Nghiên cứu chế tạo vật liệu chứa sắt kích thước nano ứng dụng trong xử lý nước - Pdf 36

Luận văn thạc sỹ khoa học

Ngô Ngọc Thư

LỜI CẢM ƠN
Trước tiên tôi xin cảm ơn Khoa Môi Trường -Trường Đại học khoa học
tự nhiên Hà Nội đã luôn tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình
học tập và nghiên cứu.
Trong quá trình thí nghiệm cho luận văn của mình, tôi đã nhận được
sự giúp đỡ của các anh chị quản lý phòng thí nghiệm và các thầy cô của Bộ
môn Công nghệ môi trường – Khoa Môi trường, Trung tâm Khoa học Vật
liệu – Khoa Vật lý – Đại học Khoa học Tự nhiên và anh Phạm Văn Lâm –
Viện Hóa học – Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã giúp đỡ tôi trong
quá trình làm thực nghiệm luận văn.
Tôi cũng cảm ơn các sinh viên trong nhóm thực hiện đề tài đã luôn tận
tình hỗ trợ tôi thực hiện đề tài này.
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới PGS.TS. Nguyễn Thị
Hà, người đã giúp tôi định hướng nghiên cứu, xây dựng ý tưởng và hướng
dẫn tôi rất tận tình trong quá trình nghiên cứu.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình thân yêu của tôi. Tất cả
các bạn bè, đồng nghiệp đã luôn bên tôi suốt chặng đường tôi đi, động viên
và hỗ trợ tôi giúp đỡ tôi để hoàn thành bản luận văn này.
Học viên

Ngô Ngọc Thư

Ngành Khoa học môi trường khóa 2008 – 2010
-1-


Luận văn thạc sỹ khoa học


Axít etilendiamintetrainxetic

HCBVTV

Hợp chất bảo vệ thực vật

RCl

Hợp chất cơ clo vòng thơm

OCP

Hợp chất thuốc trừ sâu cơ clo

PCB

Hợp chất polyclobiphenyl

POP

Hợp chất hữu cơ bền vững khó phân
hủy

SEM

Scanning Electron Microscope

TEM



1.1.1. Đặc điểm của vật liệu nano

10

1.1.2. Khái quát các phương pháp chế tạo vật liệu sắt kích thước nano

12

1.2. Ứng dụng vật liệu chứa sắt kích thước nano cho xử lý môi trường
nước

15

1.2.1. Ứng dụng xử lý nitrat

15

1.2.2. Ứng dụng xử lý hợp chất clo hữu cơ

24

Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

46

2.1 Đối tượng nghiên cứu

46



64

3.2. Kết quả nghiên cứu khả năng xử lý nitrat của vật liệu

68

3.2.1. Kết quả xây dựng đường chuẩn phân tích nitrat, nitrit và amoni

68

3.2.2 Kết quả nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả xử lý

70

3.2.3. Kết quả khảo sát sản phẩm của quá trình khử

72

3.3. Khả năng xử lý hợp chất clo hữu cơ vòng thơm của vật liệu

74

3.3.1. Kết quả xây dựng đường chuẩn phân tích clobenzen

75

3.3.2. Kết quả nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả xử lý

75

-4-


Luận văn thạc sỹ khoa học

Ngô Ngọc Thư

DANH MỤC BẢNG BIỂU
Tên bảng

Trang

Bảng 1. Hàm lượng sắt trong các mẫu vật liệu chế tạo

67

Bảng 2 : Sự thay đổi nồng độ nitrat theo thời gian ở các pH khác nhau

70

(C0 = 100mg/l; [Fe] = 0,033mg/ml; pH = 4, 5, 6)
Bảng 3.Sự phụ thuộc của độ hấp thụ quang A vào nồng độ CB

77

Bảng 4. Ảnh hưởng của nồng độ của EDTA

78

Bảng 5. Ảnh hưởng của pH tới sự suy giảm hàm lượng CB


DANH MỤC HÌNH
Tên hình
Hình 1: Quá trình thẩm thấu
Hình 2: Quá trình thẩm thấu ngược
Hình 3 : Quá trình điện thẩm tách

Trang
21
21
22

Hình 4 Dải phân bố tần số sóng âm

24

Hình 5: Sơ đồ nguyên lý phương pháp điện hóa
Hình 6. Một số hợp chất thuốc trừ sâu cơ clo phổ biến
Hình 7. Cấu tạo của các hợp chất polyclobiphenyl
Hình 8. Sự hấp thụ, phân bố, tích lũy, trao đổi chất và đào thải của

25
29
30
32

một số hóa chất trong cơ thể sinh vật [5]
Hình 9. Sắt tham gia vào quá trình khử các hợp chất clo hữu cơ
Hình 10. Sơ đồ sắt (Fe(II)) tham gia vào quá trình khử
Hình 11. Sơ đồ sắt và hydro tham gia vào quá trình khử

Hình 20. Vật liệu sắt kích thước nano chế tạo

65
66
67

Hình 21. Đường chuẩn phân tích NH4+; NO2- và NO3-

69

Hình 22. Ảnh hưởng của pH đến hiệu quả xử lý nitrat

71

Hình 23. Ảnh hưởng của hàm lượng Fe0 đến hiệu quả xử lý nitrat (C0 =
100mg/l; pH=3,5-4,5)

Ngành Khoa học môi trường khóa 2008 – 2010
-6-

72


Luận văn thạc sỹ khoa học

Ngô Ngọc Thư

Hình 24. Ảnh hưởng của nồng độ nitrat ban đầu (Fe0=1g/l; pH=4)

73

Hình 33. Sự phụ thuộc của hàm lượng CB còn lại trong dung dịch

83

81

83

kích thước vật liệu (sau 2 giờ phản ứng)
Hình 34. Sự phụ thuộc của hàm lượng CB còn lại vào lượng vật liệu

84

cho vào
Hình 35: Ảnh hưởng của hàm lượng CB ban đầu đến hiệu suất xử

86

lý(sau 2 giờ)
Hình 36: Bảng so sánh hiệu suất xử lý CB và COD (sau 2 giờ)
Hình 37. So sánh hàm lượng CB (sau 2 giờ phản ứng) ở 3 pH khác
nhau

Ngành Khoa học môi trường khóa 2008 – 2010
-7-

87
89



-8-


Luận văn thạc sỹ khoa học

Ngô Ngọc Thư

“ Nghiên cứu chế tạo vật liệu chứa sắt kích thước nano ứng dụng
trong xử lý nước”.
Phương pháp xử lý một số chất ô nhiễm nitrat và các hợp chất clo hữu
cơ… bằng vật liệu sắt kích thước nano là một phương pháp mới đã được áp
dụng ở một số nước trên thế giới. Đây là một phương pháp mới thân thiện với
môi trường, phương pháp sử dụng sắt là một chất ít độc hại, nó biến đổi hợp
chất ô nhiễm, độc hại thành các hợp chất ít độc hại hơn với môi trường.
Mục tiêu và nội dung nghiên cứu:
- Nghiên cứu phương pháp chế tạo vật liệu chứa sắt kích nano;
- Nghiên cứu ứng dụng của vật liệu chế tạo được trong xử lý một số
chất ô nhiễm phổ biến trong môi trường nước:
+ Nghiên cứu ứng dụng vật liệu chứa sắt kích thước nano cho việc
xử lý nitrat trong nước;
+ Nghiên cứu ứng dụng của vật liệu chứa sắt kích thước nano cho
việc xử lý các hợp chất clo hữu cơ (clo benzen) trong môi trường nước;

Ngành Khoa học môi trường khóa 2008 – 2010
-9-


Luận văn thạc sỹ khoa học

Ngô Ngọc Thư


Ngô Ngọc Thư

- Vật liệu nano mét chiều: chỉ có duy nhất 1 chiều có kích thước
nanomet. VD: ống nano, dây nano…
- Vật liệu nano composite.
* Đặc điểm và tính chất
Một đặc điểm quan trọng của vật liệu nano là kích thước hạt vô cùng nhỏ
bé, chỉ lớn hơn kích thước của nguyên tử 1-2 bậc. Do vậy, số nguyên tử nằm
trên bề mặt của vật liệu nano lớn hơn rất nhiều so với các vật liệu có kích
thước lớn hơn.
Như vậy nếu như ở vậy ở các vật liệu thông thường chỉ có một số ít
nguyên tử nằm trên lớp bề mặt, còn phần lớn các nguyên tử nằm phía sâu bờn
trong, bị các lớp ngoài che chắn thì trong cấu trúc vật liệu nano tăng lên rất
nhiều so với vật liệu thông thường. Nói cách khác, ở các vật liệu có kích
thước nano mét, mỗi nguyên tử được tự do thể hiện toàn bé tính chất của
mình tương tác với môi trường xung quanh. Điều này làm xuất hiện ở vật liệu
nano nhiều tính đặc trưng nổi trội, đặc biệt là các tính chất điện, quang, từ,
xúc tác… Vật liệu nano có 3 hiệu ứng:
- Hiệu ứng lượng tử.
Đối với vật liệu vĩ mô gồm rất nhiều nguyên tử, các hiệu ứng lượng tử
được trung bình hóa với rất nhiều nguyên tử (1 #m3 có khoảng 1012 nguyên
tử) và có thể bỏ qua các thăng giáng ngẫu nhiên. Nhưng các cấu trúc nano có
ít nguyên tử hơn thì các tính chất lượng tử thể hiện rõ ràng hơn. Ví dụ một
chấm lượng tử có thể được coi như một đại nguyên tử, nó có các mức năng
lượng giống như một nguyên tử.
- Hiệu ứng bề mặt.

Ngành Khoa học môi trường khóa 2008 – 2010
- 11 -

riêng biệt xuống còn vài nm và dẫn đến sự biến dạng, bẻ gẫy và nối lại của
chúng. Khi nghiền, người ta thường sử dụng chất hoạt hóa bề mặt giúp cho
Ngành Khoa học môi trường khóa 2008 – 2010
- 12 -


Luận văn thạc sỹ khoa học

Ngô Ngọc Thư

quá trình nghiền được dễ dàng và đồng thời tránh các hạt kết tụ với nhau.
Phương pháp nghiền có ưu điểm là đơn giản và chế tạo được vật liệu với khối
lượng lớn. Nhược điểm của phương pháp này là tính đồng nhất của các hạt
nano không cao vì khó có thể khống chế quá trình hình thành hạt [3]
b) Phương pháp vi nhũ tương (RM)
RM là một phương pháp rất phù hợp để chế tạo vật liệu
nano với sự phân bố kích thước chặt chẽ và hình thái đồng
nhất cao. Trong nghiên cứu của mình Carpenter [16] đã sử
dụng hệ RM của cetyltrimethyl ammonium bromide, octane,
n-butanol, và các chất phản ứng trong dung dịch để khử sắt
sunfat bằng natri borohidrit (NaBH4). Bằng cách phủ một lớp
mỏng vàng, những hạt sắt nano có thể được bảo vệ khỏi sự
oxi hóa. Hạt nano thu được có đường kính 7nm và được bọc
bởi một lớp vàng 1nm.
Li và các cộng sự [16] đã sử dụng một hệ tương tự và
thu được các hạt sắt nano có dạng gần hình cầu với đường
kính nhỏ hơn 10 nm. Các nghiên cứu khác [25-27] trên vật
liệu Fe-Au nano cho thấy có thể thu được các hạt nano với
nhân vàng 3 nm, một lớp sắt 1 nm và lớp phủ vàng 2 nm
bằng phương pháp vi nhũ tương.

[5] đầu năm 1995. Các hạt sắt tổng hợp theo phương pháp này được gọi là
FeBH. Do sự đơn giản cũng như hiệu suất của phương pháp khử pha lỏng, nó
đã trở thành phương pháp được biết đến nhiều nhất và sử dụng rộng rãi nhất
để chế tạo sắt nano trong các ứng dụng môi trường. Chất khử được sử dụng
phổ biến nhất là NaBH4. Các dung dịch của sắt được sử dụng là sắt(III) clorit
(FeCl3.6H2O) và sắt(II) sunfat(FeSO4.7H2O).
Trong nghiên cứu của mình, Zhang [25-27] đã báo cáo rằng các hạt nano
tạo ra có kích thước trung bình là 60,2nm. Phần lớn các hạt (>80%) có đường
kính nhỏ hơn 100 nm, với 30% có đường kính nhỏ hơn 50nm. Diện tích bề
mặt riêng trung bình của vật liệu khoảng 35m 2/g. Choe và các cộng sự [5] chế
Ngành Khoa học môi trường khóa 2008 – 2010
- 14 -


Luận văn thạc sỹ khoa học

Ngô Ngọc Thư

tạo được vật liệu có kích thước trong khoảng 1-100nm và diện tích bề mặt
riêng 31,4m2/g. Các hạt nano thu được trong nghiên cứu của Ruangchainikom
nằm trong khoảng 10-100nm, với diện tích bề mặt riêng là 24,4-37,2m2/g.
f) Khử pha khí
Một loại sắt nano thương phẩm được biết đến với tên gọi RNIP (Toda
Kogyo Corp., Schaumberg, IL), sử dụng rộng rãi trong các ứng dụng môi
trường được tổng hợp bằng phương pháp khử pha khí. RNIP (hay còn gọi là
FeH2) được sản xuất từ phương pháp khử hematite hoặc goethite bằng H 2 ở
nhiệt độ cao (350-6000C). Sau khi làm lạnh và chuyển hạt sắt vào nước dưới
dạng khí, một lớp vỏ bị oxi hóa hình thành trên bề mặt hạt. Sau khi được làm
khô, vật liệu nano sắt đã sẵn sàng để khử các hợp chất hữu cơ chứa halogen
hoặc kim loại nặng. RNIP được biết đến như một vật liệu hai pha gồm Fe 3O4

được tìm thấy trong một số hệ thống địa chất, và là kết quả của sự thối rữa các
chất hữu cơ.
+ Phân động vật, xác các loại thực vật là nguồn cung cấp nitơ hữu cơ
cho đất. Nitơ hữu cơ sẽ bị chuyển hóa thành N-NH 4+ là dạng mà sinh vật có
thể sử dụng được (quá trình amôn hóa). Sau đó, NH4+ sẽ tiếp tục bị vi khuẩn
oxi hóa thành NO3- (quá trình nitrat hóa). Một phần nitrat sẽ được cây hấp thu,
một phần sẽ bị các vi khuẩn phản nitrat chuyển hóa thành N 2, N2O đi vào khí
quyển (quá trình phản nitrat), một phần sẽ được các vi khuẩn cố định nitơ
chuyển hóa trở lại thành nitơ hữu cơ trong đất (cố định nitơ) và một phần
nitrat xâm nhập vào các thủy vực [5]
b> Những ảnh hưởng của nitrat tới môi trường và sức khỏe
- Những ảnh hưởng của nitrat tới sức khỏe [3]:
+ Độc tính của nitrat chủ yếu là do sự chuyển hóa của nó thành nitrit,
nitrit sẽ oxi hóa dạng Fe2+ trong hemoglobin thành dạng Fe3+. Hợp chất này
(methemoglobin) không kết hợp với oxi, làm giảm sự vận chuyển oxi từ phổi
đến các mô. Một người bình thường có hàm lượng methemoglobin thấp,
thường nằm trong khoảng từ 0,5-2% (NAS, 1981). Tuy nhiên, do khả năng
vận chuyển oxi vượt trội của máu, lượng methemoglobin lên tới khoảng 10%
Ngành Khoa học môi trường khóa 2008 – 2010
- 16 -


Luận văn thạc sỹ khoa học

Ngô Ngọc Thư

cũng không cho thấy bất kỳ dấu hiệu bệnh lý nào đáng kể. Nồng độ trên 10%
có thể làm cho da và môi bị xanh tím, nồng độ trên 25% sẽ dẫn tới sự mệt
mỏi, thở nhanh và tim đập mạnh. Nồng độ methemoglobin ở mức 50-60% có
thể dẫn tới tử vong.


ảnh hưởng đối với mỗi người là khác nhau, tuỳ thuộc vào nguồn nitrat và
nitrit người đó lấy vào cơ thể.
+ Nitrat có thể bị chuyển thành nitrit nhờ các vi khuẩn trong cơ thể. Sau
đó, nitrit sẽ kết hợp với các amin (có trong thức ăn, dược phẩm, các chất hoá
học, khói thuốc, cây trồng đang phân hủy, đất và đôi khi là nước) tạo thành
nitrosamin, là hợp chất gây ung thư. Tuy nhiên những kết quả này chưa được
khẳng định và chưa phải là những kết luận cuối cùng. Mặc dù vậy, chúng ta
cũng đã thấy được những tác động nhất định của nitrat đối với sức khỏe, đặc
biệt ở trẻ sơ sinh. Do đó cần phải có những biện pháp để giảm hàm lượng
nitrat trong nước uống đến mức tiêu chuẩn.
- Những ảnh hưởng của nitrat đối với môi trường:
+ Bên cạnh những ảnh hưởng đối với sức khỏe, nitrat cùng với
photphat ở hàm lượng lớn khi đi vào các thủy vực sẽ gây ra hiện tượng phú
dưỡng, làm ô nhiễm môi trường.
+ Do môi trường nước có chứa các chất dinh dưỡng N và P làm cho
thực vật phù du phát triển mạnh, tăng sinh khối, đặc biệt là tảo que, tảo xanh
hoa và nhiều loại tảo độc khác. Hàm lượng chất diệp lục cũng tăng lên đáng
kể và bị thối rữa, phân hủy dẫn đến làm giảm nghiêm trọng hàm lượng oxi
hòa tan trong nước, một yếu tố cơ bản của quá trình tự làm sạch của môi
trường nước, đặc biệt là ở những nơi có độ sâu đáng kể. Sự phân hủy của tảo
là một trong những nguyên nhân chính gây ra sự thiếu oxi nghiêm trọng trong
nước. Quá trình này xảy ra theo phương trình:
(CH2O)106(NH3)16H3PO4 + 138O2  106CO2 + 122H2O + 16HNO3 +
H3PO4
(*)

Ngành Khoa học môi trường khóa 2008 – 2010
- 18 -



Ngành Khoa học môi trường khóa 2008 – 2010
- 19 -


Luận văn thạc sỹ khoa học

Ngô Ngọc Thư

thí nghiệm đều tiến hành trong 24h ở 300C . Các nghiên cứu động học cho
thấy sự hấp phụ nitrat của Purolite A 520E tuân theo định luật Langmuir và
Dubinin – Radushkevich, dung lượng hấp phụ cực đại tính theo định luật
Langmuir là 81,97mg NO3-/g nhựa. Hiệu quả hấp phụ đạt cực đại 81% với
hàm lượng nhựa là 0,3g/l và nồng độ tối ưu của NaCl trong quá trình giải hấp
là 0,6M.
2. Phương pháp thẩm thấu ngược (RO):
Thẩm thấu ngược tuân theo nguyên tắc của thẩm thấu. Giữa hai dung
dịch nồng độ khác nhau của những chất hòa tan trong dung dịch sẽ có một
màng ngăn cách. Màng cho phép một số hợp chất như nước đi qua, nhưng
không cho những hợp chất lớn hơn đi qua (màng bán thấm) . Đối với thẩm
thấu ngược, áp lực sẽ được đặt lên phía màng tiếp xúc với dung dịch nồng độ
lớn hơn . Điều này buộc quá trình thẩm thấu diễn ra ngược lại, nhờ vậy, với
áp lực sử dụng vừa đủ nước sạch sẽ bị đẩy từ dung dịch có nồng độ cao hơn
sang dung dịch có nồng độ thấp hơn. Nước đã qua xử lý được thu lại vào
thùng chứa. Những chất ô nhiễm bị loại ra ở phía màng tiếp xúc với dung
dịch có nồng độ lớn hơn sẽ được loại bỏ như nước thải [14].

C1

C2

lửng giảm từ 1292mg/l xuống 24mg/l. Có thể tái sử dụng khoảng 50% nước
thải từ quá trình thẩm thấu ngược để đáp ứng nhu cầu nước cho gia súc, nếu
những điều kiện về nitơ-nitrat, chất rắn lơ lửng cũng như một số chỉ tiêu khác
phù hợp.
Nước được xử lý bằng phương pháp thẩm thấu ngược không chỉ giảm
lượng nitrat mà còn giảm lượng sunfat, giảm độ cứng và chất rắn lơ lửng .
Tuy nhiên phương pháp thẩm thấu ngược có hiệu quả không cao, chỉ xử lý
được khoảng 5-15% lượng nước đưa vào, lượng nước còn lại coi như nước
thải, do chứa nhiều loại ion khác. Ngoài ra, chi phí lắp đặt cũng như bảo
dưỡng lớp màng bán thấm cũng là một nguyên nhân góp phần hạn chế việc sử
dụng phương pháp thẩm thấu ngược.
3. Phương pháp điện thẩm tách
Điện thẩm tách là quá trình sử dụng điện trường kéo các ion về phía
các cực trái dấu qua các màng trao đổi ion. Màng sử dụng là loại màng chỉ
cho phép một loại ion (ion dưong hoặc ion âm) đi qua, ví dụ màng cationit chỉ
cho cation đi qua, anion bị giữ lại và màng phải có điện trở thấp.
Quá trình điện thẩm tách xảy ra trong buồng điện thẩm tách. Buồng
điện thẩm tách có nhiều ngăn được ngăn cách bởi các màng trao đổi ion trái
dấu sắp xếp theo kiểu cài răng lược + - + - với hai điện cực hai phía (hình
vẽ). Dung dịch cần xử lý sẽ chảy qua vùng không gian giữa các màng, khi đó
điện trường sẽ kéo các cation về phía catot và các anion về phía anot. Dung
dịch sau khi xử lý sẽ chảy vào ngăn ở giữa, dung dịch có nồng độ ion cần xử
lý cao sẽ chảy sang hai bên.

Ngành Khoa học môi trường khóa 2008 – 2010
- 21 -


Luận văn thạc sỹ khoa học



Luận văn thạc sỹ khoa học

Ngô Ngọc Thư

4. Phương pháp khử sinh học
Khử sinh học là quá trình khử nitrat thành nitơ bởi các vi khuẩn trong
bể phản ứng sinh học kỵ khí. Nguồn cacbon cung cấp cho vi khuẩn chính là
BOD tự nhiên trong nước thải.
Trong một nghiên cứu sử dụng thiết bị phản ứng màng, dòng liên tục,
môi trường khử giàu nitơ được lấy từ bùn hoạt hoạt tính của một nhà máy xử
lý nước thải, bổ sung thêm nước, metanol với tỉ lệ 3g metanol/ 1g N-NO3-.
Sau đó môi trường được điều chỉnh đến pH 7 bằng dung dịch photphat với tỉ
lệ: 1,74g/l KH2PO4 và 2,14 K2HPO4g/l trong 0,1g/l N-NO3- . Hệ thống hoạt
động với lưu lượng 0,6-1,4cm3/phút, với nồng độ 20-30 mgN/l và ở nhiệt độ
210C. Kết quả cho thấy hiệu quả xử lý có thể đạt đến 90% với nồng độ 20mg/l
N-NO3-, hoạt tính của màng sinh học giảm đáng kể sau 48h hoạt động và tổng
chất rắn lơ lửng giảm từ 1000mg/l xuống 300mg/l.
Ưu điểm của phương pháp khử sinh học là khử hoàn toàn nitrat thành
nitơ. Tuy nhiên, phương pháp này đòi hỏi nhiều thời gian do tốc độ phản ứng
rất chậm, đồng thời phải luôn duy trì những điều kiện về dinh dưỡng, nhiệt độ
cho vi khuẩn.
5. Phương pháp khử bằng vật liệu chứa Fe kích thước nano
Trong những năm gần đây, một vài kỹ thuật cũng được áp dụng để loại
bỏ nitrat khỏi nước, trong đó việc sử dụng Fe0 và Fe0 nano được coi là phương
pháp mới xử lý hiệu quả nitrat. Xem xét động học phản ứng khử nitrat bằng
Fe0 nano, Choe và cộng sự [19] cho thấy có thể khử hoàn toàn nitrat trong
dung dịch chỉ sau vài phút bằng cách cho dung dịch đó tiếp xúc với bột sắt
nano dưới những điều kiện thường, không có sự kiểm soát pH. So với sắt kích
thước micro, sau 30 phút phản ứng, sản phẩm cuối cùng không chỉ có NH 4+

4Fe0 + NO3- + 10H+  4Fe2+ + NH4+ + 3H2O

(1)
(2)
(3)

Những nghiên cứu về quá trình khử nitrat của vật liệu sắt nano đều cho
thấy sản phẩm cuối cùng của phản ứng là amoni, một lượng nhỏ nitơ và
không phát hiện thấy nitrit [12, 19, 26, 27].
1.2.2. Ứng dụng xử lý hợp chất clo hữu cơ
a> Đại cương về các hợp chất cơ clo vòng thơm
Các hợp chất cơ clo vòng thơm là các chất trong phân tử chứa một hay
nhiều nguyên tử clo kết hợp với một hay nhiều nhóm phenyl. Ở điều kiện
thường chúng tồn tại ở các dạng khác nhau như dạng bột, tinh thể hay lỏng…
với màu sắc khác nhau là tuỳ thuộc vào cấu trúc phân tử. Do trong phân tử có
chứa nguyên tử clo và nhân benzene nên chúng có đặc điểm chung là ít tan
trong nước nhưng tan tốt trong các dung môi hữu cơ. Trong môi trường, có ái
lực cao với các phân tử chất béo, dầu và tích lũy tốt trong trầm tích, tồn tại dai
Ngành Khoa học môi trường khóa 2008 – 2010
- 24 -


Luận văn thạc sỹ khoa học

Ngô Ngọc Thư

dẳng trong đất, nước, trầm tích, lương thực, thực phẩm và lan truyền trong
chuỗi thức ăn. Chúng thường là các hợp chất hữu cơ bền gây ô nhiễm môi
trường. Độc tính của chúng phụ thuộc vào cấu trúc phân tử và thời gian bán
huỷ trong môi trường [1, 2, 4]. Trong các hợp chất cơ clo vòng thơm, có hai


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status