ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
**********
HOÀNG THỊ HÀ
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM ĐỊA HÓA PHÓNG XẠ
CÁC NGUYÊN TỐ U, Th VÀ K KHU VỰC XÃ ĐÔNG CỬU,
HUYỆN THANH SƠN, TỈNH PHÚ THỌ
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC
Hà Nội - 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
**********
HOÀNG THỊ HÀ
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM ĐỊA HÓA PHÓNG XẠ
CÁC NGUYÊN TỐ U, Th VÀ K KHU VỰC XÃ ĐÔNG CỬU,
HUYỆN THANH SƠN, TỈNH PHÚ THỌ
Chuyên ngành: Khoáng vật học và Địa hóa học
Mã ngành: 60440205
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN
Hoàng Thị Hà
3
Trường ĐHKHTN – ĐHQGHN
Luận văn thạc sĩ
MỤC LỤC
Hoàng Thị Hà
4
Trường ĐHKHTN – ĐHQGHN
Luận văn thạc sĩ
DANH MỤC HÌNH
Hoàng Thị Hà
5
Trường ĐHKHTN – ĐHQGHN
quá trình phong hóa và bóc mòn. Mặt khác, tại khu vực nghiên cứu, các suối và
mạch nước ngầm đều đi qua các thân quặng pegmatit, đó là điều kiện thuận lợi để
xói mòn, hòa tan, vận chuyển và phát tán các chất phóng xạ ra môi trường xung
quanh.
Trên cơ sở đó, luận văn “Nghiên cứu đặc điểm địa hóa phóng xạ các
nguyên tố U, Th và K khu vực xã Đông Cửu, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ”
được thực hiện với mục tiêu và nhiệm vụ sau:
Mục tiêu:
- Nghiên cứu đặc điểm địa hóa phóng xạ tự nhiên các nguyên tố U, Th, K;
- Đánh giá ảnh hưởng của hàm lượng các nguyên tố U, Th, K đến môi trường
xung quanh.
Hoàng Thị Hà
7
Trường ĐHKHTN – ĐHQGHN
Luận văn thạc sĩ
Nhiệm vụ:
- Thu thập các tài liệu địa hóa các nguyên tố phóng xạ; các yếu tố ảnh hưởng
đến môi trường phóng xạ; các nghiên cứu đã có từ trước về môi trường phóng xạ tại
các khu vực;
- Nghiên cứu đặc điểm địa hóa phóng xạ các nguyên tố U, Th, K;
- Luận giải mối liên quan giữa giá trị các tham số phóng xạ (U, Th, K) đo
được tại khu vực nghiên cứu và từ kết quả phân tích mẫu với sự tồn tại của các thân
quặng pegmatit và thành tạo địa chất tại khu vực nghiên cứu;
- Đánh giá ảnh hưởng của hàm lượng U, Th, K tới môi trường xung quanh.
Nguồn phóng xạ tự nhiên có khoảng 20 nguồn gồm U 235, U238, U244, Th232,
Ra226, K40, Rb87, La138, Sm147, Lu176, Re137,… Tuy nhiên có 6 nguồn cơ bản có nhân là
U235, U238, U244, Th232, Ra226, K40, trong sáu nguồn cơ bản này có 3 nguồn chủ đạo
gồm U235, U238, Th232.
Hoàng Thị Hà
9
Trường ĐHKHTN – ĐHQGHN
Luận văn thạc sĩ
Hình . Sơ đồ dãy phân rã phóng xạ tự nhiên
Năm 1896, nhà bác học người Pháp Becquerel phát hiện ra chất phóng xạ tự
nhiên, đó là urani và con cháu của nó. Đến nay người ta biết các chất phóng xạ trên
trái đất gồm các nguyên tố urani, thori và con cháu của chúng, cùng một số nguyên
tố phóng xạ khác. Urani, thori và con cháu của chúng tạo nên 3 họ phóng xạ cơ bản
là họ thori (Th232), urani (U238) và actini (U235). Tất cả đều là đồng vị phóng xạ trừ
Pb206 của dãy phóng xạ U 238; Pb207 của dãy phóng xạ U235; Pb208 của dãy phóng xạ
Th232.
Urani gồm 3 đồng vị khác nhau, đồng vị phóng xạ U 238 và U234 thuộc cùng
một họ, gọi là họ urani, còn U 235 là thành viên đầu tiên của một họ khác, gọi là
actini. Th232 là thành viên đầu tiên của họ thori. Họ phóng xạ thứ tư là họ phóng xạ
nhân tạo, được gọi là họ neptuni (Th 228). Ba họ phóng xạ tự nhiên có đặc điểm
chung là thành viên thứ nhất, là đồng vị phóng xạ sống lâu với thời gian bán rã
được đo theo các đơn vị địa chất. Điều này được minh họa bằng họ phóng xạ nhân
tạo Neptunium, trong đó thành viên thứ nhất là nguyên tố siêu urani Pu 241, được sinh
ra khi chiếu Pu239 trong trường neutron. Thời gian bán rã của Pu341 là 13 năm.
trẻ thì hàm lượng các nguyên tố phóng xạ càng cao. Trong các đá trầm tích, hàm
lượng các nguyên tố phóng xạ rất không đồng đều, thông thường đá phiến sét có
hàm lượng cao nhất. Hàm lượng U, Th trong đá cacbonat rất thấp. Hàm lượng các
nguyên tố phóng xạ của muối mỏ và thạch cao là nhỏ nhất. Hàm lượng các nguyên
tố phóng xạ của các đá biến chất và vật chất ban đầu của chúng có quan hệ mật
thiết, song quá trình biến chất cũng có thể làm tăng hoặc giảm vật chất phóng xạ
(Lê Khánh Phồn, 2004).
Hàm lượng các nguyên tố phóng xạ trong các đá nguồn gốc trầm tích rất thay
đổi và không có mối liên hệ mật thiết với hoạt độ phóng xạ của các đá nguyên sinh,
bởi vì khi phá hủy và chuyển dời vật liệu các magma vào các bể lắng đọng, urani
được mang đi trong trạng thái bị hòa tan và sự di chuyển và tích lũy của nó có thể
không theo con đường di chuyển của vật liệu bị vỡ vụn. Ngoài ra trong các thời kỳ
địa chất tiếp sau, các quá trình di chuyển sẽ dẫn đến sự làm giàu hoặc làm nghèo
urani của các đá trầm tích. Đối với các loại đá trầm tích, trong các đá của cùng một
loại, hàm lượng urani sẽ lớn hơn trong các biến thể có kích thước nhỏ của các hạt
(đối với các đá mảnh vụn), trong các biến thể có hàm lượng cao của vật chất hữu cơ
chủ yếu là bitum, trong các biến thể có hàm lượng cao của phốt pho. Bởi vì urani
trong các đá trầm tích thể hiện dưới dạng được hòa tan, còn thori tạo ra các hợp chất
khó hòa tan nên trầm đọng dưới dạng các mảnh khoáng vật. Tỷ số thori/urani trong
các đá trầm tích nhỏ hơn so với trong các đá biến chất. Đặc biệt trong các trường
hợp có sự tham gia của các sản phẩm magma vào các quá trình biến chất thì hàm
lượng urani có thể cao hơn so với trong các đá trầm tích, nhưng luôn thấp hơn trong
các đá magma.
Urani trong các đá có thể tồn tại dưới các dạng khác nhau: dưới dạng các
khoáng vật urani, trong các tạp chất đồng hình được gọi là “các khoáng vật chứa
urani”, trong số đó có các khoáng vật phụ của các đá magma, cũng như trong trạng
thái phân tán. Khi độ pH thấp, ví dụ pH = -4 (môi trường axit), urani dễ bị hòa tan
di chuyển trong các đá tới chỗ tiếp xúc với các chất khử (H 2S, các vật chất có nguồn
gốc hữu cơ, chủ yếu là bitum, phốt pho, sắt) làm giảm thế oxy hóa – khử tới Eh =
0,1 von. Tại các hàng rào địa hóa được thành tạo dọc theo đường vận chuyển của
bố dưới dạng tài liệu cấp quốc gia các thông tin: mức chiếu xạ tự nhiên có khả năng
gây hại cho con người cần tiến hành đo vẽ, lập các bản đồ mức chiếu xạ tự nhiên,
trên đó khoanh các diện tích có mức chiếu xạ có hại cho con người.
Ngay từ những năm 80 của thế kỷ trước, các nước như Thụy Điển, Phần Lan,
Nga, Mỹ, Cộng hòa Séc.v.v... đã nghiên cứu và công bố các tiêu chuẩn về các mức
chiếu xạ tự nhiên và an toàn cho con người. Cũng trong thời gian này, Thụy Điển đã
đo mức chiếu xạ tự nhiên tương đương tỷ lệ 1:50.000 trên hàng trăm diện tích. Các
bản đồ đó là cơ sở để cho phép xây dựng các khu dân cư, công nghiệp. Một số
nghiên cứu có thể kể đến như “IAEA- TECDOC-5,6, The use gamma ray data to
difine the natural radiation environment, Vienna 1990”, “IAEA -TECDOC - 827
(1995), Application of uranium exploaration data and techniques in enviromental
studies”, “UNESCO, 1995, A global geochemical database for environmental and
Hoàng Thị Hà
12
Trường ĐHKHTN – ĐHQGHN
Luận văn thạc sĩ
resource management”, “Central laboratory
Warszawa, Radiation atlas of Poland 2005”...
for
radiological
protection,
tự nhiên có khả năng gây hại cho con người”, Nguyễn Văn Nam (2010 – 2011), đã
thiết lập và làm sáng tỏ vai trò đóng góp liều chiếu xạ của các thành phần môi
Hoàng Thị Hà
13
Trường ĐHKHTN – ĐHQGHN
Luận văn thạc sĩ
trường phóng xạ và đánh giá mức liều chiếu xạ tự nhiên ở Việt Nam. Đề tài đã đưa
ra tổng quan về các thành phần phóng xạ trong vỏ trái đất và nêu rõ: “Sự chiếu xạ
vào cơ thể con người từ nguồn chiếu ngoài, chủ yếu bởi các bức xạ gamma từ các
nhân phóng xạ thuộc dãy phóng xạ 238U, 232Th và 40K”. Điều đó có thể cho thấy, hàm
lượng các đồng vị nguyên tố 238U, 232Th và 40K đóng vai trò rất quan trọng trong việc
nghiên cứu môi trường phóng xạ. Theo kết quả điều tra, đánh giá địa chất, khảo sát
môi trường, các nguồn chiếu xạ tự nhiên có nguy cơ gây liều cao trên lãnh thổ nước
ta cũng chính là các đối tượng địa chất có chứa hàm lượng cao của các chất phóng
xạ thuộc dãy uranium và thorium, các đối tượng này liên quan chặt chẽ với các mỏ
phóng xạ, mỏ đi kèm các chất phóng xạ. Trên cơ sở đánh giá đặc điểm các trường
bức xạ tự nhiên trong các mỏ phóng xạ, mỏ chứa phóng xạ đề tài cũng chỉ ra đây là
nhóm mỏ có nguy cơ gây chiếu xạ tự nhiên có khả năng gây hại cho con người. Các
thân pegmatit trong khu vực nghiên cứu tại luận văn này thuộc nhóm mỏ chứa
phóng xạ với bản chất dị thường chủ yếu là thori có ảnh hưởng lớn tới môi trường
phóng xạ tại khu vực này.
Hiện nay các công trình nghiên cứu, điều tra về hiện trạng môi trường phóng
xạ chủ yếu được thực hiện tại các khu vực có mỏ phóng xạ và mỏ có chứa phóng xạ
để đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường phóng xạ và khoanh định các khu vực
hiện đo phóng xạ mặt đất hàng trăm diện tích ở các tỷ lệ khác nhau; điều tra môi
trường phóng xạ 51 đô thị lớn. Đặc biệt bản đồ phóng xạ tự nhiên Việt Nam (2006)
và bản đồ phông bức xạ tự nhiên Việt Nam tỷ lệ 1:1.000.000 (2011) đã được thành
lập.
Các đề tài khoa học công nghệ, các đề án điều tra, nghiên cứu môi trường đã
được tiến hành đã thiết lập và làm sáng tỏ vai trò đóng góp liều chiếu xạ của các
thành phần môi trường phóng xạ và đưa ra phương pháp đánh giá từng thành phần
liều cụ thể, làm cơ sở chung để đánh giá mức liều chiếu xạ tự nhiên ở Việt Nam từ
đó khoanh định các khu vực không an toàn phóng xạ, nghiên cứu, đánh giá hiện
trạng và mức độ ô nhiễm phóng xạ tại các khu vực này, đưa ra các cảnh báo và đề
xuất các biện pháp khắc phục để bảo vệ sức khoẻ cho cộng đồng dân cư và phục vụ
công tác quy hoạch, phát triển kinh tế xã hội.
Đối với khu vực nghiên cứu, hiện nay mới có một số đề tài nghiên cứu về
môi trường phóng xạ tại đây như: “Điều tra hiện trạng môi trường phóng xạ trên các
mỏ Đông Pao, Thèn Sin - Tam Đường tỉnh Lai Châu, Mường Hum tỉnh Lào Cai,
Yên Phú tỉnh Yên Bái, Thanh Sơn tỉnh Phú Thọ, An Điềm, Ngọc Kinh - Sườn Giữa
tỉnh Quảng Nam” (Trần Bình Trọng, 2006); “Điều tra chi tiết hiện trạng môi trường
phóng xạ bản Dấu Cỏ, Xã Đông Cửu, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ tỷ lệ 1:1.000,
phục vụ quy hoạch dân cư và phát triển kinh tế xã hội khu vực”, (Vũ Văn Bích,
2006) và “Nghiên cứu xây dựng quy trình công nghệ thành lập bộ bản đồ môi
trường phóng xạ tự nhiên. Áp dụng thử nghiệm trên địa bàn tỉnh Phú Thọ”. Tuy
nhiên, các đề tài này chỉ tập trung nghiên cứu nhằm xác định hiện trạng môi trường
phóng xạ, khoanh định các vùng ô nhiễm phóng xạ và ảnh hưởng của chúng tới môi
trường và đời sống nhân sinh khu vực nghiên cứu chứ không đi sâu vào vấn đề
nghiên cứu địa hóa các nguyên tố phóng xạ.
Hoàng Thị Hà
15
Trường ĐHKHTN – ĐHQGHN
Luận văn thạc sĩ
suối nhỏ, chỉ có nước vào mùa mưa, cạn nước vào mùa khô. Dân cư trong bản lấy
nước suối để canh tác, sinh hoạt và ăn uống chủ yếu dùng nước ngầm dưới chân đồi
và trong các khe cạn chảy ra.
1.3.1.4. Địa hình
Địa hình khu vực nghiên cứu gồm hai phần khác biệt, ở phía bắc địa hình
thấp, sườn thoải, phía nam địa hình đồi núi có độ cao hơn 500m, sườn dốc. Nhìn
chung địa hình khu vực này khá phức tạp, khó khăn cho việc phát triển kinh tế xã
hội (Hình 3).
Hình . Thôn Hạ Thành (bản Dấu Cỏ) - Đông Cửu - Thanh Sơn - Phú Thọ
1.1.1.5. Động, thực vật
+ Thực vật: trong khu vực, thực vật nhìn chung vẫn được duy trì và bảo vệ
nên mức độ che phủ đối với địa hình là tương đối tốt. Đất rừng trong khu vực được
chia thành các dạng như sau:
- Rừng tự nhiên (rừng nguyên sinh): là rừng còn chưa bị xâm hại hoặc ít bị
sự tàn phá của con người, vẫn còn giữ được nguyên dạng hoang sơ. Rừng rậm rạp,
nhiều cây to và dây leo.
Hoàng Thị Hà
17
Trng HKHTN HQGHN
05'00''
30
09
10
11
12
29
Su
i
ố
Đồng Cạn
Xóm Quyết
Xóm Chát
25
Xóm Vót
Xóm Võng
Su
Xóm Mu
Xã Đông Cửu
Giàu Có
Xóm Bu
Xóm Ngàn
Suối Giàu
Xóm Bủ
21
21
Xóm Cáy
01
Chỉ dẫn
02
03
29
Xóm Chống
Xóm Giàu
07
08
Xóm Bu
09
10
Đường ô tô
18
11
12
Xóm Rẻ
Núi Giác
Xóm B ương
27
00'00''
15
Xóm Mu
Xã Vinh Tiền
Mận Gạo
Xuân Quyền
23
Xóm Hẹ
Xóm Sặt
Xuân Quyền
Sông Giân
105 00'00''
21
Lun vn thc s
Trạm tế
Trường học
16
17
00'00''
105 10'30''
Trường ĐHKHTN – ĐHQGHN
là các loại động vật nhỏ như nhím, cáo... do nạn săn trộm chưa ngăn chặn được.
1.3.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội
1.3.2.1. Phân bố dân cư
Trong khu vực nghiên cứu dân cư phân bố không đồng đều, gồm các dân tộc
Mường, Kinh và người Dao. Người dân trong vùng chủ yếu làm nông nghiệp, trồng
rừng theo các dự án giao đất giao rừng. Người Mường và người Kinh sống đan xen
thành những làng bản quần tụ quanh các thung lũng, nhà ở chủ yếu là nhà xây lợp
ngói hoặc đổ mái bằng, nhà gỗ tooc xi láng nền hoặc nhà tạm tranh tre, nhà sàn
truyền thống còn sót lại rất ít. Điều kiện ăn ở vệ sinh có tiến bộ như tập quán nuôi
nhốt gia súc dưới gầm sàn đến nay không còn nữa...., dân tộc Dao chiếm một tỷ lệ
rất nhỏ, sống tập trung thành làng nhỏ ở xóm Giấu. Trình độ dân trí nói chung còn
thấp, đặc biệt là người Dao.
Nghề nghiệp chính của dân cư trong xã là sản xuất nông nghiệp. Cây lương
thực chủ yếu là lúa, sắn, ngô, khoai, nhìn chung sản xuất lương thực chỉ mang tính
tự cung tự cấp, đời sống nhân dân còn khó khăn.
1.3.2.2. Đời sống văn hóa, xã hội
Hoàng Thị Hà
20
Trường ĐHKHTN – ĐHQGHN
Luận văn thạc sĩ
Trong khu vực nghiên cứu, sống văn hóa, xã hội của người dân đang trên đà
phát triển. Mạng lưới điện quốc gia đã về tới các thôn bản xa xôi, hẻo lánh, đời sống
tinh thần và trình độ dân trí cũng được nâng lên rõ rệt. Mạng lưới y tế cũng đã được
quan tâm đúng mức, tình hình sức khoẻ và bệnh tật của đồng bào các dân tộc trong
Hoàng Thị Hà
21
Trường ĐHKHTN – ĐHQGHN
Luận văn thạc sĩ
- Giới Proterozoi - Hệ tầng Suối Làng - Phân hệ tầng dưới (PP 1sl1): Các đá
của phân hệ tầng dưới phân bố ở trung tâm khu vực nghiên cứu, với diện tích
khoảng 1,1 km2. Thành phần chủ yếu là đá phiến biotit - granit, đá phiến hai mica,
granit bị migmatit hoá.
Suất liều bức xạ gamma 0,20 ÷ 0,70µSv/h, các dị thường có cường độ phóng xạ từ 4,00 đến
7,5µSv/h.
- Giới Proterozoi - Hệ tầng Suối Làng - Phân hệ tầng trên (PP 1sl2): Phân bố ở
phía Nam khu vực với diện tích nhỏ (0,009km2). Thành phần chủ yếu là đá phiến
hai mica, một số nơi ở phần thấp có chứa granat hoặc graphit - granat.
Suất liều bức xạ gamma từ 0,26 ÷ 0,68µSv/h, trung bình 0,34µSv/h.
- Giới Kainozoi – Hệ Đệ tứ (Q): chủ yếu phân bố dọc theo suối Giàu với diện
tích không đáng kể. Thành phần chủ yếu là cát, bột, sỏi, sét.
1.3.3.2. Magma
Trong khu vực nghiên cứu có một phức hệ xâm nhập là phức hệ Bảo Hà
(M/PP1-2 bh). Phức hệ này phân bố dạng khối nhỏ gần trung tâm vùng nghiên cứu
với diện tích nhỏ (0,02km2). Thành phần chủ yếu là metagabro, metadiabas,
amphibolit.
1.3.3.3. Khoáng sản
Theo báo cáo địa chất và khoáng sản nhóm tờ Thanh Sơn – Thanh Thủy của
Viện Địa chất và Khoáng sản, trong diện tích nghiên cứu có các dị thường phóng xạ
thân pegmatit chứa các nguyên tố phóng xạ cao (U, Th, K) nằm ngay gần bề mặt
(với lớp phủ mỏng 0,5 – 3m) hoặc xuất lộ ngay trên bề mặt địa hình. Đây là điều
kiện rất thuận lợi cho quá trình phong hoá, bào mòn, phá huỷ các chất phóng xạ,
làm cho chúng bị vỡ vụn, di chuyển phát tán ra xa. Sự phát tán cơ học phụ thuộc rất
nhiều yếu tố: thời gian, không gian, địa hình, địa mạo và thảm thực vật.
b. Ảnh hưởng của mạng lưới thủy văn tới môi trường phóng xạ
Nước là môi trường thuận lợi cho sự phát tán các nguyên tố phóng xạ. Khi
dòng nước chảy qua thân quặng hay đới khoáng hóa sẽ hoà tan các nguyên tố không
bền vững trong đó có các nguyên tố phóng xạ và mang đi dưới dạng ion, gặp điều
kiện thuận lợi chúng phát tán các chất phóng xạ xuống vùng hạ lưu của dòng chảy
gây ra một diện tích ô nhiễm khá lớn từ vị trí mỏ, điểm quặng tới hạ lưu của dòng
chảy.
Trong khu vực nghiên cứu, mạng lưới các suối và các mạch nước ngầm khá
phát triển. Chúng đóng một vai trò quan trọng trong việc phát tán các nguyên tố
phóng xạ vào môi trường. Nước mặt và nước ngầm chảy qua các khu dị thường, các
thân quặng phóng xạ làm bào xói, hoà tan các nguyên tố phóng xạ, khí phóng xạ,
vận chuyển và phát tán các chất phóng xạ đi xa.
c. Ảnh hưởng của mạng không khí, khí hậu tới môi trường phóng xạ
+ Ảnh hưởng của khí hậu
Như đã nêu trên khí hậu vùng nghiên cứu được chia thành 2 mùa: Mùa mưa
thường kéo dài từ tháng 4 đến tháng 11, thời tiết nóng bức thường gây ra lũ lụt, sạt
lở, đóng vai trò quan trọng trong việc phát tán các nguyên tố phóng xạ trong môi
trường cơ học. Mùa khô thường ngắn từ tháng 12 đến tháng 3 thời tiết hanh khô,
Hoàng Thị Hà
23
Trường ĐHKHTN – ĐHQGHN
xa gây ô nhiễm môi trường xung quanh.
b. Hoạt động sản xuất nông nghiệp
Trong khu vực nghiên cứu, người dân vẫn trồng ngô, lúa, sắn, cây chè ngay
trên các thân pegmatit. Bằng việc đào bới, cầy xới, làm thủy lợi nhỏ để trồng trọt
diễn ra nhiều năm đã làm tăng thêm mức độ ô nhiễm phóng xạ, phát tán chất phóng
xạ đi xa, đặc biệt nguy hiểm hơn, việc trồng trọt các cây lương thực trực tiếp trên
Hoàng Thị Hà
24
Trường ĐHKHTN – ĐHQGHN
Luận văn thạc sĩ
các thân pegmatit chứa phóng xạ sẽ làm cho các cây lương thực trên bị nhiễm
phóng xạ.
c. Hoạt động xã hội
Trong khu vực nghiên cứu còn nhiều tập quán cũ như việc sinh hoạt, vệ sinh
môi trường còn chưa được chú ý, chưa hiểu biết về độc hại phóng xạ. Trong vùng
hiện tại chưa có công trình nước sạch nông thôn loại vừa và nhỏ, nên việc sử dụng
nguồn nước sinh hoạt của người dân là sử dụng các nguồn nước như sông, suối,
giếng, các điểm nước xuất lộ ngay tại các thân pegmatit, các dải dị thường phóng
xạ..., nên có nguy cơ nhiễm chất phóng xạ theo con đường tiêu hóa.
1.3.4.3. Ảnh hưởng của đặc điểm địa chất khoáng sản tới môi trường phóng xạ
a. Ảnh hưởng của đặc điểm địa chất tới môi trường phóng xạ
Trong khu vực nghiên cứu gồm nhiều loại đá khác nhau, nhưng cần đặc biệt
quan tâm đến diện tích phân bố các đá có cường độ phóng xạ cao thuộc hệ tầng
Suối Chiềng, hệ tầng Suối Làng và các khối xâm nhập thuộc phức hệ Bảo Hà. Các
đá này sau khi bị phong hóa các nguyên tố phóng xạ bị hòa tan, phát tán vào môi