Tình huống lừa đảo chiếm đoạt tài sản thông qua việc không trả lại vé số trúng thưởng - Pdf 35

Tình huống lừa đảo chiếm đoạt tài sản thông qua việc không trả lại vé
số trúng thưởng

Đề bài: Chiều ngày 17 tháng 9 năm 2003, Đ cùng C đang ngồi uống nước thì có
một em bé mời mua vé số. C lấy 15.000 đồng mua 3 tờ vé số. Trong khi C trả tiền
thì Đ nhận lấy 3 tờ vé số từ người bán đút và cất vào túi quần của mình và nói: “Để
tôi cầm cho may mắn, nếu trúng thưởng thì tối nay lại nhậu nhé”. C chỉ cười và
không có phản ứng gì. Sáng hôm sau khi dò vé số biết trúng thưởng, Đ đã đi nhận
thưởng 150 triệu đồng rồi gọi điện cho C nói: “3 tờ vé số hôm qua trượt hết rồi” rồi
đi mua một chiếc xe máy. Sau đó Đ mời C đến nhà liên hoan khao xe mới. C nghi
ngờ, đi hỏi và biết được 3 vé số mà mình mua trúng thưởng trị giá 150 triệu đồng. C
yêu cầu Đ trả lại số tiền trúng thưởng nhưng Đ kiên quyết từ chối và nói dối là vé
không trúng thưởng nên đã xé bỏ. C đề nghị cơ quan công an điều tra và vụ việc
được xác định đúng như đã nêu trên.

Hỏi:
1. Hành vi của Đ cấu thành tội gì? Tại sao? (4 điểm)
2. Tội phạm mà Đ thực hiện có cấu thành vật chất hay hình thức? Tại sao? (2 điểm)
3. Hãy xác định khung hình phạt đối với hành vi phạm tội mà Đ đã thực hiện. (1
điểm)
I. CƠ SỞ PHÁP LÝ.
- Chủ thể của tội phạm: chủ thể thường, đủ điều kiện về tuổi và có năng lực trách
nhiệm hình sự đầy đủ.
- Khách thể của tội phạm: quan hệ sở hữu đối với tài sản.


- Đối tượng tác động của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản: tài sản trị giá 150 triệu.
- Điều 139 bộ luật hình sự.
II. GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG.
1. Hành vi của Đ cấu thành tội gì? Tại sao?
Hành vi của Đ cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo điều 139 Bộ luật hình

Hành vi lừa dối là hành vi cố ý đưa ra thông tin không đúng sự thật nhằm để người
khác tin đó là sự thật.
Cụ thể trong trường hợp này, Đ đã có hành vi lừa dối C, khi biết tấm vé số trúng
thưởng lẽ ra Đ phải trả lại cho chủ của tấm vé là C nhưng Đ đã đi nhận thưởng và
nói dối với C là tấm vé không trúng thưởng. Hành vi gian dối thứ hai là khi C sau
khi được Đ mời ăn liên hoan mua xe máy mới đã nghi ngờ và đi dò thì biết tấm vé
của mình trúng thưởng, Đ lại tiếp tục gian dối bằng cách nói dối là vé không trúng
thưởng nên đã xé bỏ. Đ đã cố tình đưa ra những thông tin không đúng sự thật để
đánh lừa C,
Hình thức của hành vi lừa dối: Hành vi lừa dối ở trong trường hợp này thể hiện qua
lời nói, Đ đã gọi điện cho C và nói “ 3 tờ vé số hôm qua trượt hết rồi” và tiếp tục
nói dối là đã xé bỏ vé số vì không trúng thưởng.


Hành vi chiếm đoạt : Trong trường hợp này, tài sản bị chiếm hữu đang ở trong sự
chiếm hữu của người phạm tội, ở đây là Đ, Đ đã giữ lại tài sản là phần thưởng trị
giá 150 triệu lẽ ra phải giao cho C. Vì đã tin vào thông tin mà Đ cung cấp là tấm vé
số không trúng thưởng nên C đã không nhận giải, ngay từ đầu tình huống, Đ đã yêu
cầu giữ hộ tấm vé cho may mắn và C đã tin tưởng giao cho Đ. Trường hợp này, tội
phạm hoàn thành ngay khi Đ gọi điện cho C và nói tấm vé không trúng
thưởng( trước đó đã tự ý đi nhận thưởng mà không nói với C).
>> Hành vi lừa dối là điều kiện để hành vi chiếm đoạt có thể xảy ra, còn hành vi
chiếm đoạt là mục đích và là kết quả của hành vi lừa dối.
+ Hậu quả: Hậu quả do hành vi của Đ gây ra là những thiệt hại cho quan hệ sở hữu
thể hiện dưới dạng thiệt hại về vật chất, ở đây là C đã bị mất số tiến là 150 triệu mà
lẽ ra C phải được hưởng do bỏ tiền ra mua vé số.
+ Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả: Quan hệ nhân quả là dạng của
mối liên hệ giữa các hiện tượng, trong đó hiện tượng được gọi là nguyên nhân với
những điều kiện nhất định đã làm phát sinh hiện tượng khác gọi là kết quả. Hành vi
chiếm đoạt tài sản trị giá 150 triệu là kết quả của hành vi lừa dối, hành vi chiếm

và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả. Đối với dấu hiệu hậu quả (và
cùng với nó là dấu hiệu mối quan hệ nhân quả) ở loại CTTP này lại được quy định
theo hai mức độ khác nhau:


+ Hậu quả là dấu hiệu bắt buộc để xác định tội phạm hoàn thành. Ở loại CTTP này,
nhà làm luật không trực tiếp đưa dấu hiệu hậu quả vào trong CTTP mà hậu quả
được quy định gián tiếp thông qua cách quy định về hành vi phạm tội.
+ Hậu quả là dấu hiệu bắt buộc để định tội. Ở dạng CTTP này, nhà làm luật trực tiếp
đưa hậu quả vào các quy định của CTTP với ý nghĩa là điều kiện xác định những
trường hợp thoả mãn CTTP của loại tội đó, loại trừ những trường hợp hành vi
không cấu thành tội phạm.
=> Cấu thành tội phạm vật chất là CTTP có các dấu hiệu của mặt khách quan gồm
hành vi, hậu quả, mối quan hệ nhân quả.
* Cấu thành tội phạm hình thức là CTTP có một dấu hiệu của mặt khách quan là
hành vi nguy hiểm cho xã hội. CTTP hình thức là CTTP chỉ có một dấu hiệu của
mặt khách quan được mô tả trong CTTP là dấu hiệu hành vi nguy hiểm cho xã hội.
Trong CTTP hình thức không có dấu hiệu hậu quả cũng như quan hệ nhân quả giữa
hành vi nguy hiểm và hậu quả nguy hiểm cho xã hội. Do đặc điểm của CTTP hình
thức như vậy mà quan hệ tâm lí của người phạm tội với các dấu hiệu của tội phạm
có CTTP hình thức có điểm khác căn bản so với tội phạm có CTTP vật chất.
Căn cứ vào những khái niệm và đặc điểm của CTTP nêu trên, ta có thể khẳng định
tội mà Đ phạm phải (lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo điều 139 bộ luật hình sự) có
CTTP vật chất. Ta thấy ở mặt khách quan của tội mà Đ phạm, có đầy đủ dấu hiệu
như hành vi, hậu quả và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả. Ở đây, hậu
quả còn là yếu tố bắt buộc để định tội Đ, giả sử tấm vé Đ giữ không trúng thưởng,
vì một lý do gì đó C đòi lại nhưng Đ không trả thì cũng không thể định tội Đ mặc
dù ở đây có yếu tố lừa dối, do đó hậu quả là yếu tố bắt buộc trong tội lừa đảo chiếm
đoạt tài sản. Trong trường hợp của Đ, hậu quả là dấu hiệu bắt buộc để định tội, vì
nếu lừa đảo nhưng không hay chưa chiếm đoạt được tài sản thì cũng không thể định

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu
đồng;
g) Gây hậu quả nghiêm trọng.
Khung hình phạt cho tội của Đ được xác định theo điểm e, khoản 2, điều 139, với
tình tiết làm tăng nặng tội là tài sản bị chiếm đoạt có giá trị trong khoảng từ năm
mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng mà cụ thể trong tình huống này, tài
sản mà Đ chiếm đoạt là tấm vé số đạt giải của C với trị giá lên đến 150 triệu đồng.
Vậy khung hình phạt cho Đ là từ hai cho đến bảy năm tù giam, định mức khung
hình phạt theo điểm e, khoản 2, điều 139.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status