ĐẶT VẤN ĐỀ
Xã hội loài người ngày càng phát triển, cùng với nó là sự bùng nổ của
các đại dịch mà nổi bật nhất là lao, HIV và sốt rét. Theo thống kê của tổ chức
Y tế Thế giới (WHO), tỉ lệ nhiễm lao hiện nay chiếm 1/3 dân số thế giới. Mỗi
năm theo ước tính có khoảng 9 triệu người mắc lao mới và có khoảng 3 triệu
người chết vì lao, tuy nhiên, tỷ lệ phát hiện bệnh chỉ đạt 37%. Như vậy còn
rất nhiều bệnh nhân mắc lao không được phát hiện và chữa trị kịp thời, đây sẽ
là nguồn lây nhiễm rất khó kiểm soát. Việt Nam hiện đứng thứ 12 trong tổng
số 22 nước có tỉ lệ nhiễm lao lớn nhất trên Thế giới, trong khu vực Tây Thái
Bình Dương đứng thứ 3 sau Trung Quốc và Philippin [2, 10, 54].
Ngày nay bệnh lao càng trở nên nguy hiểm hơn do tính kháng thuốc,
đặc biệt là lao kháng đa thuốc gây tử vong rất lớn, do vậy, việc phát hiện để
điều trị sớm càng trở nên cần thiết. Tuy nhiên việc chẩn đoán còn gặp rất
nhiều khó khăn. Ở Việt Nam, phương pháp nhuộm Ziehl - Neelsen hiện nay
vẫn được coi là phổ biến nhất. Hạn chế của phương pháp này là chỉ có khả
năng phát hiện trong trường hợp số lượng vi khuẩn lao ≥ 10 4 AFB/1ml bệnh
phẩm, do vậy nếu chỉ áp dụng phương pháp này sẽ để sót nhiều bệnh nhân.
Phương pháp nuôi cấy vi khuẩn lao trên môi trường Lowenstein-Jensen được
coi là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán, tuy nhiên phải mất 4 đến 8 tuần nuôi cấy
mới cho kết quả. Ngay cả trên môi trường nuôi cấy cải tiến MGIT, BACTEC
cũng mất đến 2 tuần, điều này khó đáp ứng được mục tiêu phát hiện nhanh để
kiểm soát bệnh lao [4, 18].
Trước yêu cầu bức thiết đó đòi hỏi phải có một phương pháp chẩn đoán
đáp ứng được hai yêu cầu nhanh và chính xác. Ngày nay sự phát triển mạnh
mẽ của sinh học phân tử đã tạo ra một bước đột phá trong việc chẩn đoán lao.
Nhờ ứng dụng công nghệ sinh học phân tử trong chẩn đoán lao đã rút ngắn
1
thời gian chẩn đoán từ vài tuần xuống còn hai ngày với độ nhạy và độ đặc
2. So sánh tỷ lệ xuất hiện các trình tự IS6110, IS1081 và 23S rDNA trên
các chủng lao ở ba miền Bắc – Trung – Nam tại Việt Nam.
3
Chương 1
TỔNG QUAN
1.1. TÌNH HÌNH BỆNH LAO
1.1.1. Tình hình bệnh lao trên thế gới
Lao là một bệnh truyền nhiễm và đã từng được Tổ chức Y tế Thế giới
(WHO) khuyến cáo về tình trạng khẩn cấp toàn cầu của căn bệnh này. Hiện
nay, bệnh lao đang được khuyến cáo là một trong ba bệnh truyền nhiễm nguy
hiểm nhất trên thế giới cùng với hội chứng suy giảm miễn dịch AIDS và sốt
rét. Hiện có tới hơn 2 tỷ người nhiễm lao chiếm gần 1/3 dân số thế giới, mỗi
năm có khoảng 9 triệu bệnh nhân mới được phát hiện và trên 3 triệu người
chết vì lao [2]. Tình hình cũng diễn biến xấu hơn ở những nước đang phát
triển, nơi chiếm 95% số người mắc lao. Bệnh lao chiếm 25% nguyên nhân tử
vong ở những nước này. Khoảng 80% số bệnh nhân lao toàn cầu thuộc 22
quốc gia có gánh nặng bênh tật cao. Đặc biệt trong những năm gần đây tình
hình lao đồng nhiễm với HIV – AIDS và lao kháng thuốc đang nổi lên như
một vấn đề nhức nhối, đặc biệt là ở các nước kém và đang phát triển, điều này
đòi hỏi sự vào cuộc của toàn xã hội. Theo thống kê năm 2005 toàn thế giới có
gần 8,8 triệu người mắc bệnh lao và đã dẫn tới 1,6 triệu người bị chết.
Khoảng 95% số bệnh nhân lao và 98% số người chết do lao ở các nước có thu
nhập vừa và thấp, 75% số bệnh nhân lao cả nam và nữ ở độ tuổi lao động.
Trong đó có khoảng 80% số bệnh nhân lao toàn cầu thuộc 22 nước có gánh
nặng bệnh lao [54, 69]. Vào năm 2007, WHO ước tính khu vực Đông Nam Á
có số người nhiễm lao chiếm 34% trên toàn thế giới.
Thông báo gần đây nhất năm 2007 của WHO cho biết bệnh lao bước đầu
chẩn đoán lao đã mang lại nhiều kết quả khả quan, với các kĩ thuật trên đã rút
ngắn thời gian chẩn đoán và cho độ chính xác cao. Tuy vậy cần có các nghiên
5
cứu nhằm hiểu rõ hơn về đặc điểm phân tử của vi khuẩn lao nhằm hoàn thiện
hơn kĩ thuật chẩn đoán lao bằng phương pháp phân tử.
1.2. ĐẠI CƯƠNG VỀ VI KHUẨN LAO
1.2.1. Đặc điểm phân loại
Vi khuẩn lao thuộc giới Bacteria, ngành Actinobacteria, bộ
Actinomycetales, phân bộ Corynebacterineae, họ Mycobacteriaceae, giống
Mycobacterium. Vi khuẩn lao có tên khoa học là: Mycobacterium
tuberculosis [15].
Các chủng vi khuẩn thuộc giống Mycobacterium được chia làm 2 nhóm
• Mycobacterium tuberculosis complex (MTBC) gồm:
M. tuberculosis, M. bovis, M. africanum, M. microti. Trong đó M.
tuberculosis và M. bovis gây bệnh lao điển hình.
• Mycobacterium other than tuberculosis (MOTT) gồm:
M. avium, M. ortuitum, M. govdovac, M. kansasii... Nhóm này không
gây bệnh lao.
1.2.2. Đặc điểm cấu trúc
1.2.2.1. Cấu trúc hình thái
Vi khuẩn lao được phát hiện bởi Robert Koch khoảng 100 năm trước
đây. Trực khuẩn lao có hình que, kích thước 2-3 µm, dày 0,3 µm. Khi nhuộm
Ziel-Nellsen trực khuẩn lao bắt màu đỏ thẫm, không bị cồn và axit làm mất
màu fucsin, do vậy chúng được gọi là trực khuẩn kháng cồn, kháng toan (acid
fast bacilli-AFB). Đây là đặc điểm nổi bật của Mycobacteria có thể giúp phát
hiện vi khuẩn lao trong các mẫu bệnh phẩm. Trực khuẩn lao trong dịch huyền
phù duy trì tính kháng axit trong khoảng thời gian rất dài kể cả khi chịu tác
7
tế bào, tập hợp và tiết một số protein ngoại bào, sao chép DNA [3, 4, 11].
Lớp tiếp theo là peptidoglican liên kết với đường arabinose và các phân
tử axit mycolic tạo nên một bộ khung định hình cho vi khuẩn đảm bảo cho vỏ
vi khuẩn có độ cứng nhất định [1]. Thành tế bào của Mycobacteria là cấu trúc
phức tạp nhất được biết ở prokaryote, có một số thành phần hoá học và nhiều
liên kết chéo bất thường, mức độ liên kết giữa peptidoglycan ở thành tế bào
M. tuberculosis là 70-80% trong khi ở E. coli là 20-30% [45].
Lớp ngoài là lớp được tạo nên bởi sự liên kết giữa các axit mycolic và
các lipid phức tạp, đây là lớp tạo nên độc tính của vi khuẩn lao và có cấu trúc
làm tăng khả năng chống thấm nước của thành vi khuẩn giúp trực khuẩn tồn
tại lâu với môi trường bên ngoài, chống khả năng bị huỷ diệt bởi đại thực bào
và các tế bào miễn dịch [1]. Bám với peptidoglycan là một polysaccharide
phân nhánh, arabinogalactan, đầu ngoài của các phân tử này được ester hoá
với axit béo có khối lượng phân tử cao là axit mycolic. Sự sắp xếp của các
axit mycolic có tính đặc hiệu loài cho phép xác định loài mycobacteria bằng
sắc ký lớp mỏng, sắc ký lỏng hiệu năng cao, sắc ký khí-lỏng. Các axit
mycolic đặc hiệu M. tuberculosis là alpha-keto và mythoxymycolate chứa 76
đến 82, 84 đến 89 và 83 đến 90 carbon. Lớp ngoài của thành tế bào có các
phân tử lipid tự do như phthiocerol dimycoserosates (PDIM), phenolic
glycolipids (PGL), trehalose-containing glycolipids và sulfolipids (SL). Nằm
ngang qua toàn bộ lớp màng là một số glycolipid như phosphatidylmyoinositol mannosides, lipomannan (LM) và lipoarabinomannan (LAM),
được đính vào màng sinh chất và mở rộng ra bên ngoài thành tế bào trong đó
LAM có tính đặc hiệu loài. Thành tế bào mycobacteria chứa các protein nằm
rải rác, một vài protein này có tác dụng cấu trúc thành tế bào, một số protein
porin hình thành các kênh ưa nước cho phép vận chuyển tích cực các chất tan
trong nước thông qua lớp axit mycolic. Porin ở mycobacteria khác so với các
1- Lipid ngoài
2- Axit mycolic
3- polysaccharides
(arabinogalactan)
4- peptidoglycan
5- màng sinh chất
6- lipoarabinomannan (LAM)
7- phosphatidylinositol
mannoside
8- Khung thành tế bào
Hình 1.3. Thành tế bào Mycobacteria
[ />
1.2.3. Đặc điểm nuôi cấy
Trực khuẩn lao là vi khuẩn ưa khí bắt buộc, không mọc được ở điều
kiện kị khí. Nhiệt độ thích hợp để mọc là 37oC. Hầu như không mọc ở nhiệt
độ dưới 37oC hoặc trên 42oC.
Vi khuẩn lao phát triển trong môi trường đặc biệt giàu chất dinh dưỡng,
chứa trứng, khoai tây, xitrat, glixerol, asparagin, xanh malachit. Môi trường
thường dùng là môi trường đặc Loewenstein được cải tiến bởi Jensen; (hoặc
môi trường lỏng Sauton).
Trực khuẩn lao là vi khuẩn mọc chậm, phải 4-6 tuần sau mới hình
thành khuẩn lạc điển hình, dạng R.
10
Hình 1.4. Khuẩn lạc M. tuberculosis trên môi trường Lowenstein - Jensen
[www.stanford.edu/.../tb%20culture.jpg]
ở vùng đầu N và bảo thủ trong từng họ protein, chiều dài lần lượt xấp xỉ 110
và 180 amino axit. Trong 172 gen thì có 104 gen mã hoá PE và 68 mã hoá
PPE chiếm hơn 4% các gen của M. tuberculosis. Các protein PE và PPE đóng
một vai trò quan trọng trong quá trình nhân lên và sống sót của mycobacteria
trong các môi trường khác nhau. Họ PE được chia thành 3 phân họ, họ quan
trọng nhất chứa các trình tự đa hình giàu G-C (PGRS) và có 61 thành viên.
Các protein được mã hoá bởi các gen 104 PE được chia nhỏ hơn thành 3 lớp,
lớp thứ nhất chứa 29 protein chỉ với vùng PE, lớp thứ hai gồm 8 protein trong
đó vùng PE đi kèm với các trình tự đầu C độc lập, và lớp thứ ba gồm 67
12
protein tạo thành dưới họ PE-PGRS. PGRS (polymorphic GC-rich repetitive
sequences) là nhóm các protein có vùng PE bảo thủ và đầu C mở rộng với sự
lặp lại nhiều lần Gly-Gly-Ala hoặc Gly-Gly-Asn. Chức năng của các họ này
vẫn chưa biết rõ nhưng có một số giả thuyết cho rằng một số protein này có
liên quan đến tính đa dạng kháng nguyên của M. tuberculosis trong quá trình
lây nhiễm [29, 45, 49]. Các protein PE-PGRS đặc trưng cho M. tuberculosis
có chức năng ức chế trình diện kháng nguyên thông qua phức hệ hoà hợp tổ
chức (MHC) lớp I [45]. Một số gen PE mã hoá cho các protein chỉ chứa vùng
110 axit amin được đi kèm gần với một gen mã hoá một protein PPE. Trong
một số trường hợp, cặp PE-PPE (Rv2431c-Rv2430c) biểu hiện cùng nhau và
có thể tạo thành một phức hệ [45, 46, 50].
Trong hệ gen của H37Rv có ít gene với tỷ lệ G+C thấp (
tố điều khiển đáp ứng hai thành phần, tương ứng 0,6% tổng số. Số lượng
tương ứng trong M. tuberculosis là 125 gen được nghiên cứu cho các chức
năng vận chuyển, tương ứng 3% tổng số [50].
Trong hệ thống trao đổi chất DNA của M. tuberculosis có một hệ thống
sửa chữa DNA rất hiệu quả, bộ máy sao chép có độ chính xác cao. Hệ gen của
M. tuberculosis không có hệ thống sửa chữa bắt cặp sai dựa trên mutS nhưng
được khắc phục bởi sự có mặt của gần 45 gene liên quan đến các cơ chế sửa
chữa DNA, bao gồm 3 bản copy của gen mutT. Gen này mã hoá cho enzyme
chịu trách nhiệm loại bỏ các Guanine đã bị oxy hoá gây ra sự bắt cặp sai giữa
các cặp base trong quá trình sao chép [22, 29, 45].
14
1.2.4.2. Các trình tự chèn
• Cấu tạo:
Một trong những đặc tính được nghiên cứu kỹ lưỡng nhất của M.
tuberculosis là sự có mặt và phân bố của trình tự chèn (IS), trong đó đặc biệt
là trình tự IS6110 là một trình tự thuộc họ IS3 được sử dụng rộng rãi trong
nghiên cứu dịch tễ học phân tử vì sự thay đổi ở vị trí chèn và số lượng bản
copy trong bộ gen. Các trình tự chèn không có chức năng mã hoá mà chỉ liên
quan đến đặc tính biến đổi và di chuyển. Chúng gồm các yếu tố cis, các trình
tự DNA hoạt động ở hai đầu và enzyme Tpase, enzyme này được mã hoá
bởi một hoặc hai khung đọc mở và sử dụng hầu như toàn bộ độ dài của trình
tự chèn.
Hình 1.6. Cấu trúc của IS
- IRL - left inverted repeat: Trình tự lặp lại ngược chiều bên trái
- IRR - right inverted repeat: Trình tự lặp lại ngược chiều bên phải
- Khung đọc mở mã hoá transposase bao gồm toàn bộ độ dài của IS và trình
14bp, chèn vào chuỗi DNA tại các vị trí nhất định.
• Chức năng của IS:
Một số trình tự chèn có tác dụng hoạt hoá sự biểu hiện của các gen lân
cận, trong trường hợp di chuyển tạo nên vị trí thích hợp thì các promoter mới
có khả năng điều khiển sự biểu hiện của các gen bên cạnh.
Thông qua biểu hiện và hoạt động của Tpase như cô lập các tín hiệu khởi
đầu dịch mã, thay đổi khung dịch mã, kết thúc dịch mã, tác động đến sao mã
và độ bền của Tpase [45].
16
• Trình tự IS6110
Trình tự IS6110 (IS – Insertion Sequence) được mô tả lần đầu tiên vào
năm 1989. IS6110 có nhiều bản copy (4 đến 25 bản copy), số lượng bản
copy IS6110 có trong hệ gen thay đổi và phụ thuộc vào loài và chủng.
Genome của M. tuberculosis gồm 44.411.529 cặp base với 4000 gen, trong
đó trình tự IS6110 tồn tại rải rác nhiều nơi, nó không có chức năng mã hóa
mà chỉ liên quan tới tính biến đổi và di truyền. IS6110 là một trình tự chèn
chứa 1355 bp và thuộc về họ IS3 của các trình tự chèn. IS6110 đã được xác
định là có mặt trong các chủng M. tuberculosis, và chỉ khác nhau ở một vài
nucleotid giữa các bản copy với nhau. IS6110 có trình tự rất bảo thủ do đó
nó được chọn làm gen đích trong phản ứng multiplex PCR nhằm phát hiện
M. tuberculosis [13]. Từ lâu IS6110 đã được nghiên cứu và sử dụng rộng
rãi mặc dù trong trình tự genome của M. tuberculosis hơn 30 yếu tố lặp lại
có giá trị nhận diện [52]. Tuy nhiên một số nghiên cứu cũng chỉ ra rằng ở
một số vùng trên thế giới các chủng lao có rất ít hoặc thậm chí không có
các trình tự IS6110 [24, 32].
Hình 1.7. 6 bản copy của IS6110 trong hệ gen M. tuberculosis
tính di chuyển yếu. Số lượng bản copy cũng thấp hơn IS6110, do đó có những
hạn chế trong việc sử dụng trong nghiên cứu dịch tễ học. Nó cũng không
được sử dụng thường xuyên để phân biệt B. bovis - BCG với các thành viên
khác thuộc M. tuberculosis complex [19]. Tuy nhiên, IS1081 cũng rất hữu ích
18
cho các thao tác di truyền và phát triển các xét nghiệm chẩn đoán phát hiện vi
khuẩn lao dựa trên phản ứng PCR [21, 31]. Một nghiên cứu cho thấy khi sử
dụng trình tự IS1081 trong PCR để chẩn đoán lao đã cho kết quả về độ nhạy
đạt 84,6% [16]
1.2.4.3. Gen 23S rDNA
Các trình tự rRNA được sử dụng như một dụng cụ để xác định sự phân
kỳ trong tiến hoá, phương pháp này có nhiều ưu điểm hơn so với các phương
pháp phân loại cổ điển. Trong DNA vi khuẩn thì locus di truyền rRNA bao
gồm các vùng 16S, 23S và 5S rRNA, giữa các vùng này là vùng đệm
(internally transcribed spacer - ITS). DNA trong vùng 16S-23S có sự thay đổi
lớn về độ dài và trình tự, sự thay đổi này rất có ích cho việc phân biệt loài ở
prokaryotes. Gần đây phương pháp PCR-RFLP được sử dụng rất có hiệu quả
trong việc phân biệt các chủng ở prokaryotes [21, 36]. Gen 23S rDNA là một
trình tự có kích thước lớn, tính đa hình cao và thường xuyên hơn so với các
vùng 16S rDNA và 5S rDNA. Trong nghiên cứu gần đây chỉ có đoạn trong
vùng 5V của 23S rDNA được giải trình tự để phân tích so sánh. Trình tự 23S
rDNA ở M. tuberculosis khác với các loài đã phát hiện ở 7 vị trí, đây là các vị
trí thích hợp cho việc thiết kế các primer và probe. Vùng 5V của 23S rDNA
có thể dùng làm gen đích cho phát hiện nhanh và xác định mycobacteria ít
nhất ở mức độ loài. Sự khác nhau đáng kể giữa các loài không phải
mycobacteria và mycobacteria có ý nghĩa trong lâm sàng cho thấy giá trị tiềm
năng của vùng này trong chẩn đoán.
thành cao [27, 34].
1.3.2. Phương pháp nuôi cấy
Nuôi cấy vi khuẩn lao trước đây được coi là phương pháp tiêu chuẩn trong
chẩn đoán phát hiện trong phòng thí nghiệm. Đây là phương pháp được thực
20
hiện trong môi trường Lowenstein . Nhược điểm của nó là chậm và mất nhiều
thời gian (4-8 tuần), nhưng ngược lại nó khá đơn giản và giá thành thấp. Đã
có những phương pháp cải tiến trên môi trường nuôi cấy lỏng chẳng hạn như
phương pháp BACTEC đánh dấu phóng xạ hay hệ thống phát hiện tự động
mycobacteria MGIT (Mycobacteria Growth Indicator Tube) sử dụng huỳnh
quang và đã làm tăng được tốc độ chẩn đoán [17].
Ngoài ra còn một số phương pháp chẩn đoán khác cũng được đề cập tới
như phương pháp γ-interferon (IFN-γ) [17, 18] và phương pháp BacT/Alert
3D. Những phương pháp này đều có những ưu nhược điểm nhất định và điều
cơ bản nhất là giá thành, thời gian cũng như độ chính xác của từng phương
pháp là những vấn đề cần phải xem xét. Chính vì vậy các phương pháp này
không thường xuyên được sử dụng trong chẩn đoán phát hiện vi khuẩn lao.
1.3.3. Sinh học phân tử trong chẩn đoán lao
1.3.3.1. Kĩ thuật PCR
Kỹ thuật PCR (Polymerase Chain Reaction) được phát minh vào năm
1985 bởi nhà hóa sinh người Mỹ Kary Mullis và được hoàn thiện hơn bởi
Saiki và cộng sự. Nguyên lý của kĩ thuật này đã được Khorana và đồng
nghiệp mô tả từ trước đó. Kỹ thuật PCR cho phép khuếch đại các trình tự
DNA đặc hiệu nhờ vào các gen đích tương ứng với các DNA này và các
thành phần cần thiết của phản ứng PCR. Kỹ thuật này đã được áp dụng rộng
rãi trong rất nhiều lĩnh vực như khoa học hình sự, mô bệnh học, các chẩn
đoán trước sinh và chẩn đoán các mầm bệnh [4, 12, 13, 14, 15, 20, 28].
multiplex PCR, nhiều gen đích được khuếch đại cùng một lúc bằng nhiều cặp
mồi trong cùng một phản ứng. Kỹ thuật multiplex PCR tiết kiệm thời gian,
công sức và đóng vai trò rất quan trọng trong chẩn đoán phân tử bao gồm
phân tích đột biến gen, tính đa hình DNA, phân tích định lượng, phân tích đột
biến và phát hiện RNA. Trong lĩnh vực bệnh truyền nhiễm, kỹ thuật này rất
22
có giá trị trong chẩn đoán xác định virus, vi khuẩn, nấm và ký sinh trùng,
ngoài ra kỹ thuật này còn để phân tích các sinh vật chuyển gen, phân tích
microsatelite và xác định kiểu gen. Đặc biệt, phản ứng multiplex PCR rất hữu
ích cho việc phát hiện trực tiếp M. tuberculosis từ các mẫu lâm sàng . Với các
kết quả nghiên cứu về tính khuyết gen ở một số chủng lao trên thế giới đã
được công bố thì việc tiến hành multiplex PCR càng trở nên cần thiết.
1.3.4. Một số nghiên cứu về tỷ lệ khuyết gen của M.tuberculosis trên thế giới
Trên thế giới đã có một số tác giả nghiên cứu về hiện tượng khuyết gen
và số lượng bản copy của gen IS6110 ở M. tuberculosis. Một số nghiên cứu
tiến hành trên các chủng lao có nguồn gốc từ Châu Phi và Châu Âu cho thấy
sự hiện diện của 5 đến 15 bản copy của IS6110. Tác giả Van Soolingen và
cộng sự (1991) công bố rằng nhiều chủng ở Đông Nam Á và khoảng 30% các
chủng ở Ấn Độ chỉ chứa một bản sao của IS6110 [53]. Năm 1993 Lilly K. W.
Yeun và cộng sự khi nghiên cứu 41 chủng lao từ các bệnh nhân có gốc Việt
Nam đã thấy 5 chủng chỉ có duy nhất một bản sao của IS6110 và 4 chủng
trong số đó không chứa các trình tự IS6110 [40]. Một số chủng từ Malaysia,
Tanzania và Oman cũng có duy nhất một bản sao của IS6110 [32]. Das và
cộng sự (1993) đã công bố trong một nghiên cứu khoảng 40% các chủng từ
Madras không có hoặc chỉ có duy nhất một bản sao của IS6110 [24], Ở các
chủng lao chỉ có duy nhất một bản sao hoặc không có bản sao nào cho gen
IS6110 thì việc sử dụng trình tự gen đích này trong việc phát hiện vi khuẩn
lao sẽ không mang lại kết quả chính xác. Đến nay, ở Việt Nam chưa có một
456, thực tế đã thu thập 750 chủng vi khuẩn lao ở cả 3 miền.
24
Cách lấy mẫu: Thu thập ngẫu nhiên chủng vi khuẩn phân lập được trong
khoản thời gian thuộc giai đoạn 2007-2010 tại các điểm nghiên cứu.
2.2. VẬT LIỆU VÀ THIẾT BỊ NGHIÊN CỨU
Các hóa chất, sinh phẩm, trang thiết bị được sử dụng tại phòng thí nghiệm
Vi sinh vật và các mầm bệnh sinh học – Trung tâm nghiên cứu ứng dụng Sinh
Y Dược – Học viện Quân Y.
2.2.1. Các hóa chất và thiết bị
Các hóa chất và thiết bị chính phục vụ cho nghiên cứu được trình bày
trong bảng 2.1 và 2.2
25