ĐẠI HỌC THÁI
NGUYÊN ^
TRƯỜNG ĐẠI HỌC
NÔNG LÂM
----------------------------------------
MA THANH THUYẾT
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM TÁI SINH Tự NHIÊN CỦA
THỰC VẬT THÂN GỖ Ở CÁC KIỂU RỪNG TRÊN NÚI
ĐÁ TẠI KHU BẢO TỒN LOÀI VÀ SINH CẢNH NAM
XUÂN LẠC, HUYỆN CHỢ ĐỒN, TỈNH BẮC KẠN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hê đào tao
••
Chuyên ngành
Khoa
Khóa học
: Chính quy :
Lâm Nghiệp :
Lâm Nghiêp :
2011 - 2015
THÁI NGUYÊN, NĂM 2015
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN ^
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
học và cũng là cơ hội để sinh viên thử sức với công việc, va chạm với những tình huống
không có trong sách vở, bớt đi sợ bỡ ngỡ khi ra trường.
Được sự giới thiệu của Ban giám hiệu, Bạn chủ nhiệm khoa Lâm Nghiệp, trường Đại
học Nông Lâm Thái Nguyên, tôi đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên
của thực vật thân gỗ ở các kiểu rừng trên núi đá tại khu Bảo tồn loài sinh cảnh Nam Xuân Lạc
huyện chợ đồn, tỉnh Bắc Kạn”.
Có được kết quả như hôm nay tôi xin trân thành cảm ơn thầy giáo Th.s Nguyễn Văn
Mạn và cô giáo Th.s Phạm Thu Hà là người đã tận tình giúp đỡ, dẫn dắt tôi suốt thời gian thực
tập và viết khóa luân tốt nghiệp.
Tôi xin cảm ơn sâu sắc các bác, các cô, các chú và các anh chi hiện đang công tác tại
Khu Bảo tồn loài sinh cảnh Nam Xuân Lạc đã giúp đỡ tôi hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao
và cung cấp đầy đủ các số liệu cần thiết phục vụ cho quá trình nghiên cứu đề tài.
Cảm ơn gia đình, bạn bè và người thân đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian
thực tập và trong quá trình hoàn thành khóa luận tốt nghiệp.
Trong quá trình
thực hiện khóa luận tốt nghiệp tôi đã cố gắng hết
mình,
nhưng do kinh nghiệm và kiến thức còn hạn chế nên chắc chắn không tránh khỏi những sai sót
và khiếm khuyết. Tôi rất mong được sự tham gia đóng góp ý kiến từ phía các thầy, cô giáo và
các bạn sinh viên để khóa luận của tôi được hoàn thiện hơn nữa.
Tôi xin trân thành cảm ơn !
Thái Nguyên, ngày 25 tháng 5 năm 2015
Sinh Viên
Ma Thanh Thuyết
Tên viết tắt
Tên đầy đủ
KBT
Khu bảo tồn
TSR
KBTL&SCNXL
Tái sinh rừng
Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc
IVI%
Ni
Chỉ số sinh thái cây tái sinh
Số loài cây cá thể thứ i
ÔTC
Ô tiêu chuẩn
ÔDB
Ô dạng bản
STT
41
41
42
43
43
45
46
7
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Rừng là tài nguyên vô cùng quý giá, vốn được mệnh danh là “lá phổi” của trái đất, là
một bộ phận quan trọng của môi trường sống, luôn gắn liền với đời sống của đồng bào các dân
tộc miền núi. Rừng không chỉ có giá trị về kinh tế mà còn có ý nghĩa rất lớn trong nghiên cứu
khoa học, bảo tồn nguồn gen, bảo tồn đa dạng sinh học, điều hoà khí hậu, phòng hộ đầu
nguồn, hạn chế thiên tai, ngăn chặn sự hoang mạc hoá, chống sói mòn, sạt lở đất, ngăn ngừa lũ
lụt, đảm bảo an ninh quốc phòng, đồng thời rừng cũng tạo cảnh quan phục vụ cho du lịch sinh
thái, du lịch cộng đồng.
Khoa học ngày nay đã chứng tỏ các biện pháp bảo vệ, sử dụng và tái tạo lại rừng chỉ có
thể giải quyết thỏa đáng khi có một sự hiểu biết đầy đủ về bản chất các quy luật sống của rừng
tương ứng với những điều kiện tự nhiên môi trường khác nhau. Tái sinh rừng là một quá trình
sinh học mang tính đặc thù của hệ sinh thái. Nó đảm bảo cho nguồn tài nguyên rừng có khả
năng tái sản xuất mở rộng, nếu chúng ta nắm được các quy
điều khiển
được quy
rừng ở Khu bảo tồn này còn khá nguyên vẹn, nhiều nơi chưa bị tác động bởi con người, còn
lưu giữ nhiều loài động động vật quý hiến đang có nguy cơ bị tuyệt chủng ở Việt Nam và trên
thế giới như Voọc đen má trắng, Voọc mũi hếch, Vạc Hoa và các loài thực vật quý hiếm như
Trai, Nghiến, Đinh, Lan Hài và Thông (Báo cáo đánh giá kết quả hoạt động của Khu bảo tồn
loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn,2011).
Nằm trong hệ thống rừng đặc dụng của Việt Nam, KBTL&SCNXL là một đơn vị địa lý
sinh vật vô cùng đa dạng đối với việc bảo vệ môi trường. Nhưng trên thực tế nơi đây đang
chịu tác động bởi sức ép về dân số. Chính vì vậy, công tác bảo tồn tính đa dạng sinh học, bảo
vệ nguồn gen quý cũng như các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác tại Khu bảo tồn đã được
tỉnh Bắc Kạn rất quan tâm. Từ khi thành lập, KBTL&SCNXL đã có một số cuộc điều tra,
đánh giá tài nguyên rừng, bước đầu cũng đã đánh giá được giá trị, tiềm năng và ý nghĩa của
một khu bảo tồn. Nhưng một số nội dung quan
một cách có
trọngchưa được
hệ thống, đó
là
thực
hiện
đánh
giá đặc điểm cây tái sinh phân loại một cách chính xác, yếu tố địa lý cấu thành hệ thực vật,
công dụng và mức độ nguy cấp của các loài quý hiếm để từ đó đưa ra các biện pháp bảo tồn
thích hợp. Để góp phần đánh giá tính đa dạng thực vật trên vùng núi đá tại KBTL&SCNXL,
làm cơ sở cho công tác bảo tồn và sử dụng hợp lý tài nguyên sinh vật tại đây, chúng tôi chọn
ta biết được khả năng sinh trưởng phát triển, khả năng thích nghi
sinh tồn của sinh vật tại nơi đây, cũng như thấy được sự tác động
tích cực và tiêu cực của thiên nhiên và con người lên hệ sinh thái
trên núi đá. Từ đó, giúp ta xác định được các biện pháp phù hợp tác
động vào nhằm bảo tồn, phát triển các hệ sinh thái. Khai thác, sử
dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên một cách hiệu quả và bền
vững.
PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học
2.1.1.
Cơ sở sinh thái của cấu trúc rừng
Cấu trúc rừng là một khái niệm dùng để chỉ quy luật sắp xếp tổ hợp của các thành
phần cấu tạo nên quần xã thực vật rừng theo không gian và thời gian. Cấu trúc là một trong
những nội dung nghiên cứu quan trọng về hình thái quần thể thực vật. Tuy nhiên, khái niệm về
cấu trúc không chỉ bao gồm những nhân tố cấu trúc về hình thái mà cả những nhân tố cấu trúc
về sinh thái. Giữa cấu trúc và sinh thái rừng có mỗi quan hệ chặt chẽ với nhau. Bất kỳ một quy
luật cấu trúc quần thể nào cũng đều có
bên trong
nội
dung sinh thái
của nó. Không quán
tự phục
hồi
hồi”
chính là điều
hoặc tác
động để rừng phục hồi theo những quy luật diễn thế tự nhiên là một quá trình. Bảo vệ, quản lý
cho quá trình đó liên tục, không bị dứt quãng là điều kiện. Đây chính là nội dung cơ bản trong
kỹ thuật phục hồi rừng bằng khoanh nuôi [8].
2.1.3.
Một số khái niệm
- Tái sinh rừng
Quá trình sinh
học mạng tính đặc thù của hệ sinh thái
rừng, biểu hiện ở sự
suất hiện của một thế hệ cây con của những loài cây gỗ dưới tán rừng. TSR là quá trình phục
hồi thành phần cơ bản của rừng, chủ yếu là tầng cây gỗ. Theo nghĩa rộng TSR là sự tái tạo một
hệ sinh thái rừng mới đảm bảo cho rừng tồn tại và phát triển. Có hai phương thức TSR, tái sinh
tự nhiên ( rừng phát triển không có sự can thiệp của con
- Phục hồi rừng
Võ Đại Hải và cộng sự thì phục hồi rừng trước hết là phục hồi lại thành phần chủ yếu
của rừng là thảm thực vật cây gỗ sẽ tạo điều kiện cho
sự xuất hiện các
thành phần cây khác của rừng như tầng cây bụi, tầng cỏ khuyết, khu hệ động vật, vi sinh vật...
và các yếu tố khác của rừng như chế độ nhiệt, chế độ ẩm... Vì vậy khái niệm phục hồi rừng sẽ
có ý nghĩa rộng lớn là phục hồi lại cả quần lạc sinh vật hay một hệ sinh thái rừng hoàn chỉnh.
Trong thực tế quá trình phục hồi rừng được đánh giá bằng sự xuất hiện và chất lượng của thế
hệ mới các cây gỗ [4].
Phục hồi rừng là một quá trình sinh học gồm nhiều giai đoạn và kết thúc bằng sự xuất
hiện một thế hệ mới thảm cây gỗ bắt đầu khép tán. Quá trình phục hồi sẽ tạo điều kiện cho sự
cân bằng sinh học liên tục và cũng vì thế mà chúng ta có thể sử dụng chúng liên tục được. [4].
2.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.1.
Tình hình nghiên cứu trên thế giới
2.2.1.1.
Nghiên cứu cấu trúc rừng
Trên thế giới việc nghiên cứu cấu trúc rừng đã được tiến hành từ lâu nhằm xác định cơ
sở khoa học cho việc đề xuất các biện pháp kỹ thuật tác động vào rừng, góp phần nâng cao
hiệu quả kinh tế và môi trường của rừng. Các công trình của các tác giả Richards, Baru,
Catinot, Odum, Van Stennis v.v.. được coi là những nền tảng cho những nghiên cứu về cấu
rõ. [8]
Xanniknow, (1967) Vipper, (1973) dẫn theo Nguyễn Văn Thêm, (1992), trong nghiên
cứu tái sinh rừng, người ta nhận thấy rằng cỏ và tầng cây bụi qua quá trình sinh trưởng thu
nhận ánh sáng, các chất dinh dưỡng sẽ làm ảnh hưởng đến cây tái sinh. Những
phần
thưa, rừng đã bị khai thác nhiều,
lâm
tạo ra nhiều
khoảng
chống lớn, tao điều kiện cho cây bụi thảm tươi phát triển mạnh. Trong điều kiện đó, chúng sẽ
là nhân tố cản trở sự phát triển và khả năng sinh tồn của cây tái sinh. Nếu lâm phần kín, đất
khô, nghèo dinh dưỡng cây bụi thảm tươi phát triển chậm tạo điều kiện cho cây tái sinh vươn
lên.[10]
Tóm lại, nghiên cứu về tái sinh rừng trên thế giới cho chúng ta hiểu biết về phương
pháp nghiên cứu và quy luật tái sinh tự nhiên của một số vùng, đặc biệt là sự vận dụng hiểu
biết về quy luật tái sinh để xây dựng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh hợp lý nhằm quản lý rừng
bền vững.
2.2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước
2.2.2.I.
Nghiên cứu cấu trúc rừng
rừng ổn định lâu dài.
2.2.2.
2. Nghiên cứu tái sinh rừng
Vấn
đề tái sinh ở nước
ta chưa
được nghiên cứu nhiều. Một số kết quả
nghiên cứu về tái sinh thường được đề cập trong các công trình nghiên cứu về thảm thực vật,
các báo cáo khoa học và một phần được công bố trên các tạp chí.
Tái sinh rừng tự nhiên nhiệt đới là một vấn đề rất đa dạng và phong phú. Quá trình này
bị chi phối bởi nhiều yếu tố như vị trí địa lý, biện pháp tác động đến tầng cây cao, nguồn ngốc
hình thành rừng... Chính vì thế cho dù quy trình tái sinh có quy luật nhất định, vốn có tồn tại
khách quan, nhưng do các tác động trên làm cho chúng trở nên phức tạp. Tái sinh là vấn đề
quan trọng, quyết định đến bảo vệ và phát triển rừng bền vững, vì thế nghiên cứu quá trình tái
sinh là một việc làm không thể thiếu trong các nghiên cứu về cấu trúc tự nhiên.
Nguyễn Duy Chuyên (1988) khi nghiên cứu quy luật phân bố tái sinh tự nhiên rừng lá
rộng thường xanh hỗn loại vùng Quỳ Châu Nghệ An, đã khái quát đặc điểm phân bố của nhiều
loài cây có giá trị kinh doanh và biểu diễn bằng các hàm lý thuyết,
làm
cơ
sở định
giả
nghiên cứu cũng chuyển dần từ định
tính sang định lượng, từ nghiên cứu lý thuyết sang nghiên cứu thực tiễn.
2.3. Tổng quan về điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu
2.3.1.
2.3.1.
Điều kiện tự nhiên
!. Vị chí địa lý khu vực nghiên cứu
Khu Bảo tồn Loài và Sinh cảnh Nam Xuân Lạc được UBND tỉnh Bắc Kạn phê duyệt
tại Quyết định số 342/QĐ-UB ngày 17/3/2004 với tổng diện tích tự nhiên là 1.788 ha nằm trên
địa phận hai thôn Nà Dạ và Bản Khang thuộc xã Xuân Lạc, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn,
cách trung tâm thị trấn Bằng Lũng, huyện Chợ Đồn 35 km. Nằm giữa Khu bảo tồn thiên nhiên
Na Hang (tỉnh Tuyên Quang) và Vườn Quốc gia Ba Bể (tỉnh Bắc Kạn).
KBT Nam Xuân Lạc nằm trong tọa độ địa lý: Từ 22 0 17’- 22 019’ đến 120 45' - 130 10'
vĩ độ Bắc. Từ 105°28’-105°33’ kinh độ Đông
BẢN ĐỔ HIỆN TRẠNG KHU BẢO TổN LOÀI VẢ SINH CÀNH NAM XUÂN LẠC
Hình 2.1. Bản đồ hiện trạng KBTL&SCNXL
Về ranh giới hành chính:
-
Phía Bắc giáp thôn Bản Eng, Bản Tưn xã Xuân Lạc, huyện Chợ Đồn, tỉnh B ắc Kạn
dốc lớn từ 25 ^
300, có nơi đến 450, tài
nguyên rừng khu vực này nhìn chung là ít bị tác động bởi người dân địa phương.
-
Vùng núi đất: Nằm tập trung ở các thung lũng giữa các đỉnh núi cao, độ cao trung bình
từ 400 ^ 600 m, vùng này có tiềm năng để phát triển nông - lâm nghiệp.
2.3.1.3.
Đặc điểm địa chất và thổ nhưỡng
Địa chất có nguồn gốc trầm tích với các sản phẩm chủ yếu là kết von cùng với đá vôi
khó phong hoá. Khu vực này còn tiếp giáp với khu quặng (Chì và Kẽm) hiện đang được khai
thác.
Trong khu vực gồm có hai nhóm đất chính sau:
-
Đất thung lũng dốc tụ: hình thành ở các thung lũng thấp giữa các dãy núi, hứng các
sản phẩm xói mòn rửa trôi từ trên xuống, đất tốt tầng đất dày.
-
Đất
nâu đỏ trên núi
đá vôi: tầng đất dày tơi xốp, đất có hàm lượng dinh
-
Gió: Hướng gió thịnh hành vào mùa hạ là hướng Đông - Nam, về mùa đông là hướng
Đông - Bắc. Tốc độ gió trung bình đạt 1m/s, song vào những lúc có dông, bão tốc độ
gió có thể đạt 27-28 m/s.
-
Độ ẩm không khí: Dao động khoảng 75 - 82%, cao nhất là 88% tập trung vào tháng 7
trong năm.
-
Sương muối: Thường xuất hiện từ tháng 10 đến tháng 1 năm sau nhưng mức độ
không cao, ít gây ảnh hưởng đến sản xuất nông - lâm nghiệp.
2.3.1.5.
Đặc điểm thủy văn
Trong khu
vực có 1 con
suối chính bắt nguồn từ xã Sơn Phú, huyện
Na
tập trung thành bản
Định canh định cư
của
chính phủ. Mỗi dân tộc có đặc trưng văn hóa riêng và và có nhiều điểm tương đồng nên các
sinh hoạt văn hóa ở vùng đệm khá phong phú.
Bảng 2.1. Dân số, dân tộc và tình trạng đói nghèo ở các xã xung quanh KBT
Dân số
T
T
V
Xã
Số
thôn
Diện tích tư
nhiên (ha)
Số
hộ
(8,3)
669
(35,2)
1.232 (68,8)
Dao, Tày, H’mông,
Nùng, Hoa
2 Đồng Lạc
3,662
10
557
2,378
96
(17,2)
131
(5,5)
2.247 (94,5)
Dao, H’mông
800
(10,5)
6,808
(89,5)
1
1
(Nguồn: UBND các xã vừng đệm, tháng 11/2012)
Tày, Dao, H’Mông
-
Ở 9 thôn vùng đệm của KBT người Kinh chiếm khoảng 5% còn lại là dân tộc thiểu số.
Các hộ người Kinh chủ yếu là buôn bán, khai thác khoáng sản, công nhân viên nhà nước. Các
hộ người Kinh tập trung ở xã Bản Thi với 35% chủ yếu là công nhân khai thác khoáng sản nơi
có mỏ quặng Sunfua Kẽm lộ thiên với trữ lượng lớn. Các hộ sinh sống bên trong vùng lõi của
KBT đều là người Dao, họ sống và canh tác bên trong KBT từ lâu đời, chủ yếu là làm rẫy và
thu hái lâm sản theo mùa. Ở xã Đồng Lạc chỉ có 19 hộ người Kinh chiếm 3% còn lại xã Xuân
Lạc gần như 100% là người dân tộc thiểu số.
2.3.2.2.
Tình hình kinh tế và thu nhập của người dân sống xung quanh KBT
Sản
suất
lượng
tích
suất
lượng
(tạ/ha)
40
(tấn)
255
(ha)
(tạ/ha)
40
(tấn)
255
46
1.080
xuất có
diện
tích lớn nhất,
sản
chiếm 56% diện tích đất lâm nghiệp
(7.147 ha) còn lại là rừng phòng hộ chiếm 30%.
Phần lớn diện tích đất canh tác ở vùng đệm chưa có sổ đỏ, công tác đo đạc và cấp sổ
đỏ tiến hành chậm nên nhiều hộ không có sổ đỏ không tiếp cận được với các nguồn tín dụng
tại địa phương. Các loại cây trồng chính và diện tích của chúng được trình bày ở Bảng 2.3.
Qua số liệu ở Bảng 2.3 cho thấy 2 loại cây lương thực chính được trồng ở cả vùng đệm là lúa
và ngô. Diện tích lúa rẫy chiếm số lượng tương đối lớn đất canh tác, nhưng thiếu số liệu thống
kê do việc phát nương làm rẫy bị nghiêm cấm. Phần lớn lúa rẫy được canh tác ở khu vực rừng
sản xuất. Các loại đậu là cây trồng mang lại thu nhập cao nhất trong các loại cây trồng nông
nghiệp ở vùng đệm.
Các loại rau chủ
của người dân vùng
yếu phục vụ cho nhu cầu
đệm,
được trồng nhiều ở xã Đồng Lạc, ở các xã khác có diện tích không đáng kể.
Bảng 2.3. Cây trồng ở vùng đệm
11
2
28
6
5
Tổng
46
37
54
30
14
28
18
6
6
7
(Nguồn: Báo cáo Kinh tế xã hội năm 2011 của UBND các xã vùng đệm)
30
63
\------------------- 1------------------------ 1-----------------7-1--------------------------- 1------------------------------- 1------------------------ 1----------------------- 1---------------------------- 1---------------------------
2.3.2.3.
>
Tập quán sinh hoạt, sản xuất
Khái quát chung
Cư dân trong vùng chủ yếu sống tập trung thành các bản, những hộ ở trên cao rải rác
Trồng trọt
Diện tích đất nông nghiệp chiếm tỷ lệ quá nhỏ so với tổng diện tích. Trong đó đất
trồng lúa, màu bình quân 383m 2/khẩu. Sản phẩm trồng trọt chủ yếu là lúa nước, ngô, lúa
nương, sắn...
Vấn đề an toàn lương thực cũng vẫn chưa đảm bảo đối với một số hộ nghèo, thiếu ăn
vào những lúc giáp hạt (tháng 2-4) trước khi đến mùa gặt.
Ruộng nước được phân bố nơi thấp gần khu dân cư, ven suối và một số diện tích nhỏ
ruộng bậc thang. Năng suất lúa thấp do kỹ thuật canh tác chưa cao phụ thuộc nhiều vào điều
kiện tự nhiên, giống chưa được cải thiện. Lúa nương được canh tác trên các sườn đồi, núi thấp.
Do đất dốc và hoàn toàn phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên nên năng suất không cao và bấp
bênh. Diện tích lúa nương thường không ổn định do sự du canh qua nhiều vùng khác nhau
quanh các điểm dân cư.
Các loại rau màu như Ngô, Sắn. thường được trồng trên những nơi đất cao, bằng
phẳng nhưng không có điều kiện khai hoang ruộng nước. Do diện tích ruộng nước chỉ hơn
lsào/người, chủ yếu là ruộng 1 vụ, người dân phải làm nương rẫy để bổ sung nguồn lương
thực. Diện tích đất nương rẫy hiện nay tuy không cao nhưng nếu luân chuyển hàng năm thì
diện tích rừng bị chuyển đổi sẽ tăng nhanh đáng kể.
>
Chăn nuôi
Diện tích trong khu
vực phù hợp với chăn nuôi nhưng chưa phát triển và
chưa được trú trọng đầu tư. Thành phần đàn gia súc tương đối đơn giản, chủ yếu là trâu, bò,
ngựa, lợn, gà... Ngựa là vật nuôi quan trọng đối với người dân vùng cao, trong khi chưa có
đường giao thông thì ngựa còn là phương tiện vận chuyển hữu hiệu. Công tác thú y chưa phát
trước. Hiện nay, người dân chủ yếu thu hái nguồn lâm sản ngoài gỗ phục vụ nhu cầu tại chỗ.
Hoạt động khai thác củi đun: Gỗ củi là chất đốt chủ yếu ở vùng nông thôn, người dân
thường lấy cành khô, cây khô từ Khu bảo tồn, đặc biệt để có củi khô thì sau những lần đi lấy
củi họ đều chặt một số cây tươi trong khu vực để lần sau lại có củi khô. Theo ước tình trung
bình một tháng mỗi hộ sử dụng khoảng từ 300 - 350 kg củi khô (sử dụng nhiều củi hay ít phụ
thuộc vào mùa, đặc biệt vào mùa đông sử dụng củi để sưởi ấm). Nếu lượng củi này chỉ khai
thác trên rừng thì tương tự như hoạt động đốt phá rừng và rất lâu sau rừng mới được hồi phục.
Ngoài lượng củi do các thôn nằm trong và giáp khu bảo tồn khai thác ra hàng năm lượng củi
do các thôn khác trong xã vào Khu bảo tồn khai thác cũng rất lớn. Chính vì thế cần thiết phải
có các hoạt động nhằm hạn khai thác với số lượng củi đun lớn thông qua xây dựng các loại bếp
đun cải tiến tiết kiệm củi).
Hoạt động khai thác gỗ: Hiện tại còn một số ít người dân vẫn lén lút vào khu bảo tồn
chắt trộm gỗ để làm nhà, đóng đồ gia dụng cho gia đình, và tìm mọi kẽ hở của lực lượng kiểm
lâm để tiêu thụ. Các loài cây gỗ thường được người dân khai thác như Nghiến, Trai, Dâu
rừng... việc khai thác được thực hiện ngay trong rừng và vận chuyển về nhà. Đây là hoạt động
khai thác tài nguyên trái pháp luật và không bền vững làm ảnh hưởng đến việc bảo tồn tài
nguyên rừng. Hầu hết các thôn đều có khai thác
truyền,
quản
lý
chặt chẽ
nhưng
của lực lượng
Giao thông
Các xã vùng Khu bảo tồn đã có đường giao thông đến trung tâm xã, từ trung tâm xã đi
các thôn đều bằng đường đất, tuy nhiên do đường đất, độ dốc cao, nền địa chất kém bền vững
nên hiện tượng sạt lở, thậm chí trượt núi gây tắc đường không có khả năng khắc phục ngay.
Hiện nay để đi một số thôn trong xã phải đi bộ. Việc giao lưu văn hoá, hàng hoá gặp nhiều khó
khăn, không muốn nói là cách biệt với bên ngoài. Mặc dù xã đã chú trọng xây dựng đường liên
thôn, xã, nhưng đường hẹp, dốc, lầy lội vào mùa mưa đi lại rất khó khăn.
>
Y tế, giáo dục
Các xã đều đã có trạm y tế và cán bộ y tế, nhưng chưa đáp ứng được nhu cầu của nhân
dân địa phương và cần tăng cường cán bộ y tế tuyến xã để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người
dân. Các dịch bệnh lớn hầu như không xảy ra do làm tốt công tác phòng bệnh.
>
Điện lưới quốc gia
Hiện có khoảng 75% số hộ được sử dụng điện lưới quốc gia dùng vào sinh hoạt. Điện
lưới quốc gia đã góp phần thúc đẩy mạnh mẽ khâu sản xuất mang lại diện mạo của vùng nông
thôn miền núi trong thời kỳ đổi mới. Số hộ còn lại chủ yếu dùng điện thắp sáng từ máy thuỷ
điện nhỏ, bình quân từ 2-3 hộ/1 máy.
2.3.2.5.
Khái quát về tài nguyên rừng khu vực nghiên cứu
* Diện tích rừng
381,4
21,3
2
3
Rừng phục hồi (IIA)
231,6
13,0
Rừng phục hồi (IIB)
295,6
16,5
4
Rừng nghèo (IIIA1)
680,4
38,1
5