Nghiên cứu khả năng tăng sinh của tế bào gốc mỡ và ảnh hưởng của chúng đến tế bào da nuôi cấy định hướng trong điều trị vết thương - Pdf 35

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-------------------------

ĐOÀN HOÀNG THU

NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG TĂNG SINH CỦA TẾ BÀO
GỐC MỠ VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA CHÚNG ĐẾN TẾ
BÀO DA NUÔI CẤY ĐỊNH HƯỚNG TRONG ĐIỀU
TRỊ VẾT THƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Hà Nội – 2014


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-------------------------

ĐOÀN HOÀNG THU

NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG TĂNG SINH CỦA TẾ
BÀO GỐC MỠ VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA CHÚNG ĐẾN
TẾ BÀO DA NUÔI CẤY ĐỊNH HƯỚNG TRONG ĐIỀU
TRỊ VẾT THƯƠNG

Chuyên ngành : Sinh học thực nghiệm
Mã số

: 60420114

Đoàn Hoàng Thu


MỤC LỤC


DANH MỤC BẢNG
Bảng 1. Khả năng tạo dòng của tế bào mới tách ra từ mô mỡ (n=5) Error: Reference
source not found
Bảng 2. Khả năng tạo CFU-F theo các thế hệ tế bào (n=5). .Error: Reference source
not found
Bảng 3. Ảnh hưởng của tế bào gốc đến tăng sinh nguyên bào sợi....Error: Reference
source not found
Bảng 4. Thời điểm nguyên bào sợi gia tăng số lượng khi có tấm tế bào gốc............Error:
Reference source not found
Bảng 5. Tỷ lệ sống của nguyên bào sợi sau khi trypsin....Error: Reference source not
found
Bảng 6. Ảnh hưởng của tấm tế bào gốc đến tăng sinh tế bào sừng...Error: Reference
source not found
Bảng 7. Ảnh hưởng của tấm tế bào gốc tới di cư tế bào sừng Error: Reference source
not found


DANH MỤC HÌNH
Hình 1. Sơ đồ sự tăng sinh của nguyên bào sợi trong các giai đoạn khác nhau của
quá trình liền vết thương.........................................Error: Reference source not found
Hình 2. Mô phỏng thí nghiệm đánh giá ảnh hưởng của tế bào gốc mô mỡ bằng
phương pháp đồng nuôi cấy...................................Error: Reference source not found
Hình 3. Tạo vết thương in vitro..............................Error: Reference source not found
Hình 4. Tách mô mỡ bằng enzym collagenase.......Error: Reference source not found

Hình 19. So sánh hình thái tế bào gốc mô
mỡ…………………………….Error: Reference source not found
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

AB

Antibiotic/Antimycotic - Kháng sinh

ADSCs

Adipose-Derived Stem Cells - Tế bào gốc mỡ

DMEM

Dubeco’s Modified Eagle Medium

EGF

Epidermal Growth Factor - Yếu tố tăng trưởng biểu bì

FBS

Fetal Bovine Serum - Huyết thanh bào thai bê

FGF

Fibroblasts Growth Factor - Yếu tố tăng trưởng nguyên bào sợi

HGF


TB

Tế bào

TGF

Transforming Growth Factor

VEGF

Vessle Endothelial Growth Factor



ĐẶT VẤN ĐỀ
Tế bào gốc là một trong những lĩnh vực sinh học lôi cuốn nhất hiện nay.
Từ lâu, cấy ghép tế bào gốc đã được y học thế giới lựa chọn như là liệu pháp hữu
hiệu để chữa khỏi một số căn bệnh mạn tính, hiểm nghèo liên quan đến máu, tủy,
xương khớp…Trên thế giới, có một số nguồn tế bào gốc được đưa vào ứng dụng
như tế bào gốc tủy xương và tế bào gốc máu cuống rốn, các tế bào gốc từ 2
nguồn này chủ yếu là tế bào gốc tạo máu nên được ứng dụng trong nghiên cứu
và điều trị các bệnh về máu, còn các bệnh cần có sự tái tạo thuộc hệ thống trung
mô thì ít được ứng dụng. Trong khi đó, các bệnh của trung mô lại rất thường gặp
như các vết thương, vết loét, bệnh lý hệ mạch, não, tim…Một nguồn TB gốc
khác đang được kỳ vọng nhiều chính là tế bào gốc phôi, mặc dù có tiềm năng lớn
nhưng việc nghiên cứu và sử dụng còn rất khó khăn về công nghệ và đặc biệt là
bị cản trở bởi vấn đề y đức (sử dụng tế bào gốc phôi đồng nghĩa với việc hủy đi
một phôi vốn có thể trở thành một con người). Gần đây, nhiều nghiên cứu tập
trung khai thác các tế bào gốc từ phần phụ của thai như bánh rau, dây rốn. Thành
công về công nghệ đã có thể tách và nhân lên các tế bào gốc nhưng chỉ có những

Tại Việt Nam hàng năm ước tính khoảng 791.000 người gặp tai nạn về
bỏng [8]. Tuy chưa có con số thống kê cụ thể nhưng chỉ tính riêng tại Viện Bỏng
Quốc Gia, hàng năm có khoảng 5000 bệnh nhân bỏng điều trị thì nhu cầu về
ghép da cũng đã chiếm khoảng 2500 bệnh nhân
Xuất phát từ những cơ sở khoa học và tiềm năng ứng dụng của tế bào gốc
mỡ, chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Nghiên cứu khả năng tăng sinh của tế
bào gốc mỡ và ảnh hưởng của chúng đến tế bào da nuôi cấy định hướng
trong điều trị vết thương” nhằm mục tiêu sau:
1. Đánh giá đặc điểm phân lập và sự tăng sinh của tế bào gốc mỡ trong điều
kiện nuôi cấy invitro
2. Đánh giá ảnh hưởng của tế bào gốc mỡ đến tế bào da nuôi cấy


Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Các tế bào chủ yếu tham gia liền vết thương
Diễn biến liền vết thương nói chung đều trải qua các giai đoạn đông máu,
viêm, tăng sinh, tái lập mô và liền sẹo [3]. Tuy quá trình liền vết thương có nhiều
cơ chế phức tạp nhưng kết quả cuối cùng là tái lập lại các mô tế bào đã bị tổn
thương. Để duy trì chức năng bảo vệ cơ thể, con người cần có da. Thành phần tế
bào da người chủ yếu bao gồm 2 loại là nguyên bào sợi (Fibroblasts) và tế bào
sừng (Keratinocytes). Nguyên bào sợi là tế bào tạo ra lớp trung bì còn tế bào
sừng tạo ra lớp biểu bì. Hai loại tế bào này có những chức năng khác nhau nhưng
lại tương tác, kết hợp với nhau để tạo ra cấu trúc da hoàn chỉnh. Hai loại tế bào
này cũng là những tế bào chủ yếu làm lành các tổn thương da. Khi da bị tổn
thương, nguyên bào sợi là tế bào tổng hợp nên đệm gian bào, tiết các yếu tố tăng
trưởng tạo điều kiện để tế bào sừng từ bờ mép vết thương tăng sinh che phủ bề
mặt làm lành vết thương.
Nguyên bào sợi (Fibroblasts) là tế bào quan trọng nhất trong giai đoạn
tăng sinh, chúng tạo ra các thành phần đệm gian bào làm nền cho quá trình biểu

bào mầm biểu bì còn lại là các tế bào đang ở các giai đoạn gián phân. Bình
thường sự phân chia tế bào sừng lớp mầm cân bằng với sự sừng hoá bong vảy
của biểu bì nhưng khi da bị tổn thương thì chúng tăng cường phân chia để tạo ra
nhiều tế bào biểu mô. Các tế bào biểu mô sẽ di cư vào trung tâm của vết thương
ở dạng đơn lớp cho đến khi các tế bào tiếp xúc trực tiếp với nhau thì tốc độ phân
chia chậm lại và biệt hoá thành các lớp gai, lớp hạt, lớp sừng ở phía trên để thực
hiện chức năng bảo vệ của biểu bì. Trong quá trình di cư chúng cần đệm gian
bào đủ chất lượng như trung bì, chúng cần có các sợi decorin, laminin…để bám
vào và trượt dọc theo các sợi đó để di chuyển vào trung tâm vết thương. Trong
trường hợp các vết thương mạn tính, cấu trúc đệm gian bào bị tổn thương không


hồi phục, vết thương trở nên xơ sợi, các nguyên bào sợi nghèo nàn hoặc không
thể thực hiện đầy đủ chức năng nên các tế bào biểu mô không thể phân chia hay
di cư vào vết thương. Chính các mối tương tác chặt chẽ giữa hai loại tế bào trên
mà trong điều trị cần chú ý tới các điều kiện để cả hai cùng tăng sinh, cùng biệt
hoá, cùng thực hiện chức năng liền vết thương thì vết thương mới nhanh liền.

Hình 1. Sơ đồ sự tăng sinh của nguyên bào sợi trong các giai đoạn khác nhau
của quá trình liền vết thương
(Nguồn: Werner S et al (2003), Physiol. Re;83:835-870), [79].
A. 12-24 giờ sau bị thương, nguyên bào sợi quanh tổn thương được kích
hoạt.

B. Từ 3-7 ngày sau bị thương, nguyên bào sợi di cư vào vùng tổn thương,
tăng sinh và tổng hợp đệm gian bào.
C. Từ 1-2 tuần sau bị thương, mô hạt hình thành, nguyên bào sợi chuyển
dạng thành myofibroblast gây co hẹp vết thương và tiết collagen.




tạo sẹo dẫn đến di chứng về chức năng hay thẩm mỹ [55]. Mảnh ghép hoàn hảo
nên phải sẵn có, không gây đáp ứng miễn dịch, che phủ và bảo vệ nền vết
thương, làm tăng nhanh liền vết thương, ít gây đau và ít tạo sẹo.
Trong trường hợp tổn thương diện tích rộng các tế bào có chức năng liền
vết thương của bệnh nhân không đủ khả năng làm lành tổn thương mà cần phải
ghép da tự thân nhưng nguồn da tự thân cũng không phải vô hạn nên ghép da tự
thân cũng chỉ cứu được những bệnh nhân bỏng sâu 50% diện tích cơ thể là chủ yếu.

Trong lĩnh vực điều trị bỏng và chấn thương lớn, mặc dù đã có nhiều tiến
bộ trong cứu chữa như cắt hoại tử - ghép da ngay, tăng độ giãn rộng của da ghép
[14], sử dụng da đồng loại hay các vật liệu thay thế da khác nhau [9], [10], [11],
[12] nhưng các rối loạn về protein, thay đổi hệ thống miễn dịch... làm cho vết
thương trở nên chậm lành hay rất khó lành [2], [7].
Ngoài ra chúng ta còn gặp các loại vết thương mạn tính rất khó lành như
các vết loét do tiểu đường, loét do viêm tắc tĩnh mạch, loét điểm tỳ, loét xạ trị…
mà không thể can thiệp bằng phẫu thuật ghép da nguy cơ thất bại rất cao do khả
năng tiếp nhận mảnh ghép của vết thương rất kém và tình trạng bệnh nhân không
cho phép phẫu thuật. Số lượng bệnh nhân này ngày càng tăng cao cùng sự phát
triển kinh tế - xã hội và tuổi thọ con người [10], [26]. Các vết thương này bị gián
đoạn giai đoạn tăng sinh hoặc tế bào tham gia liền vết thương bị chuyển dạng
[7], [9], [13], [23], [38]. Để khắc phục hạn chế này nhằm thay thế các tế bào đã
tổn thương, công nghệ nuôi cấy tế bào da phát triển.
Từ những năm trước, một số nhà nghiên cứu cho rằng điều trị vết thương
vết bỏng trong tương lai sẽ trở nên đơn giản, nhanh chóng và dễ dàng che phủ
tổn thương sau cắt hoại tử. Nhưng thực tế, điều đó còn rất xa vời. Khái niệm này
đã dẫn đến một số quan niệm sai trầm trọng dẫn đến việc đưa ra những hứa hẹn
quá sớm về công nghệ mô da mà chậm được nhận ra trên thực tế lâm sàng. Khái
niệm sai này là coi da như một mô giống như xương sụn và sẽ liên quan đơn
giản tới nơi có thay đổi về công nghệ mô. Dù da không phải là một mô nhưng là


1.2.2. Một số loại tế bào và vật liệu điều trị vết thương từ nuôi cấy tế bào
Trị liệu tế bào nói chung đã mang lại một số kết quả đáng kể trong lâm
sàng, một số tế bào được nuôi cấy và ứng dụng phổ biến là:
Tế bào sừng (Keratinocyte) Trong vài thập niên trở lại đây, cấy ghép tế
bào sừng tự thân nuôi cấy đã được triển khai tại các trung tâm điều trị bỏng lớn ở
Anh, Mỹ, Nhật... Việc cấy ghép tế bào sừng lên vết thương góp phần giải quyết
sự thiếu hụt nguồn da lành. Thành công do ghép tế bào sừng nuôi cấy còn nhiều
hạn chế, do khi đặt tế bào sừng nuôi cấy lên vết thương bỏng sâu, nền vết thương
thiếu các yếu tố trung bì do chưa hoặc hình thành chậm màng đáy. Để khắc phục
điều đó, người ta đã sử dụng cấy ghép kết hợp fibroblasts và tế bào sừng [40].
Ứng dụng tế bào sừng nuôi cấy, người ta đã chế tạo ra các tấm vật liệu thay thế
biểu bì. Để sản xuất vật liệu thay thế biểu bì, một mẩu da sinh thiết khoảng 25cm2 cần phải được lấy từ bệnh nhân. Công việc này có thể phải kết hợp với lần
phẫu thuật cắt hoại tử của bệnh nhân bỏng. Rồi sau đó, biểu bì được tách khỏi
lớp trung bì và các tế bào sừng đơn lẻ được phân lập nhờ enzyme và nuôi cấy
cùng với nguyên bào sợi chuột đã bất hoạt khả năng phân chia. Môi trường nuôi
cấy tăng sinh được sử dụng có chứa FBS và các chất cần thiết khác; tuy nhiên,
cũng có thể làm tăng sinh các tế bào này trong điều kiện không có tế bào dị loại.
Hiện nay, đã có các vật liệu thay thế biểu bì tự thân được thương mại hóa cho sử
dụng trên lâm sàng như: Epicel, EpiDex, EpiBase, MySkin, Laserskin, Bioseed-S.
Đã có một số nghiên cứu thử nghiệm ghép tế bào biểu bì đồng loại như
Celaderm [17], [42]; tuy nhiên, hiệu quả và tính an toàn của các sản phẩm này
phải được khẳng định bằng nghiên cứu lâm sàng có đối chứng. Các sản phẩm
đồng loại có lợi ích là giảm chi phí sản xuất so với chi phí sản xuất sản phẩm tự
thân. Hơn bao giờ hết, sự thiếu sót của cả hai sản phẩm là chúng khó bám và do
đó dễ dẫn đến việc tạo thành nốt phồng [80].
Nguyên bào sợi (Fibroblasts) là tế bào có nguồn gốc trung mô, chúng sản
sinh ra collagen có vai trò quan trọng trong quá trình sửa chữa vết thương, phục



trải qua quá trình tự hủy bình thường sau vài tuần ghép.
Purdue (1997) sử dụng tấm fibroblasts nuôi cấy là Dermagraft và so sánh
với ghép da tử thi cho 66 bệnh nhân bỏng sâu được cắt hoại tử. Tác giả nhận
thấy, tấm fibroblasts nuôi cấy có kết quả tốt tương đương với da tử thi trong việc
hình thành mô hạt, kết quả về da ghép tự thân là tương đương, nhưng tấm
fibroblasts dễ bóc khỏi mô hạt để ghép da tự thân nên không gây chảy máu như
da tử thi. Tiếp tục theo dõi di chứng bỏng, tác giả nhận thấy vùng ghép
fibroblasts có kết quả rất tốt về thẩm mỹ [61]. Hansbrough (1997) đã đánh giá
khả năng của Dermagraft che phủ vết bỏng sau cắt hoại tử trên 10 vết thương có
so sánh với da tử thi. Tác giả nhận thấy, khả năng bám dính, khả năng sống của
Dermagraft là tương đương da tử thi, kết quả da ghép sống tương đương vùng
ghép da tử thi. Không thấy có biểu hiện thải loại miễn dịch trong khi 4/10 vùng
ghép da tử thi có biểu hiện thải loại lớp thượng bì [33].
1.3. Vai trò tế bào gốc trong liền vết thương
Mặc dù có nhiều tiến bộ đáng kể trong y tế và chăm sóc vết thương bằng các
can thiệp ngoại khoa, việc điều trị các tổn khuyết da diện rộng và vết thương mạn
tính vẫn còn là thách thức lớn với y học hiện nay. Trong liền vết thương, tế bào
gốc trung mô được xác định là chúng biệt hóa thành các dạng tế bào da khác
nhau [65]. Đã và đang có rất nhiều người quan tâm cả về khoa học nghiên cứu và
lĩnh vực lâm sàng điều trị vết thương về tiềm năng và vai trò của các trị liệu tế
bào dựa trên MSC trong việc kích thích tăng nhanh quá trình sửa chữa và tái tạo
mô vết thương. Các nghiên cứu với MSC tủy xương đã cho thấy việc điều trị vết
thương bằng tế bào MSC tủy xương đều làm tăng nhanh quá trình liền vết
thương, tăng quá trình biểu mô hóa và tăng tạo mạch [26], [82]. Người ta thấy.
MSC làm tăng nhanh liền vết thương ở cả vết thương cấp tính ở chuột có tăng và
không gây tăng đường máu và cả ở vết thương cấp tính trên người [26].


Các nghiên cứu gần đây gợi ý rằng, MSC có khả năng tiết ra nhiều
cytokin và các chất hóa ứng động khác nhau vốn có vai trò quan trọng cho hoạt

thông tin ngược một cách thông minh có thể tự điều chỉnh hệ thống sinh học.
Tủy xương, máu ngoại vi, máu cuống rốn đều đã được nghiên cứu sử dụng trong
điều trị vết thương mạn tính để thúc đẩy các đáp ứng liền vết thương [75].
Tế bào gốc là những tế bào chưa có chức năng chuyên biệt, chúng có tiềm
năng phát triển thành nhiều loại tế bào khác nhau và có khả năng tự thay mới.
Đây là các tế bào còn chưa hay rất ít biệt hoá nên chúng có khả năng biệt hoá
theo nhiều hướng và tạo ra nhiều loại tế bào khác nhau. Ngoài ra, chúng cũng có
khả năng tự sinh ra các tế bào giống hệt nó. Thông thường các tế bào phân chia
theo phương thức nhân đôi đối xứng tạo ra hai tế bào giống hệt nhau về mức độ
biệt hoá. Tế bào gốc không chỉ có khả năng phân chia đối xứng mà còn có khả
năng phân chia không đối xứng thành hai tế bào khác nhau, trong đó một tế bào
giữ nguyên mức độ biệt hoá cũng như giữ nguyên vai trò là tế bào gốc và một tế
bào thứ hai đã biệt hoá hơn, chúng sẽ tiếp tục biệt hoá thành các tế bào tiền thân
để sau đó phát triển thành tế bào chuyên biệt tham gia vào cấu trúc và chức năng
của mô, cơ quan. Nhờ đó mà số lượng tế bào gốc được duy trì hoặc tăng lên chứ
không mất đi do quá trình biệt hoá tế bào.
Những nghiên cứu về tế bào gốc đã chứng minh, hàng ngày cơ thể chúng
ta thay thế những tế bào già chết là do nguồn tế bào gốc biệt hoá thành những tế
bào chức năng. Khi bị thương các tế bào gốc từ các ổ (niche) có thể ở gần vết
thương hoặc từ các mô khác nhau như tuỷ xương… sẽ di cư đến và biệt hoá
thành các tế bào chuyên biệt có chức năng liền vết thương. Khi nguồn tế bào gốc
này không đủ đáp ứng với những tổn thương tế bào do tổn thương diện tích rộng,
do cơ thể bị suy yếu… thì hậu quả là gây ra những vết thương vết loét lâu lành,
thậm chí không liền được. Do đó công nghệ tế bào gốc đang mang lại những hy
vọng lớn trong việc khắc phục những nan giải hiện nay trong liền vết thương.
Những tế bào gốc phôi có tiềm năng lớn thay thế toàn bộ các tế bào chức


năng của cơ thể. Nhưng việc sử dụng tế bào gốc phôi vào lĩnh vực liền vết thương
hay bất cứ lĩnh vực nào khác đang gặp phải những vấn đề về đạo đức, cần có

hạn chế về số lượng tế bào trung mô. Do đó tế bào gốc trung mô từ mô mỡ được
coi là nguồn tế bào gốc trưởng thành tự thân lý tưởng cho các nghiên cứu về y
học tái tạo, công nghệ mô và liền vết thương.
1.4. Tế bào gốc trung mô từ mô mỡ
Tế bào gốc mô mỡ được xác định là tế bào gốc trung mô. Tế bào gốc trung
mô lần đầu tiên được mô tả là dạng tế bào từ tủy xương có khả năng tạo dòng,
bám dính bề mặt nuôi cấy [31] mà có khả năng biệt hóa thành tế bào mỡ, tế bào
sụn và tế bào xương [56]. Sau đó , chúng được xác định là có mặt ở rất nhiều mô
cơ quan khác nhau như cơ, não, và mô mỡ [52]. Ngày nay, tế bào gốc trung mô
từ tủy xương và mô mỡ được xác định là rất giống nhau về quần thể tế bào và
kiểu hình tế bào [52].
Tế bào gốc đa tiềm năng đã được phát hiện trong mô mỡ của người và được
gọi là tế bào gốc mô mỡ. Nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy việc sử dụng tế bào
gốc mô mỡ có thể điều trị một số bệnh về khớp, mà liệu pháp điều trị khác
không thành công. Mô mỡ còn được sử dụng để tạo hình một số bộ phận trong
cơ thể như ngực, má, cằm. Đây được coi như là cuộc cách mạng trong lĩnh vực
tạo hình thẩm mỹ. Tế bào gốc mô mỡ thể hiện các đặc điểm của tế bào gốc trung
mô như hình thái dạng nguyên bào sợi, là tế bào bám bề mặt nuôi cấy, có các
dấu ấn biệt hóa của tế bào trung mô, có khả năng biệt hóa thành tế bào mỡ, tế
bào sụn, tế bào cơ…Do mô mỡ là loại mô sẵn có với số lượng lớn và dễ dàng thu
hồi mà ít gây những bất lợi cho bệnh nhân nên tế bào gốc mô mỡ có thể sẽ là
nguồn tế bào đầy hứa hẹn cho y học tái tạo trong tương lai đặc biệt các trường
hợp sử dụng ghép tự thân. Các nhà nghiên cứu đề xuất nhiều cách thức phân lập
tế bào gốc mô mỡ khác nhau, có tác giả phân lập theo cách kinh điển là nuôi mô
mỡ trong đĩa nhựa có môi trường dinh dưỡng và chờ cho tế bào tự mọc từ các
mẩu mô ra và thu các tế bào có hình sao hoặc hình thoi là tế bào gốc trung mô.


Có tác giả lại dùng collagenase để phá hủy cấu trúc mô sau đó ly tâm lọc lấy các
tế bào. Môi trường nuôi cấy cũng được công bố theo nhiều công thức khác nhau,

Trong công nghệ sinh học da, mục đích cuối cùng trong nghiên cứu và
điều trị là để nhanh chóng tạo ra một cấu trúc hoàn hảo phục hồi hoàn toàn chức
năng da.
Trong số bệnh nhân bỏng, có nhiều bệnh nhân bỏng nặng không đủ nguồn
da thay thế đã dẫn đến suy mòn, suy kiệt và tử vong. Viện Bỏng Quốc Gia trong
5 năm đã nghiên cứu trị liệu tế bào trong điều trị vết thương vết bỏng, các tấm tế
bào da nuôi cấy đã được chế tạo và sử dụng trong điều trị đạt nhiều kết quả tốt
góp phần cứu sống những bệnh nhân bỏng sâu diện rộng hoặc tổn thương khuyết
da rộng hoặc những bệnh nhân vết thương mạn tính lâu liền.
Viện Bỏng Quốc Gia hiện nay đã nuôi cấy thành công nguyên bào sợi và tế
bào sừng để điều trị vết thương và vết bỏng. Tuy nhiên, việc nuôi cấy tế bào da
tự thân không đáp ứng kịp nhu cầu lâm sàng do quy trình cần thời gian dài, việc
nuôi cấy các tế bào da đồng loại đáp ứng kịp thời về mặt thời gian nhưng gặp
phải vấn đề thải ghép. Mô mỡ tự thân dễ dàng lấy hơn, nhất là vùng bụng rất
thích hợp để nuôi cấy tế bào gốc mỡ [41].
Xuất phát từ các cơ sở khoa học và thực tiễn về tiềm năng ứng dụng của tế
bào gốc trung mô từ mô mỡ, cần thiết phải nghiên cứu thiết lập quy trình chuẩn
và có hiệu quả tách tế bào cao nhất, các tế bào cần được tinh lọc và thể hiện tính
gốc như khi chúng tồn tại trong cơ thể người. Việc đánh giá tác động của nguồn
tế bào gốc sau khi tách tới sự tăng sinh và di cư của cả 2 loại tế bào da gồm
nguyên bào sợi và tế bào sừng là cơ sở tiếp tục cho việc định hướng và chế tạo
chế phẩm điều trị vết thương trong tương lai.
Tế bào gốc mô mỡ là quần thể tế bào vạn năng, chúng có thể biệt hóa thành
nhiều dòng tế bào khác nhau như tế bào xương, tế bào tiết insulin, tế bào sụn
[45], [84], [85]. Tác giả Xu W (9-2014) đã biệt hóa tế bào gốc trung mô từ mô
mỡ thành tế bào dạng nguyên bào sợi để điều trị vết thương ở thanh quản [36].



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status