cho thuận tiện việc thảo luận nhóm nên còn
mất thời gian. Học sinh chưa quen với việc học tập theo phương pháp này, nên
còn lúng túng ở kỹ năng thu thập, xử lí và diễn đạt thông tin dẫn đến giáo viên
phải dành nhiều thời gian để hướng dẫn các em.
15
V. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1. Kết luận
Phương pháp Bàn tay nặn bột giúp học sinh thực sự hiểu những kiến thức đã
học mà không phải đơn giản chỉ là học để nhắc lại nội dung kiến thức và thông
nặn bột vào một hoặc hai đề mục của bài (nếu bài có nội dung dài) và tùy theo
trình độ học tập của từng lớp, ta phải vận dụng sao cho phù hợp.
- Nên mời đồng nghiệp dự giờ rút kinh nghiệm trong các tiết học này để
góp ý việc vận dụng phương pháp được hoàn thiện hơn.
Do thời gian nghiên cứu có hạn nên tôi chỉ nghiên cứu việc vận dụng phương
pháp Bàn tay nặn bột vào tiết dạy truyền thụ kiến thức mới cho học sinh lớp
9A1 nhưng bản thân nhận thấy việc vận dụng phương pháp này vào tiết dạy đã
đem lại hiệu quả khả quan, góp phần nâng cao kết quả học tập của học sinh.
2. Khuyến nghị
2.1. Đối với các cấp lãnh đạo
- Cần xây dựng cho trường các phòng học bộ môn và phòng học thí nghiệm
thực hành.
- Bố trí bàn ghế theo quy cách hoạt động nhóm để học sinh dễ dàng trao đổi
thảo luận, nghiên cứu trong quá trình hoạt động học tập.
- Việc dạy học theo phương pháp mới này còn đang trong giai đoạn thử
nghiệm nên mong muốn các cấp quản lý chuyên môn có cái nhìn khách quan khi
đánh giá kết quả tiết dạy của giáo viên, cần động viên, khuyến khích để giáo
viên mạnh dạn áp dụng phương pháp này.
- Hỗ trợ tích cực cho giáo viên trong việc áp dụng phương pháp mới này vào
giảng dạy.
- Cần mở các lớp bồi dưỡng, chuyên đề cụm, các tiết dạy mẫu về việc thực
hiện dạy học theo phương pháp Bàn tay nặn bột để giáo viên trao đổi, thảo luận,
học tập kinh nghiệm lẫn nhau.
2.2. Đối với giáo viên
- Giáo viên phải có tâm huyết với nghề, không ngừng học hỏi, tìm tòi nghiên
cứu phương pháp Bàn tay nặn bột bằng nhiều cách.
- Biết vận dụng các kiến thức để thiết kế hoàn thành các tiết dạy theo phương
pháp Bàn tay nặn bột có chất lượng nhằm góp phần nâng cao khả năng tìm tòi
nghiên cứu sáng tạo của học sinh và nâng cao chất lượng giảng dạy.
Đây là một đề tài nghiên cứu hoàn toàn mới, không tránh khỏi những sơ