ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN MINH TÚ
“TÌM HIỂU KĨ THUẬT NHÂN GIỐNG CÂY TRÀ HOA VÀNG BẰNG
PHƯƠNG PHÁP GIÂM HOM
TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
Chuyên ngành
Lớp
Khoa
Khóa học
: Chính quy
: Lâm nghiệp
: K43 – LN N02
: Lâm nghiệp
: 2011 – 2015
Thái nguyên, năm 2015
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN MINH TÚ
TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
Chuyên ngành
Lớp
Khoa
Khóa học
Giảng viên hướng dẫn
: Chính quy
: Lâm nghiệp
: K43 – LN N02
: Lâm nghiệp
: 2011 - 2015
: GS.TS Đặng Kim Vui
Thái nguyên, năm 2015
ii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1. Kết quả phân tích mẫu đất ..........................................................................................20
Bảng 2.2. Một số yếu tố khí hậu 5 tháng đầu năm 2015 tại tỉnh Thái Nguyên ...........21
Bảng 3.4. Sơ đồ bố trí thí ghiệm………………….......……………………………24
Bảng 4.1. Tỷ lệ sống của hom Trà hoa vàng qua các công thức
thí nghiệm Từ ngày 30 đến ngày thứ 50...................................................................................30
LSNG
: Lâm sản ngoài gỗ
NST
: Nhiễm sắc thể
TB
: Trung bình
v
MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN .....................................................................................................i
LỜI CẢM ƠN ..........................................................................................................i
DANH MỤC CÁC BẢNG ......................................................................................ii
DANH MỤC CÁC HÌNH ..................................................................................... iii
PHẦN 1: MỞ ĐẦU ................................................................................................. 1
1.1. Đặt vấn đề ........................................................................................................ 1
1.2. Mục đích nghiên cứu ........................................................................................ 3
1.3. Mục tiêu nghiên cứu ......................................................................................... 3
1.4. Ý nghĩa đề tài ................................................................................................... 4
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU ........................................................................ 5
2.1. Đặc điểm loài cây nghiên cứu ........................................................................... 5
2.1.1. Đặc điểm hình thái ......................................................................................... 5
PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ................................................................ 40
5.1. Kết luận .......................................................................................................... 40
5.2. Đề nghị ........................................................................................................... 41
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................Error! Bookmark not defined.
i
LỜI CẢM ƠN
Thực tập tốt nghiệp là nội dung rất quan trọng đối với mỗi sinh viên
trước lúc ra trường. Giai đoạn này vừa giúp cho sinh viên kiểm tra, hệ thống
lại những kiến thức lý thuyết và làm quen với công tác nghiên cứu khoa học,
cũng như vận dụng những kiến thức đó vào thực tiễn sản xuất.
Để đạt được mục tiêu đó, được sự nhất trí của ban chủ nhiệm khoa Lâm
Nghiệp trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên tôi tiến hành thực tập tốt
nghiệp với đề tài: “Tìm hiểu kĩ nhân giống cây Trà hoa vàng bằng phương
pháp giâm hom tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”.
Để hoàn thành khóa luận này tôi đã nhận sự giúp đỡ tận tình của cán bộ
công nhân viên Vườn ươm khoa Lâm Nghiệp, các thầy cô giáo trong và
ngoài khoa Lâm Nghiệp, đặc biệt là sự hướng dẫn chỉ bảo tận tình của thầy
giáo hướng dẫn: GS.TS Đặng Kim Vui đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình
làm đề tài.
Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến các thầy cô trong
khoa Lâm Nghiệp, gia đình, bạn bè đặc biệt là thầy giáo GS. TS Đặng Kim
Vui đã giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận này.
Trong suốt quá trình thực tập, mặc dù đã rất cố gắng để hoàn thành tốt
bản khóa luận, nhưng vì do thời gian và kiến thức bản thân còn hạn chế. Vì
vậy bản khóa luận này không tránh khỏi những thiếu sót. Vậy tôi rất mong
được sự giúp đỡ, góp ý chân thành của các thầy cô giáo và toàn thể các bạn bè
đồng nghiệp để khóa luận tốt nghiệp của tôi được hoàn thiện hơn.
trong huyết thanh máu, giảm lượng cholesterol mật độ thấp (cholesterol
xấu) và tăng lượng cholesterol mật độ cao (cholesterol tốt); - Nước sắc lá
trà có tác dụng hạ huyết áp rõ ràng và tác dụng được duy trì trong thời
gian tương đối dài
3
- Nước sắc lá trà có tác dụng ức chế sự tụ tập của tiểu cầu, chống sự
hình thành huyết khối gây tắc nghẽn mạch máu; - Phòng ngừa ung thư và ức
chế sự phát triển của các khối u khác - Hưng phấn thần kinh; - Lợi tiểu mạnh;
- Giải độc gan và thận, ngăn ngừa xơ vữa động mạnh máu - Ức chế và tiêu
diệt vi khuẩn;
Ngoài ra, lá chè còn có tác dụng chống viêm, chống dị ứng và duy trì
trạng thái bình thường của tuyến giáp.
Tuy nhiên, trong những năm qua, tư thương đã thu gom từ rừng tự
nhiên rất nhiều hoa của hai loài Trà trênđể buôn bán, với giá khoảng trên
1.500.000/1kg hoa tươi, thậm chí buôn bán cả cây tươi với giá 20.000đ/kg,...
Sau đó sẽ được xuất khẩu sang Trung Quốc theo đường tiểu ngạch. Cùng một
số nguyên nhân khác, hai loài Trà hoa vàng này đang có nguy cơ bị tuyệt
chủng trong tự nhiên.
Xuất phát từ lý do trên tôi tiến hành đề tài: “Tìm hiểu kỹ thuật nhân
giống cây Trà hoa vàng bằng phương pháp giâm hom tại vườm ươm
trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”
1.2. Mục đích nghiên cứu
- Nắm bắt các kỹ thuật nhân giống vô tính cây Trà hoa vàng bằng
phương pháp giâm hom.
- Thực hành phương pháp nhận giống vô tính cây Trà hoa vàng bằng
phương pháp giâm hom.
1.3. Mục tiêu nghiên cứu
khoảng 10 đôi; cuống lá dài 6–7 mm. Hoa mọc đơn độc trên cuống dài 7–
10 mm; lá bắc 5. Lá đài 5; cánh hoa 8-10, màu vàng đậm, cao 3 cm; nhị
nhiều; bầu nhụy không lông, vòi nhụy 3-4, dính nhau một phần. Quả nang to
3 cm, vỏ quả dày 3 mm (Ngô Quang Đê, 2001)[1].
2.1.2. Phân bố
Trà hoa vàng (danh pháp hai phần: Camellia chrysantha) là một loài
thực vật hạt kín trong họ Theaceae. Nó được tìm thấy ở Trung Quốc (Tây
Nam tỉnh Quảng Tây) và Việt Nam (tỉnh Quảng Ninh).Vĩnh Phúc (Tam Đảo).
Sinh sống trong các khu rừng ẩm có độ cao dưới 500 m (Ngô Quang Đê,
2001)[1].
2.2. Cơ sở khoa học
Nhân giống là bước cuối cùng của một chương trình cải thiện giống để
cung cấp hạt giống hoặc hom cành cho trồng rừng trên quy mô lớn và cho các
bước cải thiện giống theo các phương thức sinh sản thích hợp.
Sinh sản bằng hạt tạo được cây khỏe mạnh nhưng lâu có quả và khó giữ
được tính di truyền tốt của cây mẹ.
Nhân giống bằng hom là phương pháp dùng một phần lá, một đoạn thân, đoạn
cành hoặc đoạn rễ để tạo nên cây mới gọi là cây hom, cây hom có đặc tính di
truyền như cây mẹ. Nhân giống bằng hom là phương pháp nhân giống có hệ
số nhân giống cao nên được dùng phổ biến trong nhân giống cây rừng, cây
cảnh và cây ăn quả (Lê Đình Khả,Dương Mộng Hùng, 2003) [4].
6
2.2.1. Cơ sở tế bào học
Bất kỳ một loài sinh vật nào cũng có cấu tạo từ tế bào. Tế bào là đơn vị
cấu trúc nhỏ nhất cơ bản nhất của sinh vật. Tế bào chứa bộ nhiễm sắc thể
mang đầy đủ thông tin di truyền cho quá trình phát triển của sinh vật, đồng
thời chất nguyên sinh của tế bào có khả năng nhận năng lương và chất liệu từ
để giâm hom như: Xoan, hồng...ngoài ra ở một số loài người ta có thể giâm
hom từ lá hoặc từ củ.
Khả năng ra rễ của hom cũng phụ thuộc vào xuất sứ của cây, có loài
hom có khả năng ra rễ cao, có loài hom khó ra rễ, chồi đỉnh có khả năng ra rễ
tốt hơn chồi nách, đặc biệt là cành chồi vượt khả năng ra rễ tốt hơn là cành lấy
từ tán cây. Tùy từng loài mà lấy hom ở vị trí nào cho phù hợp (Lê Đình Khả,
Dương Mộng Hùng, 2003) [4].
2.2.3. Sự hình thành rễ bất định
Nhân giống bằng hom dựa trên khả năng tái sinh hình thành rễ bất
định của một đoạn thân hoặc cành trong điều kiện thích hợp để hình thành
cơ thể mới.
Rễ bất định là rễ được sinh ra từ bất kỳ bộ phân nào của cây ngoài hệ rễ
của nó, trong giâm hom và chiết đều quan trong là hình thành rễ bất định, (Lê
Đình Khải, 2001) [6]
Có 2 loại rễ: rễ tiềm ẩn và rễ mới sinh.
- Rễ tiềm ẩn: Là rễ có nguồn gốc từ trong thân cây, cành cây nhưng chỉ
phát triển khi bộ phận của cây được phân tách ra khỏi cây mẹ.
- Rễ mới sinh: Là rễ được hình thành sau khi cắt hom và giâm hom.
Khi đó các tế bào chỗ bị cắt bị phá hủy, bị tổn thương và tế bào dẫn truyền đã
chết của mô gỗ được mở ra là giai đoạn các chu trình trao đổi và vận chuyển
các chất trong thân cây, dẫn đến dòng nhựa luyện được dẫn từ phần lá xuống
đây bị dồn lại khiến cho các tế bào phân chia hình thành nên mô sẹo, đây là
cơ sở hình thành rễ bất định.
Sự hình thành rễ bất định có thể được phân chia làm 3 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Các tế bào bị thương ở các vết cắt chết đi và hình thành nên
một lớp keo lấp đầy các mạch gỗ giúp hạn chế thoát hơi nước tại chỗ bị cắt.
ii
chế ở mức độ khác nhau. Những loài có khả năng ra rễ cao như Sở đến 35
tuổi vẫn có khả năng ra rễ 70-90% (Komisarov, 1964; Nguyễn Hoàng Nghĩa,
Đoàn Thị Bích, 1995). Những loài cây khó ra rễ như Mỡ(Manglietia glauca)
5 tuổi khả năng ra rễ chỉ có 14% (Lê Đình Khá, Hoàng Thanh Lộc, Phạm Văn
Tuấn, 1996). Đối với nhóm cây này muốn tỷ lệ ra rễ cao thì phải dùng cây
non và phải xử lý các chất kích thích ra rễ thích hợp(Lê Đình Khả, Dương
Mộng Hùng, 2003) [4].
Đặc điểm di truyền của từng xuất xứ từng cá thể
Do đặc điểm biến dị mà các xuất xứ và các cá thể khác nhau cũng có
những khả năng ra rễ khác nhau. Nghiên cứu cho Bạch đàn trắng Caman
10
(E.camanldulensis) 4 tháng tuổi đã thấy rằng trong lúc xuất xứ Katherine có tỉ
lệ ra rễ 95% thì xuất xứ Gilbert River có tỷ lệ ra rễ 50%.
Tuổi cây mẹ lấy cành
Khả năng ra rễ của hom giâm không nhưng do tính di truyền quy định
mà còn phụ thuộc rất lớn vào tuổi cây mẹ lấy cành. Thông thường cây chưa
sinh sản hạt dễ nhân giống bằng giâm hom hơn cây đã sinh sản bằng hạt, hom
lấy từ cây tuổi non có khả năng ra rễ cao hơn lấy từ nhưng cây tuổi già. Ở một
số loài cây khả năng ra rễ của chúng chỉ tồn tại ở những cây 1-2 tuổi. Ví dụ
như hom lấy từ cây mỡ 1 tuổi, 3 tuổi, 20 tuổi khả năng ra rễ tương ứng là
98%, 47%, 0% (Lê Đình Khả, Hoàng Thành Lộc, Phạm Văn Tuấn, 1990).
Cây non không những có tỉ lệ ra rễ cao mà thời gian ra rễ cũng ngắn hơn.
Ví dụ ở Vân san hom lấy từ cây 30 – 40 ngày tuổi phải sau 150 ngày mới ra rễ ,
trong khi hom lấy từ cây 6 – 7 tuổi thì chỉ 60 – 70 ngày đã ra rễ (Lê Đình Khả,
Dương Mộng Hùng, 2003) [4].
Vị trí cành và tuổi cành
Hom lấy từ các bộ phận khác nhau trên thân sẽ có tỉ lệ ra rễ khác nhau.
Trong các chất điều hòa sinh trưởng Auxin được coi là quan trọng nhất
trong quá trình ra rễ của cây hom. Song nhiều chất tác động cùng Auxin cũng
tồn tại một cách tự nhiên trong các mô của hom giâm và tác động đến quá
trình ra rễ của chúng, trong đó quan trọng nhất là: Rhizocalin, đồng nhân tố ra
rễ và các chất kích thích và kìm hãm ra rễ (Tewari, 1993) [13].
- Rhizocalin năm 1993 Builenne và Went đã tổng hợp được các chất
có bản chất axit, phân tử lượng thấp và chịu nhiệt từ Disastaza (ezyme biến
đổi tinh bột thành đường) không thuần khiết cũng như từ mầm lá và chồi hoa
của một số loài cây, chất đặc biệt được coi là cần thiệt cho sự hình thành rễ
của nhiều loài cây.
- Đồng nhân tố ra rễ (Rooting – factors), theo Hess (1996) cho rằng
một số chất nội sinh điều tiết phân phối hoạt tính IAA gây nên khởi động ra rễ
và gọi đồng nhân tố, một số chất này được xác định là axit Chorogenic và axit
Isochogenic.
Các chất kích thích ra rễ và kìm hãm ra rễ. Nhiều nghiên cứu đã nêu lên
sự tồn tại cảu các chất kích thích ra rễ trong các mô của các loài có khả năng
ra rễ cao. Ví dụ , serquiterpenic lactone được chiết tách từ lá cây hướng
12
dương, dicylicterpenic được chiết tách từ rau Sam đều là những chất kích
thích rã rễ cho đậu xạnh. Một số tác giả còn nêu lên sự tồn tại của một số chất
kìm hãm nhaxanthonxin, axit Abscisic (ABA) và một số chất khác được tách
chiết từ hom khó ra rễ. Các chất kích thích khó ra rễ và kìm hãm ra rễ của
hom giâm được xác định bằng nồng độ tương đối các chất này. Các loài cây
ra rễ chứa nồng độ cao các chất kích thích ra rễ lại chứa nồng độ cao các chất
kìm hãm ra rễ (Lê Đình Khả, Dương Mộng Hùng, 2003) [4].
2.2.4.2. Các nhân tố ngoại sinh
• Điều kiện sinh sống của cây mẹ lấy cành
1994). Không có ánh sáng và không có lá thì hom giâm không có hoạt động
quang hợp, quá trình trao đổi chất khó xảy ra, do đó không thể có hoạt động
ra rễ (Lê Đình Khả, Dương Mộng Hùng, 2003) [4].
Trong điều kiện nhiệt đới, ánh sáng tự nhiên mạnh thường kèm theo
nhiệt độ cao nên thường làm giảm đáng kể tỷ lệ ra rễ. Chất lượng ánh sáng
cũng ảnh hưởng đáng kể đến tỉ lệ ra rễ cảu hom giâm. Theo Kimoiasov
(1994) thì ánh sáng tự nhiên là cần thiết cho ra rễ, còng ánh sáng đỏ và ánh
sáng xanh làm giảm tỷ lệ ra rễ của hom giâm ở một số loài cây ưa sáng.
Tuy nhiên, ảnh hưởng của ánh sáng đến khả năng ra rễ của hom giâm
thường mang tính chất tổng hợp theo kiểu phức hệ ánh sáng – nhiệt - ẩm mà
không phải từng yếu tố riêng lẻ. Vì thế khi giâm hom phải chú ý tất cả các
yếu tố trên. Mặt khác ánh sáng chỉ tác động đến khả năng ra rễ của hom với
sự có mặt của lá cây, hom không có lá thì không chịu ảnh hưởng của ánh sang
và không có sự hoạt động ra rễ.
• Nhiệt độ
Nhiệt đô cũng là nhân tố ảnh hưởng đến mọi hoạt động sống của sinh vật.
Cùng với ánh sang, nhiệt đô là một trong những yếu tố quyết đinh tốc độ ra rễ
của hom giâm (Pravdin, 1938). Ở nhiệt độ quá thấp hom giâm nằm ở trạng
thái tiềm ẩn và không ra rễ, còn nhiệt độ quá cao lại tăng cường hô hấp và bị
hỏng, từ đó làm giảm tỷ lệ ra rễ. Các loài cây nhiệt đới nhiệt độ thích hợp
trong nhà giâmhom thích hợp cho ra rễ là 25 – 330C và nhiệt độ giá thể là 25
– 300C (Long man, 1993), nhiệt độ không khí trên 350C làm tỷ lệ héo của lá.
iii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 4.1. Biểu đồ biễu diễn tỷ lệ sống của hom Trà hoa vàng
hom thực vật là IAA, IBA và NAA. Tuy nhiên ở mỗi loài cây khác nhau thì
chất kích thích có tác dụng khác nhau, vì vậy để nâng cao tỷ lệ ra rễ cần phải
16
chọn các chất cho từng loài thực nghiệm (Lê Đình Khả, Dương Mộng Hùng,
2003) [4].
- Nồng độ
Cùng với loại thuốc kích thích nhưng nồng độ khác nhau có tác dụng
khác nhau. Nồng độ thuốc kích thích quá thấp sẽ không có tác dụng phân hóa
tế bào hình thành rễ, nồng độ quá cao hom sẽ bị thối giữa trước khi hình thành
rễ. Nồng độ chất kích thích còn phụ thuộc vào nhiệt độ không khí và mật độ
hóa gỗ của hom. Nếu nhiệt độ không khí cao cần phải xử lý thuốc có nồng độ
thấp hơn và ngược lại. Nếu hom chưa hóa gỗ hoặc hóa hỗ chủ yếu cần phải
xử lý nồng độ thấp hơn hom già và ngược lại.
Khi lựa chọn nồng độ chất kích thích ra rễ cần chú ý đến nhiệt độ
không khí và mức độ hóa gỗ của hom để điều chỉnh cho phù hợp.
- Thời gian xử lý
Cùng loại thuốc cùng nồng độ nhưng thời gian xử lý khác nhau sẽ cho
tỷ lệ ra rễ khác nhau.
Giữa nồng độ, thời gian, nhiệt độ không khí có mối quan hệ mật thiết
nhất định, nồng độ thấp thời gian xử lý lâu hơn và ngược lại, nhiệt độ không
khí cao xử lý nồng độ thấp và thời gian ngắn hơn và ngược lại.
- Phương pháp xử lý
Hom thường được xử lý bằng 2 phương pháp: ngâm phần gốc vào
dung dịch chất kích thích ra rễ. Chấm phần gốc của hom vào hóa chất kích
dạng bột hoặc nước từ 0,5-1cm (Mai Quang Trường, Lương Thị Anh, 2007)
[10].
Tóm lại, để giâm hom thành công thì phải thực hiện đầy đủ đồng bộ các
cây cảnh.