Luận văn thạc sĩ huy động và sử dụng nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới tại huyện yên sơn tỉnh tuyên quang - Pdf 36

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

PHẠM VĂN TOÀN

HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG NGUỒN LựC
CHO XÂY DựNG NÔNG THÔN MỚI TẠI
HUYỆN YÊN SƠN, TỈNH TUYÊN QUANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

THÁI NGUYÊN - 2015


PHẠM VĂN TOÀN

HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG NGUỒN LỰC
CHO XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI
HUYỆN YÊN SƠN, TỈNH TUYÊN QUANG
Ngành: Phát triển nông thôn
Mã số: 60 62 01 16

LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

Người hướng dẫn khoa học: TS. BÙI ĐÌNH HÒA


3

LỜI CAM ĐOAN


gửi lời cảm ơn tới gia đình, người thân, bạn bè, đồng

nghiệp đã chia sẻ, động viên, khích lệ và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn này.
Trong quá trình làm nghiên cứu, mặc dù đã có nhiều cố gắng để hoàn thành luận văn, đã tham khảo nhiều
tài liệu và đã trao đổi, tiếp thu ý kiến của Thầy, Cô và bạn bè. Song, do điều kiện về thời gian và trình độ nghiên
cứu của bản thân còn nhiều hạn chế nên nghiên cứu khó tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy, tôi rất mong nhận
được sự quan tâm đóng góp ý kiến của Thầy Cô và các bạn để luận văn được hoàn thiện hơn.
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!


4

Thái Nguyên, ngày 6 tháng 11 năm 2015
Tác giả luận văn

Phạm Văn Toàn

Từ viết tắt

Ý nghĩa

CN

Công nghiệp

CNH - HĐH
CNXD

Công nghiệp hoá - hiện đại


Phát triển nông thôn

SXKD

Sản xuất kinh doanh

TDTT

Thể dục thể thao

TMDV
TTCN

Thương mại dịch vụ
Tiểu thủ công nghiệp

UBND

Uỷ ban nhân dân

XHCN

Xã hội chủ nghĩa

Bảng 3.15. Đánh giá việc huy động nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới


5


nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với
đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân
tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật


7

chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; theo định hướng xã hội
chủ nghĩa” nhằm giải quyết các vấn đề trên và tạo bước phát triển mới về nông thôn.
Xây dựng nông thôn mới đang là hoạt động rất quan trọng trong chương
trình mục tiêu quốc gia, sau khi triển khai thành công tại 11 xã điểm, hiện chương
trình đang được nhân rộng ra tại nhiều địa phương trong cả nước. Và huyện Yên Sơn
hiện đã có 30/30 xã đã được chọn để triển khai thực hiện mô hình xây dựng nông
thôn mới. Xác định xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ trọng tâm, UBND huyện
Yên

Sơn đã tập trung chỉ đạo các cấp, các ngành huy động mọi nguồn lực

đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn góp phần xây dựng nông thôn mới.
Quá trình triển

khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng

nông thôn mới, nhiều xã trên địa bàn huyện đã đạt được những kết quả đáng ghi
nhận. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn nhiều vấn đề phát sinh trong quá trình huy
động và sử dụng các nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới. Điều này đã làm ảnh
hưởng tới việc hoàn thành mục tiêu xây dựng nông thôn mới ở huyện Yên Sơn và
Chương trình mục tiêu quốc gia Xây dựng nông thôn mới của tỉnh Tuyên Quang.
Để hiểu rõ hơn về thực trạng huy động và sử dụng các nguồn lực cho xây
dựng nông thôn mới ở huyện Yên Sơn đã được triển khai như thế nào? Các nguồn


Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường huy động và sử dụng hợp
lý nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới tại huyện Yên Sơn, tỉnh
Tuyên

Quang thời gian tới.


Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1.

Cơ sở lý luận

1.1.1.

Một số khái niệm, thuật ngữ

1.1.1.1.

Khái niệm nông thôn và nông thôn mới

-

Nông thôn là khái niệm dùng để chỉ một địa bàn mà ở đó sản xuất nông nghiệp
chiếm tỷ trọng lớn, nông thôn có thể được xem xét trên nhiều góc độ kinh tế,
chính trị, văn hóa...nông thôn không đơn thuần là khu vực xã hội và cũng là
khu vực kinh tế, kinh tế nông nghiệp trong địa bàn nông thôn ngoài nông
nghiệp cũng có công nghiệp dịch vụ thường gọi là các hoạt động phi nông
nghiệp. Việc phát triển kinh tế nông thôn, từng bước xây dựng nông thôn mới

-

Theo quan điểm hệ thống, “Nguồn lực là tất cả những yếu tố và phương tiện mà
hệ thống có quyền chi phối, điều khiển, sử dụng để thực hiện mục tiêu của
mình. Đối với hệ thống kinh tế - xã hội, có thể chia nguồn lực ra các bộ phận
khác nhau như: nguồn nhân lực, nguồn tài lực, nguồn vật lực và nguồn thông
tin”.

-

Những

thứ được coi là nguồn lực phải là những thứ được sử dụng hoặc có

khả năng sử dụng trong thời kỳ dự kiến phát triển. Tiềm năng chưa đưa được vào sử
dụng hoặc chưa có khả năng đưa vào sử dụng thì chưa được xem xét là nguồn lực.
Có khá nhiều định nghĩa khác nhau về “nguồn nhân lực”:
-

Nguồn

nhân lực là nguồn lực con người của những tổ chức (với quy mô,

loại hình, chức năng khác nhau) có khả năng và tiềm năng tham gia vào quá trình phát
triển của tổ chức cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, khu vực, thế
giới. Cách hiểu này về nguồn nhân lực xuất phát từ quan niệm coi nguồn lực với các
yếu tố vật chất, tinh thần tạo nên năng lực, sức mạnh phục vụ cho sự phát triển nói
chung của tổ chức;
-


cho

sự

sáng

thành công,

tạo cùng các

nội

dung khác

đạt được

mục tiêu của tổ chức.
Tuy có những định nghĩa khác nhau tùy theo giác độ tiếp cận nghiên cứu


nhưng điểm chung mà ta có thể dễ dàng nhận thấy qua các định nghĩa trên vê nguồn
nhân lực là:
-

Số lượng nhân lực: Nói đến nguồn nhân lực của bất kỳ một tổ chức, một địa
phương hay một quốc gia nào câu hỏi đầu tiên đặt ra là có bao nhiêu người và
sẽ có thêm bao nhiêu người nữa trong tương lai. Đây là những câu hỏi cho việc
xác định số lượng nguồn nhân lực. Sự phát triển về số lượng nguồn nhân lực
dựa trên hai nhóm yếu tố bên trong (ví dụ: nhu cầu thực tế công việc đòi hỏi
phải tăng số lượng lao động) và những yếu tố bên ngoài của tổ chức như sự gia


Nông thôn mới và yêu cầu nguồn lực cho nông thôn mới

1.1.2.1.

Giới thiệu nội dung và mục tiêu chương trình xây dựng nông thôn mới

Xây dựng

nông thôn mới thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia, là một


chương trình tổng thể về phát triển kinh tế - xã hội, chính trị và an ninh quốc phòng,
bao gồm 11 nội dung [11].
(1) Quy hoạch xây dựng nông thôn mới
*

Mục tiêu: đạt yêu cầu tiêu chí số 01 của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới.
Đến năm 2011, cơ bản phủ kín quy hoạch xây dựng nông thôn trên địa bàn cả
nước làm cơ sở đầu tư xây dựng nông thôn mới, làm cơ sở để thực hiện mục
tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020.

* Nội dung:
-

Quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu cho phát triển sản xuất nông
nghiệp hàng hoá, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ;

-



Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ việc chuẩn hoá về y tế trên địa bàn
xã. Đến 2015 có 50% số xã đạt chuẩn và đến 2020 có 75% số xã đạt chuẩn;

-

Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ việc chuẩn hoá về giáo dục trên địa


bàn xã. Đến 2015 có 45% số xã đạt tiêu chí và năm 2020 có 75% số xã đạt
chuẩn;
-

Hoàn chỉnh trụ sở xã và các công trình phụ trợ. Đến 2015 có 65% số xã đạt tiêu
chí và năm 2020 có 85% số xã đạt chuẩn;

-

Cải tạo, xây mới hệ thống thủy lợi trên địa bàn xã. Đến 2015 có 45% số xã đạt
chuẩn (có 50% kênh cấp 3 trở lên được kiên cố hoá). Đến 2020 có 77% số xã
đạt chuẩn (cơ bản cứng hoá hệ thống kênh mương nội đồng theo quy hoạch).

(3) Chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập
* Mục tiêu: đạt yêu cầu tiêu chí số 10, 12 trong Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn
mới. Đến năm 2015 có 20% số xã đạt, đến 2020 có 50% số xã đạt
* Nội dung:
-

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hướng phát triển
sản xuất hàng hoá, có hiệu quả kinh tế cao;

Thực hiện có hiệu quả Chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững cho 62
huyện có tỷ lệ hộ nghèo cao (Nghị quyết 30 a của Chính phủ) theo Bộ tiêu chí
quốc gia về nông thôn mới;

-

Tiếp tục triển khai Chương trình MTQG về giảm nghèo;

-

Thực hiện các chương trình an sinh xã hội.


(5) Đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả ở nông thôn
*

Mục tiêu: đạt yêu cầu tiêu chí số 13 của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới.
Đến 2015 có 65% số xã đạt chuẩn và đến 2020 có 75% số xã đạt chuẩn.

* Nội dung:
-

Phát triển kinh tế hộ, trang trại, hợp tác xã;

-

Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn;

-



Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia NTM về văn hoá, đáp ứng
yêu cầu Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới;

-

Thực hiện thông tin và truyền thông nông thôn, đáp ứng yêu cầu Bộ tiêu chí
quốc gia nông thôn mới.

(9) Cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn


*

Mục tiêu: đạt yêu cầu tiêu chí số 17 trong Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới;
đảm bảo cung cấp đủ nước sinh hoạt sạch và hợp vệ sinh cho dân cư, trường
học, trạm y tế, công sở và các khu dịch vụ công cộng; thực hiện các yêu cầu về
bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái trên địa bàn xã. Đến 2015 có 35% số
xã đạt chuẩn và đến 2020 có 80% số xã đạt chuẩn.

* Nội dung:
-

Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia về nước sạch và vệ sinh
môi trường nông thôn;

-

Xây dựng các công trình bảo vệ môi trường nông thôn trên địa bàn xã, thôn
theo quy hoạch, gồm: xây dựng, cải tạo nâng cấp hệ thống tiêu thoát nước trong


(11)

Giữ vững an ninh, trật tự xã hội nông thôn

* Mục tiêu: Đạt yêu cầu tiêu chí số 19 của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới.
Đến 2015 có 85% số xã đạt chuẩn và năm 2020 là 95% số xã đạt chuẩn.
* Nội dung:
-

Ban hành nội quy, quy ước làng xóm về trật tự, an ninh; phòng chống các tệ
nạn xã hội và các hủ tục lạc hậu;


-

Điều chỉnh và bổ sung chức năng, nhiệm vụ và chính sách tạo điều kiện cho
lượng lực lượng an ninh xã, thôn, xóm hoàn thành nhiệm vụ đảm bảo an ninh,
trật tự xã hội trên địa bàn theo yêu cầu xây dựng nông thôn mới.

1.1.2.2.

Đặc điểm và yêu cầu nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới

a. Phân loại nguồn lực
Các nguồn lực được xem xét ở nhiều góc độ. Có nghĩa là dưới nhiều góc độ,
người ta chia các nguồn lực thành các loại khác nhau để có thái độ đúng đắn và có
cách ứng xử với chúng thích hợp. Với cách nhận thức như thế và trên quan điểm thiết
thực, việc phân chia các nguồn lực được tiến hành. Cụ thể:
b. Căn cứ vào nguồn gốc

trong đó, nguồn nhân lực được hiểu là nguồn lực từ con người như sức mạnh, trí óc.
nguồn vật lực được hiểu là các nguồn lực từ tiền bạc, vật chất. khi con người làm nên
tất cả và quyết định tất cả nên nguồn lực con người được gọi là nguồn lực của mọi
nguồn lực.
Nguồn vật lực là những phần đất dành cho xây dựng nông thôn mới như xây
dựng đường giao thông nông thôn. Đó có thể là những hỗ trợ về vật chất trang thiết bị
cho văn phòng UBND các xã, các thiết bị hay phương tiện phục vụ sự phát triển nông


thôn ở các xã.
d. Nguồn nhân lực
Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về nguồn nhân lực.
-

Theo Liên

Hợp Quốc thì “Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ

năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát
triển của mỗi cá nhân và của đất nước”.
-

Ngân hàng thế giới cho rằng: nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người bao
gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp... của mỗi cá nhân. Như vậy, ở đây
nguồn lực con người được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật
chất khác: vốn tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên.

-

Theo tổ chức lao động quốc tế thì:

không phải là nguồn lao động, đó là: Những người không có việc làm nhưng
không tích cực tìm kiếm việc làm, tức là những người không có nhu cầu tìm
việc làm, những người trong độ tuổi lao động quy định nhưng đang đi học.
Từ những quan niệm trên, tiếp cận dưới góc độ của Kinh tế Chính trị có thể
hiểu: nguồn nhân lực là tổng hoà thể lực và trí lực tồn tại trong toàn bộ lực lượng lao
động xã hội của một quốc gia, trong đó kết tinh truyền thống và kinh nghiệm lao động
sáng tạo của một dân tộc trong lịch sử được vận dụng để sản xuất ra của cải vật chất
và tinh thần phục vụ cho nhu cầu hiện tại và tương lai của đất nước.
e. Nguồn lực tài chính
Nguồn tài lực là toàn bộ quá trình huy động và sử dụng vốn được thể hiện dưới
hình thức giá trị. Mọi hoạt động đều cần phải có một nguồn lực tài chính nhất định để
thực hiện các mục tiêu của hoạt động đó.
f. Nguồn lực vật chất
Nguồn lực vật chất gồm có tài nguyên thiên nhiên (tài nguyên đất đai, tài
nguyên rừng, tài nguyên biển, tài nguyên thủy điện, tài nguyên nước, tài nguyên khí
hậu, vị trí địa lý kinh tế...) và cơ sở vật chất kỹ thuật đã tạo dựng (nhà cửa, công trình
công cộng, đường sá, hệ thống cung cấp và thoát nước, hệ thống viễn thông và truyền
thông, hệ thống xử lý chất thải...).
Đối với một quốc gia, nguồn lực là tổng thể vị trí, các nguồn tài nguyên thiên
nhiên, hệ thống tài sản quốc gia, nguồn nhân lực, đường lối chính sách, vốn, thị
trường... ở cả trong nước và ngoài nước có thể được khai thác nhằm phục vụ cho việc
phát triển kinh tế của một lãnh thổ nhất định.
1.1.3. Đặc điểm và yêu cầu nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới
1.1.3.1.

Các loại nguồn lực cần thiết cho xây dựng nông thôn mới

Nguồn lực có vai trò vô cùng quan trọng trong thực hiện chương trình xây
dựng nông thôn mới. Hiểu và đánh giá đúng, phát huy tối đa các nguồn lực sẽ góp
phần thúc đẩy quá trình thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới ở các địa


Phần lớn nguồn lực còn lại phải do huy động từ các nguồn khác:
+ Nguồn nhân lực được huy động từ sức lao động của người dân.
+ Nguồn lực đất đai trong quá trình huy động có thể gặp khó khăn do quỹ đất ở

nông thôn còn ít, giá trị cao, ít có thể huy động được.
+ Nguồn

tài lực cũng là một trong những nguồn lực khó huy động do thu

nhập của người dân nông thôn còn thấp.
1.1.4.

Huy động nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới

1.1.4.1.

Khái niệm huy động nguồn lực

Huy động nguồn lực là quá trình xác định các mục tiêu và lựa chọn các
phương thức để đạt được mục tiêu về huy động nguồn lực.
Huy động nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới là quá trình huy động các
yếu tố cần thiết dựa trên mục tiêu để phục vụ cho chương trình xây dựng nông thôn
mới
1.1.4.2.

Nguyên tắc huy động nguồn lực cho nông thôn mới [8]

a. Huy động nguồn lực của địa phương
-


Huy động nguồn nhân lực: trong xây dựng nông thôn mới, nguồn nhân lực chủ
yếu được huy đông bằng việc đóng góp sức lao động của người dân thông qua
các tổ chức đoàn thể ở địa phương như Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Đoàn
Thanh niên...

-

Huy động nguồn vật lực trong xây dựng nông thôn mới chủ yếu là những đóng
góp về đất đai, nguồn lực này được huy động trực tiếp từ nông dân thông qua
các hình thức tuyên truyền phổ biến nâng cao nhận thức của người dân về vai
trò của xây dựng nông thôn mới, về những giá trị đóng góp của người dân trong
xây dựng các công trình giao thông nông thôn, giao thông nội đồng và các công


trình mở rộng kênh mương nội đồng.
-

Huy động nguồn lực tài chính: một phần tài chính cho xây dựng nông thôn mới
được Nhà nước phân bổ, phần còn lại được huy động từ sức dân, từ sự đầu tư
vốn của các doanh nghiệp và vốn từ các chương trình, dự án lồng ghép đang
đầu tư cho nông nghiệp, nông dân và nông thôn.

1.14.4.

Các nguồn huy động được [8].

Các nguồn lực huy động được cho xây dựng nông thôn mới gồm có: nguồn
nhân lực được huy động từ sức dân thông qua việc đóng góp ngày công lao động để
thực hiện các công trình công ích trong xây dựng nông thôn mới như xây dựng nhà


-

Sử dụng nguồn lực hợp lý.

-

Sử dụng nguồn lực một cách hiệu quả và tiết kiệm.

a. Nguyên tắc sử dụng nguồn nhân lực: sử dụng đầy đủ và hợp lý
Nguồn lực lao động là lực lượng sản xuất quan trọng nhất của xã hội. Việc
sử dụng hợp lý và hiệu quả nguồn nhân lực cho xây dựng nông thôn mới có ý nghĩa
rất to lớn trong công cuộc xây dựng nông thôn mới cũng như đối với sự phát triển của
toàn bộ nền kinh tế - xã hội trong nông thôn.
Nguồn nhân lực trong nông thôn là tổng thể sức lao động tham gia vào hoạt
động sản xuất nông nghiệp, bao gồm số lượng và chất lượng của người lao động. Về
số lượng bao gồm những người trong độ tuổi lao động và những người trên và dưới độ
tuổi lao động tham gia hoạt động sản xuất nông nghiệp. Về chất lượng bao gồm thể
lực và trí lực của người lao động, gồm: trình độ sức khoẻ, trình độ nhận thức, trình độ
văn hoá, trình độ chính trị, nghiệp vụ và tay nghề của người lao động.
Để sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực trong nông nghiệp nói chung và trong
xây dựng nông thôn mới nói riêng cần khai thác và sử dụng có hiệu quả tiềm năng các
nguồn lực trong nông nghiệp, phát triển mạnh mẽ nền nông nghiệp hàng hoá nhiều
thành phần, đẩy mạnh việc áp dụng tiến bộ khoa học - công nghệ vào
nông nghiệp thông qua các chương trình, dự án sản xuất trong quá trình thực hiện xây
dựng nông thôn mới; gắn chặt chẽ sử dụng lao động với việc giải quyết việc làm của
người lao động tại chỗ. Thông qua các chính sách của Nhà nước và cơ chế quản lý để
tạo thêm việc làm và khuyến khích người lao động trong nông thôn tự tạo việc làm
cho mình, nâng cao năng suất lao động và nâng cao mức sống của người lao động.
Phân bổ nguồn nhân lực một cách hợp lý giữa các hoạt động trong xây dựng

việc chuyển đất nông nghiệp sang mục đích sử dụng khác.
Đẩy mạnh công tác chuyển đổi đất đai nhằm khắc phục tình trạng phân tán
manh mún trong sử dụng đất. Thúc đẩy quá trình tập trung ruộng đất trong sản xuất
nông nghiệp, khuyến khích thực hiện phương thức “ai giỏi nghề gì làm nghề đó”.
Khuyến khích những người có khả năng và nguyện vọng (có vốn, kiến thức và kinh
nghiệm sản xuất, có ý chí làm giàu) kinh doanh nông nghiệp, phát triển kinh tế trang
trại.
c. Nguyên tắc sử dụng nguồn lực tài chính: sử dụng tiết kiệm và hiệu quả
Trong xây dựng nông thôn mới, Nhà nước đã đầu tư cho các địa phương có
chương trình xây dựng nông thôn mới một lượng vốn rất lớn; ngoài ra hàng năm,


lượng vốn đầu tư xây dựng cơ bản cho nông nghiệp, nông thôn cũng đã chiếm một tỷ
lệ

đáng kể trong toàn bộ nền kinh tế. Vì thế, việc sử dụng nguồn lực tài chính

trong xây dựng nông thôn mới một cách tiết kiệm, hiệu quả là điều kiện chủ yếu để
nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực tài chính.
Để thực hiện được điều trên, trước hết phải xác định đúng đắn phương hướng
đầu tư tài chính cho từng nội dung, chương trình, hạng mục trong xây dựng nông thôn
mới. Điều này phải xuất phát từ phương hướng bố trí, cơ cấu của từng hoạt động cần
đầu tư tài chính trong xây dựng nông thôn mới ở mỗi địa phương sao cho phù hợp,
trên cơ sở đó lựa chọn phương án đầu tư tài chính tối ưu. Nguồn lực tài chính đầu tư
cho xây dựng nông thôn mới cần tập trung giải quyết những nhiệm vụ to lớn trong
nông nghiệp, nông thôn ở mỗi địa phương, và trong từng giai đoạn cần tập trung vào
cây gì, con gì và ở vùng nào là cần được tính toán và lựa chọn một cách đúng đắn.
Trong sử dụng nguồn lực tài chính cho xây dựng nông thôn mới cần phải giải
quyết tối mối quan hệ giữa khôi phục, cải tạo và xây dựng mới một cách hài hoà và có
hiệu quả. Đầu tư tài chính cho các công trình, hạng mục trong xây dựng nông thôn

quả của việc huy động các nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới.
1.16.2.

Sự tham gia của cộng đồng trong huy động các nguồn lực

Ý thức cộng đồng tại các địa phương được thể hiện bằng việc tự nguyện
tham gia vào các hoạt động tập thể của cộng đồng. Khái niệm ý thức cộng đồng có
tính lý thuyết hơn, dựa vào quyền lợi của những thành viên và các nhà nghiên cứu
(Gardner và Stern, 1996; Zanetell, 2000) trong tương quan giữa ý thức cộng đồng với
mức độ tham gia của người dân địa phương trong quản lý phát triển. Cộng đồng là
khái niệm có 2 khía cạnh tự nhiên và tinh thần mà các thành viên cộng đồng đã từng
trải. Khái niệm các hoạt động phát triển ở nông thôn dựa vào lãnh thổ, hoặc dưới tên
gọi khác là các hoạt động phát triển ở nông thôn dựa vào cộng đồng, dẫn tới việc phân
cấp các hoạt động phát triển ở cấp địa phương.
Cộng đồng cũng thể hiện những kinh nghiệm được chia sẻ kết nối cuộc sống
của người dân trong cùng một không gian. Điều này dẫn tới tình cảm và sự gắn kết về
tinh thần. Ý thức của từng cá thể cộng đồng ảnh hưởng tới việc tự nguyện tham gia
vào các hoạt động để trợ giúp và hoàn thiện cộng đồng (McMillan,1996; St. Anne,
1999). Ý thức cộng đồng được hình thành qua lịch sử cộng đồng. Nó bao gồm sự tự
nguyện ở lại cộng đồng, thăm hỏi lẫn nhau, có cùng cảm xúc với các thành viên cộng
đồng, tranh thủ hoặc trao đổi tình cảm với nhau,... (Zanetell và Knuth, 2004;
Buckners, 1988).
1.1.63. Yếu tố kinh tế địa phương
Điều kiện kinh tế địa phương cũng ảnh hưởng tới mức độ huy động các



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status