Một số kỹ năng thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, kiểm sátxét xử sơ thẩm các vụ án Lừa đảo chiếm đoạt tài sản - Pdf 38

Một số kỹ năng thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, kiểm sát
xét xử sơ thẩm các vụ án Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Ths. Lê Đức Xuân
Viện trưởng VKSND tỉnh Bình Phước
MỞ ĐẦU
Trong thời gian qua, tội phạm Lừa đảo chiếm đoạt tài sản có sự gia tăng
đáng kể về số lượng tội phạm và người phạm tội với thủ đoạn phạm tội ngày càng
tinh vi và táo bạo hơn, tài sản bị chiếm đoạt trong nhiều trường hợp lên đến hàng
ngàn tỷ đồng, gây thiệt hại nghiêm trọng cho các cá nhân, tổ chức.
Với vị trí là cơ quan kiểm sát việc chấp hành pháp luật trong tất cả các giai
đoạn tố tụng hình sự nói chung và trong giai đoạn điều tra, xét xử sơ thẩm các vụ
án hình sự nói riêng, Viện kiểm sát nhân dân có trách nhiệm bảo đảm pháp luật
được thi hành nghiêm chỉnh và thống nhất, không để lọt người, lọt tội và không
làm oan người vô tội. Hiệu quả của công tác này phụ thuộc phần lớn vào kỹ năng
của Kiểm sát viên khi thực hiện nhiệm vụ thực hành quyền công tố, kiểm sát điều
tra, kiểm sát xét xử các vụ án hình sự. Tuy nhiên, trình độ chuyên môn của Kiểm
sát viên khi tiến hành hoạt động thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra, kiểm
sát xét xử sơ thẩm các vụ án nói chung và các vụ án Lừa đảo chiếm đoạt tài sản nói
riêng trong nhiều trường hợp còn hạn chế như: không tiến hành kiểm sát thường
xuyên các biện pháp điều tra, không kịp thời phát hiện những thiếu sót trong quá
trình thu thập tài liệu, chứng cứ… dẫn đến một số trường hợp không đủ căn cứ để
khởi tố vụ án, khởi tố bị can hay không đủ cơ sở để truy tố, xét xử, yêu cầu điều tra
không đảm bảo… Những hạn chế, yếu kém đó đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng
đến quyền tự do dân chủ của công dân và ảnh hưởng nhiều đến uy tín của các cơ
quan tiến hành tố tụng. Do đó, để hiệu quả của hoạt động thực hành quyền công tố,
kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự nói chung và các vụ án
Lừa đảo chiếm đoạt tài sản nói riêng đạt hiệu quả cao, Kiểm sát viên nhất định
phải nắm chắc các kỹ năng cần thiết cả về chuyên môn và nghiệp vụ khi thực hiện
hoạt động hoạt động thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra và kiểm sát xét xử
sơ thẩm.
Từ những vấn đề nêu trên, việc nghiên cứu chuyên đề “Mộ t số kỹ năng thự c

sát xét xử sơ thẩm án hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản từ đó, làm sáng tỏ
vấn đề nghiên cứu.
5. Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
đề tài được chia làm 2 chương:
Chương 1: Một số kỹ năng thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra,
kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Trang 2


Chương 2: Kinh nghiệm từ một số vụ án Lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong
quá trình giải quyết có sai sót.
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ KỸ NĂNG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT
ĐIỀU TRA, KIỂM SÁT XÉT XỬ CÁC VỤ ÁN LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT
TÀI SẢN
1.1. Một số kỹ năng thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án
Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Với vị trí là cơ quan thực hành quyền công tố và kiểm sát việc chấp hành
pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự của Cơ quan điều tra trong giai đoạn điều
tra các vụ án hình sự nói chung và các vụ án Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
(LĐCĐTS) nói riêng, Viện kiểm sát nhân dân có trách nhiệm bảo đảm pháp luật
được thi hành nghiêm chỉnh, thống nhất, không để lọt người, lọt tội phạm, không
làm oan người vô tội. Căn cứ pháp luật, quy trình, nội dung, biện pháp thực hiện
nhiệm vụ, quyền hạn này của VKSND được quy định tại Điều 137 Hiến pháp năm
1992, Điều 112, 113 BLTTHS, Điều 1, 3, 12, 13, 14 Luật Tổ chức Viện kiểm sát
nhân dân 2002, Quy chế về Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo
pháp luật trong điều tra các vụ án hình sự (ban hành kèm theo quyết định số
07/QĐ-VKSTC ngày 02/01/2008 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao), viết tắt là

động điều tra ban đầu (sau đây gọi chung là Cơ quan điều tra). Như vậy, kiểm sát
việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm là một thẩm quyền của Viện kiểm sát
nhân dân trong đó đối tượng kiểmsát chính là hoạt động của Cơ quan điều tra
trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Để
thực hiện thẩm quyền này, Kiểm sát viên được phân công phải kiểm tra, giám sát
các hoạt động của Cơ quan điều tra và các cơ quan được giao thực hiện một sốhoạt
động điều tra trong việc tiếp nhận, xác minh thông tin về tội phạm phục vụ cho
việc quyết định khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự nhằm đảm bảo các hoạt
động này luôn tuân thủ quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Hoạt động này có sự
gắn kết chặt chẽ và hỗ trợ đắc lực cho hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát
điều tra, kiểm sát xét xử sau này của Kiểm sát viên trong quá trình giải quyết vụ án.
Khác với các tố giác, tin báo về tội phạm của các loại tội phạm khác, việc
tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, có
những đặc thù riêng ở chỗ: Các tố giác, tin báo về tội phạm này chủ yếu là do
người bị hại (cá nhân, tổ chức) cung cấp cho Cơ quan điều tra; người bị hại sau khi
bị chiếm đoạt tài sản thường không phát hiện được do hành vi lừa đảo gây ra mà
phải qua một thời gian nhất định mới phát sinh nghi ngờ và mới tố cáo với cơ quan
điều tra. Để phát hiện hành vi phạm tội, người phạm tội, Cơ quan điều tra không
chỉ sử dụng các biện pháp tố tụng mà phải sử dụng các biện pháp nghiệp vụ và
phải trải qua một thời gian nhất định mới có thể thực hiện được. Chính vì vậy, để
Trang 4


kiểm sát việc tiếp nhận, tố giác, tin báo về tội phạm này có hiệu quả, kiểm sát viên
được phân công phải tập trung những vấn đề sau đây:
Quan hệ chặt chẽ với Cơ quan điều tra để quản lý được tình hình tiếp nhận
và xử lý ban đầu về tố giác, tin báo tội phạm này (Số lượng và nội dung tố giác, tin
báo).
Yêu cầu Cơ quan điều tra lấy lời khai người bị hại để làm rõ số người bị hại,
giá trị tài sản bị chiếm đoạt, giá trị tài sản bị thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra;

+ Các tài liệu, đồ vật thể hiện việc đối tượng có thủ đoạn gian dối;
+ Các tài liệu, biên bản thể hiện việc đối tượng có ý thức chiếm đoạt tài sản
tài sản (nếu được), giá trị tài sản mà đối tượng mong muốn chiếm đoạt; Biên bản
định giá tài sản.
+ Các tài liệu, biên bản thể hiện việc thỏa thuận, nội dung thỏa thuận; các tài
liệu thể hiện việc giao – nhận tài sản giữa người bị hại và người phạm tội (phiếu
chuyển tiền qua ngân hàng, biên nhận giao tiền/giao hàng, hợp đồng…).
+ Các tài liệu, biên bản thể hiện việc đối tượng có hành vi chiếm đoạt tài sản
(tài liệu thể hiện việc đối tượng đã bán tài sản, tài liệu thể hiện việc đối tượng cố ý
không thực hiện nghĩa vụ hoàn trả tài sản theo đúng thỏa thuận…)
- Kiểm tra tính hợp pháp của quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án.
Khi kiểm tra tính hợp pháp của quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án, kiểm
sát viên phải kiểm tra những văn bản về những vấn đề sau:
+ Thẩm quyền ra quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án, họ tên, chức
vụ của người ra quyết định, chữ ký, con dấu.
+ Nội dung quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án có ghi rõ thời gian,
căn cứ khởi tố hoặc không khởi tố. Nếu khởi tố thì theo khoản nào của Điều 139
của Bộ luật hình sự.
+ Kiểm tra hình thức các biên bản ghi lời khai, biên bản khám nghiệm hiện
trường, biên bản làm việc… có tuân thủ các quy định tại khoản 1 Điều 95 Bộ luật
tố tụng hình sự hay không? Việc kiểm tra tính hợp pháp của quyết định khởi tố
hoặc không khởi tố vụ án nhằm đảm bảo giá trị pháp lý của văn bản tố tụng và giá
trị chứng minh của các chứng cứ đã thu thập được.
Sau khi kiểm tra tính có căn cứ và tính hợp pháp của quyết định khởi tố hoặc
không khởi tố vụ án Kiểm sát viên được phân công xử lý như sau:
Nếu thấy quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án là có căn cứ và hợp
pháp thì báo cáo lãnh đạo, vào sổ thụ lý và thông báo cho Cơ quan điều tra biết để
tiến hành các hoạt động điều tra tiếp theo hoặc chấm dứt các hoạt động điều tra.
Nếu quyết định khởi tố vụ án là không có căn cứ thì báo cáo lãnh đạo ra văn
bản yêu cầu Cơ quan điều tra ra quyết định hủy bỏ. Nếu cơ quan đã khởi tố không

tội.
+ Nghiên cứu kiểm tra công văn đề nghị xét phê chuẩn của cơ quan điều tra
để nắm được yêu cầu của Cơ quan điều tra.
+ Nghiên cứu, kiểm tra quyết định khởi tố vụ án và khởi tố bị can để xác
định tính phù hợp giữa hai quyết định này.
+ Nghiên cứu kiểm tra hồ sơ đề nghị xét phê chuẩn bao gồm: Nghiên cứu
các tài liệu, chứng cứ dùng làm căn cứ để khởi tố vụ án như đã phân tích tại mục
1.1.2.1 để tiếp tục khẳng định sự việc có tính pháp lý hình sự xảy ra là có dấu hiệu
tội phạm và việc khởi tố vụ án là có căn cứ và hợp pháp. Mặt khác để đảm bảo việc

Trang 7


phê chuẩn quyết định khởi tố bị can đúng người, đúng tội, kiểm sát viên cần tập
trung nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ xét phê chuẩn sau đây:
+ Nghiên cứu biên bản lấy lời khai bổ sung của người bị hai sau khi đã có
quyết định khởi tố vụ án; biên bản ghi lời khai của người bị hại do Cơ quan điều
tra mới phát hiện hoặc do họ mới tố cáo với Cơ quan điều tra để xác định giá trị tài
sản bị chiếm đoạt;
+ Nghiên cứu biên bản bắt, khám xét đối tượng để xác định các dấu vết, vật
chứng mới được phát hiện, thu giữ trong quá trình bắt, khám xét chỗ ở, chỗ làm
việc, địa điểm và trong người đối tượng để xác định công cụ, phương tiện thực
hiện thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản.
+ Nghiên cứu biên bản ghi lời khai của đối tượng bị tạm giữ và biên bản hỏi
cung bị can đã được Điều tra viên tiến hành ngay sau khi khởi tố bị can để làm rõ
hành vi phạm tội của bị can; vị trí, vai trò của từng bị can trong vụ án có đồng
phạm và những vần đề khác về lỗi, tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự, năng lực
trách nhiệm hình sự và các tình tiết khác có liên quan đến việc giải quyết đúng đắn
vụ án.
+ Nghiên cứu các tài liệu chứng cứ do Cơ quan điều tra phát hiện và thu

chiếm đoạt tài sản. Những công cụ, phương tiện mà người phạm tội Lừa đảo chiếm
đoạt tài sản sử dụng là những vật chứng quan trọng có giá trị chứng minh tội phạm
và những vật chứng này chỉ có thể thu thập được thông qua hoạt động khám xét,
thu giữ. Bên cạnh đó, trong các vụ án Lừa đảo, sau khi chiếm đoạt tài sản, người
phạm tội có thể tẩu tán tài sản hoặc sử dụng vào những mục đích khác nhau, nhiều
trường hợp không thể thu hồi dẫn đến việc không thể hoàn trả hoặc bồi thường cho
người bị hại. Để đảm bảo chho việc giải quyết vụ án, nhiều trường hợp cần thiết
phải thực hiện việc kê biên tài sản của người phạm tội. Do đó, khi giải quyết các
vụ án Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nhất thiết phải quan tâm đến hoạt động khám
xét, thu giữ, tạm giữ, kê biên tài sản.
Khi kiểm sát việc khám xét, thu giữ, tạm giữ vật chứng, kê biên tài sản,
Kiểm sát viên phải yêu cầu Điều tra viên và những người tham gia khám xét chấp
hành đúng các quy định tại các Điều 75, 140, 141, 142, 143, 144, 145, 146, 147 và
148 BLTTHS và các quy định pháp luật hiện hành.
Đối với những trường hợp Cơ quan điều tra đề nghị phê chuẩn lệnh khám
người, chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm; lệnh thu giữ thư tín, bưu kiện, bưu phẩm thì
Kiểm sát viên kiểm tra tính có căn cứ và hợp pháp của các lệnh này và báo cáo
Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Kiểm sát viên được Viện trưởng uỷ quyền xử
lý như sau:
- Nếu đề nghị phê chuẩn của Cơ quan điều tra có đủ căn cứ thì ra quyết định
phê chuẩn;
- Nếu đề nghị phê chuẩn của Cơ quan điều tra không có căn cứ thì ra quyết
định không phê chuẩn và nêu rõ lý do.
Đối với những trường hợp không thể trì hoãn, lệnh khám xét hoặc thu giữ
Trang 9


bưu kiện, bưu phẩm không có sự phê chuẩn của Viện kiểm sát, thì ngay sau khi
nhận được văn bản thông báo việc khám xét, Kiểm sát viên kiểm tra tính có căn cứ
và hợp pháp của các lệnh, biên bản khám xét để kịp thời phát hiện vi phạm, báo

hồ sơ kiểm sát một bản.
Trang 10


Lưu ý, khi kiểm sát các biên bản lấy lời khai người bị hại trong các vụ án
Lừa đảo chiếm đoạt tài sản Kiểm sát viên cần tập trung vào những vấn đề sau đây:
- Đối chiếu biên bản lấy lời khai người bị hại sau khi khởi tố vụ án với đơn
tố cáo hành vi phạm tội ban đầu để xem xét có vấn đề gì mới phát sinh hay không,
nếu có thì phát sinh vấn đề gì? Lý do vì sao?
- Biên bản lấy lời khai người bị hại để làm rõ phương thức, thủ đoạn thực
hiện tội phạm của các đối tượng phạm tội hay chưa?
Tính chất, mức độ thiệt hại thể hiện trong các lời khai của người bị hại như
thế nào và cụ thể là bao nhiêu.
- Nghiên cứu xem xét đánh giá đối chiếu các lời khai của người bị hại tại
các thời điểm khác nhau để xác định có hay không có mâu thuẫn cần làm rõ. Nếu
trong quá trình nghiên cứu kiểm tra các văn bản lấy lời khai người bị hại chưa
được làm rõ những vấn đề nêu trên thì Kiểm sát viên trao đổi với điều tra viên để
họ khắc phục hoặc làm văn bản yêu cầu Điều tra viên tiến hành lấy lời khai người
bị hại để làm rõ. Trong trường hợp cần thiết để nắm được phương thức, thủ đoạn
thực hiện hành vi phạm tội và kiểm tra tính chính xác của giá trị tài sản bị thiệt hại
thì Kiểm sát viên có thể triệu tập và lấy lời khai người bị hại nhưng phải thông báo
cho Điều tra viên biết và biên bản lấy lời khai phải lưu vào hồ sơ vụ án.
1.1.4.2. Kiểm sát việc hỏi cung bị can
Việc kiểm tra giám sát hỏi cung bị can được tiến hành bằng hai hình thức là
Kiểm sát viên trao đổi với Điều tra viên để cùng tham gia hỏi cung bị can, để bảo
đảm việc truy tố và thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử đúng người, đúng
tội và chủ động trong từng hoạt động của Kiểm sát viên tại phiên tòa; hai là kiểm
sát các biên bản hỏi cung của Điều tra viên trong giai đoạn điều tra và truy tố. Khi
kiểm sát việc hỏi cung bị can của Điều tra viên, ngoài việc xác định việc hỏi cung
bị can của Điều tra viên để làm rõ các vấn đề cần phải chứng minh về thời gian, địa

bản hỏi cung bị can của Kiểm sát viên phải được đưa vào hồ sơ vụ án và sao lưu hồ
sơ kiểm sát một bản.
1.1.5. Kỹ năng đề ra yêu cầ u điề u tra
Đề ra yêu cầu điều tra là một trong những quyền công tố của VKSND được
tiến hành trong quá trình thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án Lừa
đảo chiếm đoạt tài sản nhằm góp phần đảm bảo cho việc điều tra vụ án đúng
hướng, khách quan, toàn diện và đúng pháp luật, tránh làm oan sai và bỏ lọt tội
phạm. Quyền yêu cầu điều tra của VKSND được quy định tại khoản 2 Điều 112
BLTTHS, khoản 2 Điều 13 Luật tổ chức VKSND năm 2002 quy định: Khi thực
hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra, Viện kiểm sát có nhiệm vụ và quyền
hạn đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra tiến hành điều tra”. Theo
quy định tại Điều khoản 1 Điều 37 BLTTHS, kiểm sát viên có nhiệm vụ thực hành
quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án hình sự là người có trách nhiệm thực hiện
việc đề ra yêu cầu điều tra. Quyền đề ra yêu cầu điều tra của kiểm sát viên còn

Trang 12


được quy định cụ thể tại Điều 15 Thông tư liên tịch số 05/2005 và Điều 19 Quy
chế số 07/2008.
Để làm tốt kỹ năng đề ra yêu cầu điều tra đối với vụ án Lừa đảo chiếm đoạt
tài sản phải có nhận thức đúng và tuân thủ các quy định của pháp luật về thẩm
quyền của VKS trong việc đề ra yêu cầu điều tra và đảm bảo các yêu cầu sau:
- VKS phải nắm vững lý luận về tội phạm và đặc trưng cơ bản của tội phạm
LĐCĐTS. Đây là cơ sở quan trọng đầu tiên giúp cho việc xác định phương hướng
giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và cả quá trình điều tra chứng minh tội
phạm.
- Phải theo sát tiến độ điều tra để nắm được diễn biến, tính chất của vụ án,
nghiên cứu, phân tích, đánh giá các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ ánđể phát
hiện những vấn đề mâu thuẫn, những vấn đề cần tiếp tục làm rõ thêm trong vụ án.

người bị lừa dối đã mất khả năng làm chủ tài sản đó trên thực tế. Tội lừa đảo coi là
hoàn thành ở thời điểm này – thời điểm người phạm tội đã chiếm đoạt được tài sản.
Nếu tài sản bị chiếm đoạt đang trong sự chiếm hữu của người phạm tội thì hình
thức thể hiện cụ thể của hành vi chiếm đoạt là hành vi giữ lại tài sản đáng lẽ phải
giao cho người bị lừa dối. Vì đã tin vào thông tin của người phạm tội nên người bị
lừa dối đã nhận nhầm tài sản hoặc không nhận. Khi người bị lừa dối nhận nhầm
hoặc không nhận tài sản cũng là lúc người phạm tội lừa đảo đã làm chủ được tài
sản bị chiếm đoạt và người bị lừa dối đã mất tài sản đó. Tội lừa đảo coi là hoàn
thành ở thời điểm này – thời điểm người phạm tội đã chiếm đoạt được tài sản.
Như vậy, để chứng minh tội phạm và người phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài
sản, Kiểm sát viên nhất thiết phải yêu cầu Điều tra viên tập trung yêu cầu làm rõ
những nội dung sau đây:
- Thủ đoạn gian dối
Đề xác định được có hành vi phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản xảy ra hay
không, nhất thiết phải chứng minh những vấn đề sau: Có thủ đoạn gian dối hay
không? Cụ thể là hành vi gì, thực hiện bằng công cụ, phương tiện nào?Hành vi
gian dối đó có nhằm chiếm đoạt tài sản hay không? Thủ đoạn gian dối có là điều
kiện trực tiếp để thực hiện hành vi chiếm đoạt không? Người bị hại có tin vào hành
vi gian dối mà giao tài sản cho người phạm tội không?
Bởi thủ đoạn gian dối của người phạm tội luôn được thể hiện bằng những
hành vi cụ thể nhằm đánh lừa chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản, không có thủ
đoạn thuộc về tư tưởng, suy nghĩ của người phạm tội lại không được biểu hiện ra
bên ngoài bằng hành vi nên việc xác định thủ đoạn gian dối là việc có thể thực
hiện. Trong nhiều trường hợp, thủ đoạn gian dối của người phạm tội rất tinh vi,
phức tạp. Tuy nhiên, thủ đoạn gian dối của người phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài
sản thường được thực hiện một cách hết sức đa dạng.Tùy thuộc vào điều kiện,
hoàn cảnh cụ thể mà người phạm tội có hành vi cụ đánh lừa được người khác sao
cho chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản tin mà giao tài sản cho người phạm tội.
Trên thực tế,thủ đoạn của người phạm tội rất tinh vi, phức tạp, liên quan đến kiến
Trang 14

nhân, sử dụng vào các hoạt động bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng thu hồi,
khả năng tài chính của các đối tượng không thể thanh toán được các khoản nợ,
chiếm đoạt tài sản rồi bỏ trốn…
Do đó, để làm rõ yếu tố chiếm đoạt trong vụ án Lừa đảo chiếm đoạt tài sản,
KSV cần yêu cầu Điều tra viên cần xác định rõ những nội dung sau:

Trang 15


Đối tượng có hay không có ý thức chiếm đoạt tài sản? Thời điểm xuất hiện ý
thức chiếm đoạt tài sản (trước, trong hay sau khi giao – nhận tài sản)? Hành vi
chiếm đoạt của đối tượng được thể hiện dưới hình thức nào? Các chứng cứ chứng
minh việc đối tượng có ý thức chiếm đoạt và hành vi chiếm đoạt? Sau khi được
giao – nhận tài sản, đối tượng sử dụng tài sản vào mục đích gì?
Thực tiễn cho thấy, có thể chứng minh hành vi chiếm đoạt của người phạm
tội thông qua việc xác định các vấn đề sau1:
Thứ nhất, sau khi có thủ đoạn gian dối để được giao - nhận tài sản, đối
tượng có hành vi sử dụng tài sản vào các mục đích khác nhau như: bán tài sản; tiêu
xài hết và không có khả năng thanh toán; sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp
pháp; không thực hiện nghĩa vụ hoàn trả nợ gốc và lãi theo thỏa thuận trong hợp
đồng khi nợ đến hạn mà không có sự chấp thuận gia hạn nợ, không được chủ nợ
đồng ý xóa nợ; cản trở việc phát mại tài sản để thu hồi nợ; đã mất khả năng thanh
toán trước đó nhưng vẫn dùng thủ đoạn gian dối để vay tiền hoặc để nhận tài sản
của người khác rồi dùng tài sản đó để trả nợ cho các khoản nợ trước đó rồi tuyên
bố vỡ nợ, không có khả năng thanh toán…
Thứ hai, sau khi có thủ đoạn gian dối để nhận được tài sản, đối tượng có
hành vi bỏ trốn để không phải trả lại tài sản. Có quan điểm cho rằng chỉ cần chứng
minh đối tượng bỏ trốn nhằm gây khó khăn cho chủ nợ trong việc thu hồi nợ, ngoại
trừ những trường hợp bỏ trốn vì sợ chủ nợ cưỡng bức, hành hạ là đủ để cấu thành
tội phạm. Thực tiễn cho thấy đây là yếu tố rất hay gây tranh cãi và dễ bị lạm dụng

rõ ràng bằng chứng cứ trong hồ sơ vụ án;
+ Lỗi của người phạm tội, thái độ trước, trong và sau khi phạm tội cũng như
hành vi cố ý gian dối để lấy lòng tin nhằm chiếm đoạt tài sản;
+ Người thực hiện hành vi lừa đảo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự hay
không?
+ Hành vi phạm tội được diễn ra như thế nào? Có đồng phạm không? Vai trò
của từng đồng phạm?
+ Công cụ, phương tiện gây án, đồ vật, giấy tờ, tài sản mà người phạm tội sử
dụng để phạm tội hoặc chiếm đoạt được của người bị hại hoặc dùng để che giấu tội
phạm;
+ Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự?
+ Những tài sản thuộc sở hữu của người phạm tội phục vụ việc kê biên, thu
hồi tài sản bị chiếm đoạt.
Cần chú ý những vấn đề cần chứng minh thuộc nhân thân của người phạm
tội và mặt chủ quan của tội phạm làm cơ sở đinh khung đã được quy định tại Điều
139BLHS.
Ba là, yêu cầu điều tra về người bị hại
Kiểm sát viên cần yêu cầu Cơ quan điều tra thu thập tài liệu chứng cứ để
làm rõ về người bị hại là một trong những vấn đề bắt buộc phải thực hiện khi điều
tra vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Những nội dung cần làm rõ đó là:
+ Căn cước lai lịch người bị hại;
Trang 17


+ Mối quan hệ giữa người phạm tội với người bị hại, với những người có
liên quan, người làm chứng của vụ án? Những hiểu biết của họ về người phạm tội
và hành vi phạm tội? Lòng tin của họ đối với hành vi gian dối của người phạm tội
để từ đó tự nguyện giao tài sản cho người phạm tội
+ Nguyên nhân, mục đích, lý do giao tài sản cho người phạm tội?
+ Thiệt hại hiện tại là như thế nào? Đã giao cho người phạm tội những tài


thần, kiểm sát viên yêu cầu cơ quan điều tra trưng cầu giám định tâm thần có bị
bệnh tâm thần không, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự không? Ngoài bị
can thực hiện tội phạm còn có đồng phạm hay không? Vai trò từng đồng phạm như
thế nào?
1.1.6. Kỹ năng xây dựng cáo trạng
Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, nếu thấy các tài liệu, chứng cứ đã được thu
thập đầy đủ, toàn diện, Kiểm sát viên xây dựng dư thảo cáo trạng. Về hình thức và
nội dung viết cáo trạng đối với tội LĐCĐTS cũng phải thực hiện theo hướng dẫn
viết cáo trạng số 107, ban hành kèm theo Quyết định số 07 ngày 02/01/2008 của
Viện trưởng Viện kiểm sát tối cao. Về phần mô tả hành vi phạm tội là phần trọng
tâm nhất của bản cáo trạng, cần vận dụng tổng hợp các kiến thức khoa học xã hội
và pháp lý nhằm thể hiện rõ hành vi phạm tội của bị can, với các nội dung cơ bản
sau:
- Khi viết diễn biến hành vi phạm tội cần đi thẳng vào trọng tâm hành vi
phạm tội của bị can từ khi nảy sinh ý định phạm tội, chuẩn bị phạm tội và thực
hiện hành vi xâm hại, chứ không phải những hành vi không liên quan trước khi
phạm tội như đi chơi, đi ăn uống, đi đánh bạc... làm cho bản cáo trạng dài và
không đảm bảo yêu cầu. Khi viết diễn biến hành vi phạm tội phải trên cơ sở tổng
hợp đánh giá chứng cứ của vụ án thể hiện tại bút lục nào. Trường hợp bị can chối
tội cũng phải viện dẫn chứng cứ để bác bỏ. Việc viện dẫn bút lục phải trên cơ sở
tổng hợp nguồn chứng cứ theo từng giai đoạn diễn biến tội phạm. Nội dung hành
vi phạm tội cần đảm bảo các nội dung chính sau:
- Nêu rõ diễn biến hành vi phạm tội từ khi bị can chuẩn bị, dự kiến lên kế
hoạch về phương pháp, thủ đoạn thực hiện tội phạm. Người phạm tội thường sử
dụng nhiều thủ đoạn tinh vi, khéo léo khác nhau để tiếp cận và gây lòng tin đối với
người bị hại, như: Dùng lời nói khéo léo, phù hợp với nhu cầu, tâm lý, lứa tuổi, sở
thích, nguyện vọng của người bị hại để gây lòng tin rồi chiếm đoạt tài sản; dùng lợi
ích vật chất để đánh vào lòng tham của người có tài sản; lợi dụng các mối quan hệ
quen biết từ trước, lợi dụng uy tín, vị trí của người khác để tạo lòng tin cho người

cáo trạng. Trường hợp tình tiết giảm nhẹ thuộc về nhân thân thì viết ở phần lý lịch.
- Về trách nhiệm dân sự: Nêu rõ yêu cầu của người bị hại, người có quyền
lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu bị can bồi thường hay không; nêu rõ giá trị tài
sản bị thiệt hại làm căn cứ buộc tội, vật chứng của vụ án đã thu giữ, hình thức xử
lý ra sao.
1.2. Một số kỹ năng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm
các vụ án Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
1.2.1. Hoạ t độ ng củ a kiể m sát viên trư ớ c khi mở phiên tòa
Để chuẩn bị cho công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử tại
phiên tòa xét xử sơ thẩm có hiệu quả, Kiểm sát viên được phân công phải chuẩn bị
tốt các nội dung sau đây:

Trang 20


- Nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án để nắm được nội dung vụ án đặc biệt là hành vi
khách quan của bị cáo. Kiểm sát viên cần sử dụng máy tính để sắp xếp hệ thống tài
liệu, chứng cứ luận tội, gỡ tội các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
theo thứ tự bút lục có trong hồ sơ để chứng minh hành vi phạm tội của bị can, hoặc
từng bị can trong các vụ án có đồng phạm và tình tiết có liên quan để chủ động
trong quá trình xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa.
- Xây dựng hồ sơ kiểm sát đầy đủ, toàn diện, khách quan đúng quy định của
Ngành. Kiểm sát viên cần phô tô đầy đủ các quyết định, một số biên bản hoạt động
điều tra cần thiết, các tài liệu, hợp đồng, hóa đơn, chứng từ giao nhận tiền/tài sản,
phân chia tài sản chiếm đoạt… Trích cứu có phản ánh đầy đủ nội dung lời khai của
bị hại, người làm chứng, biên bản hỏi cung bị can… để phục vụ cho hoạt động của
kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm (Nếu có).
- Xây dựng đề cương xét hỏi và dự kiến một số tình huống có thể xảy ra và
hướng giải quyết trên cơ sở kết quả THQCT, KSĐT vụ án, qua nghiên cứu hồ sơ
vụ án, xem xét các vật chứng, lời khai bị can, bị hại, nhân chứng…, các dư luận

+ Câu hỏi gợi mở làm cho người hỏi trả lời những nội dung mà người đó
biết, nhưng vì thời gian lâu nên không còn nhớ. Thông thường câu hỏi gợi mở này
nhằm làm cho người được hỏi nhớ lại những gì đã xảy ra trước đây về thời gian,
địa điểm và sự việc diễn ra trong thực tế như thế nào.
+ Câu hỏi phản bác lại việc khai báo không đúng sự thật đối với các trường
hợp tại phiên tòa người được hỏi khai báo không đúng sự thật. KSV cần đặt những
câu hỏi để người được hỏi trả lời về sự gian dối của mình, hoặc hỏi những người
khác để bác bỏ việc khai báo không đúng sự thật đó.
+ Câu hỏi bổ sung trong trường hợp tại phiên tòa bị cáo, người bị hại, người
làm chứng trả lời câu hỏi của KSV không chính xác về thời gian, nội dung, địa
điểm sự việc. Trong trường hợp này KSV phải tiếp tục đặt câu hỏi để người được
hỏi trả lời cho chính xác. Kiểm sát viên có thể đặt các câu hỏi đối với người khác
để trả lời bổ sung. Khi đặt câu hỏi, KSV phải chú ý, nhanh nhạy phát hiện những
mâu thuẫn, những thiếu sót của lời khai để hỏi bổ sung nhằm làm cho người được
hỏi khai đúng với sự thật khách quan.
- Viết ra dự thảo luận tội: Dự thảo luận tội của Kiểm sát viên đối với các vụ
án lừa đảo chiếm đoạt tài sản phải đảm bảo các vấn đề sau đây:
+ Về yêu cầu của luận tội: luận tội phải có căn cứ, chính xác, khách quan và
cụ thể; luận tội phải có tính giáo dục, thuyết phục và phòng ngừa cao; văn phong
sử dụng trong bản luận tội phải trong sáng, dễ hiểu, ngôn ngữ tiếng nước ngoài cần
được phiên âm đúng từ, đúng nghĩa khi cần có thể giải thích nghĩa.
+ Về hình thức phải theo mẫu hướng dẫn của VKSND Tối cao.
+ Về nội dung: ngoài phần mở đầu, kết luận, phần nội dung của luận tội phải
thể hiện đầy đủ các mặt nội dung sau đây:
Thứ nhất: phân tích đánh giá chứng cứ dựa trên bốn yếu tố cấu thành tội
phạm. Trước hết phân tích hành vi khách quan của tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Trang 22


thuộc hành vi khách quan nào được thể hiện ở lời khai người bị hại, lời nhận tội

can cụ thể; phải triệt để sử dụng kết quả điều tra thu được từ lấy lời khai của người
bị hại, người làm chứng, nhận dạng, khám xét, khám nghiệm hiện trường và các
bản cung bị can nhận tội trong quá trình điều tra, truy tố phục vụ cho việc xét hỏi
Trang 23


bị cáo. Sau đây là một số tình huống có thể xảy ra trong quá trình xét hỏi bị cáo tại
phiên tòa:
+ Trường hợp bị cáo không trả lời,KSV hỏi những người khác và xem xét
vật chứng, tài liệu có liên quan đến vụ án và khi hỏi người khác xong thì quay lại
tiếp tục hỏi bị cáo. Lần hỏi này, KSV cần dùng những lời khai của những người
liên quan trước đó, kết hợp việc công bố các tài liệu, chứng cứ được thu thập trong
quá trình điều tra, truy tố để đấu tranh với bị cáo và trên cơ sở đó phân tích, làm rõ
nội dung thủ đoạn phạm tội của bị cáo, lên án thái độ khai báo tại phiên tòa.
+ Trường hợp bị cáo không nhận tội, phản cung, tình huống này thường gặp
trong các vụ án LĐCĐTS phức tạp, nhiều bị cáo tham gia, vụ án có luật sư tham
gia bào chữa. Trong trường hợp này, KSV phải bình tĩnh sử dụng các chứng cứ
khác có trong hồ sơ vụ án và các tài liệu được xét hỏi tại phiên tòa để đấu tranh
thuyết phục bị cáo. Đồng thời, KSV cần hỏi những người làm chứng về tình tiết
liên quan đến câu hỏi đã hỏi bị cáo, sau đó, KSV cho xem xét các chứng từ, vật
chứng để bác bỏ lời khai không chính xác của bị cáo. Tiếp đó, KSV cần giải thích
cho bị cáo biết lời nhận tội của bị cáo trước đây đã được xác minh và bị cáo nhận
tội là có căn cứ. Đồng thời, KSV hỏi bị cáo tại sao trước đây bị cáo nhận tội với
CQĐT và VKS nay tại phiên tòa bị cáo lại chối tội? Trong trường hợp bị cáo khai
do ĐTV bức cung, mớm cung thì KSV hỏi tiếp là bức cung, mớm cung lúc nào? Ở
đâu? Ai là người thực hiện? Thực hiện như thế nào? Và tại sao khi KSV phúc cung
thì bị cáo không khai vấn đề này. Nghĩa là phải truy đến cùng về lời khai phản
cung của bị cáo, sau đó, KSV đề nghị công bố các tài liệu có liên quan để bác bỏ
lời khai không có căn cứ của bị cáo.
+ Trường hợp bị cáo thay đổi lời khai, đối với trường hợp này KSV cũng đối

tiết khai không đúng sự thật của người bị hại.
Khi HĐXX hỏi người bị hại, KSV phải chú ý ghi chép đầy đủ về nội dung
trình bày của họ để cân nhắc cần đặt câu hỏi như thế nào để tránh lặp lại và bổ
sung làm rõ những nội dung chưa được xét hỏi. Khi đặt câu hỏi làm rõ các nội
dung trên, KSV cần chú ý tập trung hỏi những tình tiết liên quan đến vụ án mà cáo
trạng đã đề cập, những vấn đề mà họ trình bày chưa rõ và còn có mâu thuẫn trong
việc xác định lợi ích, nội dung việc bồi thường thiệt hại.
1.2.3. Kỹ năng tranh luận
Hoạt động tranh luận của KSV tại phiên toà xét xử các vụ án LĐCĐTS là
làm sáng tỏ các tình tiết khách quan của vụ án, nhằm góp phần cùng với HĐXX
giải quyết vụ án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để xảy ra oan sai
cũng như bỏ lọt tội phạm. Như vậy, tranh luận của KSV không chỉ là buộc tội mà
cần phải chú ý cả vấn đề gỡ tội. Tranh luận của KSV bao gồm trình bày lời luận tội
và đối đáp với bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác. KSV
cần thường xuyên rèn luyện các kỹ năng nghiệp vụ về THQCT và KSXX tại phiên
toà hình sự sơ thẩm nói chung và phiên tòa hình sự sơ thẩm các vụ án LĐCĐTS
như: Kỹ năng nghiên cứu hồ sơ vụ án, kỹ năng xây dựng bản luận tội, kỹ năng
Trang 25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status