Nghiên cứu giá trị dịch vụ hệ sinh thái cho sinh kế người dân vùng đệm vườn quốc gia xuân thủy, nam định - Pdf 36

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ HỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN HÀ NỘI
---------------------

Đặng Thị Huyền

NGHIÊN CỨU GIÁ TRỊ DỊCH VỤ HỆ SINH THÁI
CHO SINH KẾ NGƯỜI DÂN VÙNG ĐỆM VƯỜN
QUỐC GIA XUÂN THỦY, NAM ĐỊNH

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC

Hà Nội, 2013


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN HÀ NỘI
-----------------------Đặng Thị Huyền

NGHIÊN CỨU GIÁ TRỊ DỊCH VỤ HỆ SINH THÁI
CHO SINH KẾ NGƯỜI DÂN VÙNG ĐỆM VƯỜN
QUỐC GIA XUÂN THỦY, NAM ĐỊNH
Chuyên ngành: Khoa học Môi trường
Mã số:

60440301

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. Trần Văn Thụy



MỤC LỤC


DANH MỤC HÌNH


DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1:Các HST và diện tích của chúng ở VQG
Bảng 3.2:Danh sách 11 loại chim hiếm VQGXT
Bảng 3.3: Hiện trạng nuôi tôm khu vực vùng đệm
Bảng 3.4:Thống kê mô tả về hoạt động nuôi tôm
Bảng 3.5:Lợi nhuận nuôi tôm tại Xuân Thủy
Bảng 3.6:Diện tích nuôi ngao trong vùng đệm VQGXT
Bảng 3.7:Thống kê mô tả hoạt động nuôi ngao
Bảng 3.8:Thu nhập ròng của mỗi cá nhân thông qua phỏng vấn
Bảng 3.9:Tổng thu nhập của những người khai thác thủy sản thủ công ở năm xã
vùng đệm
Bảng 3.10:Giá thành hoạt động của khai thác thủ công
Bảng 3.11:Chi phí tu bổ 20,7km đê biển không có rừng bảo vệ huyện Giao Thủy
giai đoạn 2001-2010
Bảng 3.12:Chi phí đối với khách du lich trong nước và nước ngoài thăm VQGXT
Bảng 3.13:Chi phí chuyển đổi đối với khách du lịch trong nước, nước ngoài
Bảng 3.14:Giá trị kinh tế của các HST


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ĐDSH:


TEEB:

Giá trị kinh tế của hệ sinh thái và đa dạng sinh học

UNEP:

Chương trình liên hiệp quốc về môi trường

UNESCO: Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc
VQG:

Vườn quốc gia

VQGXT: Vườn quốc gia Xuân Thủy


MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Nằm ở cửa sông Ba Lạt, Vườn quốc gia Xuân Thủy huyện Giao Thuỷ - Nam
Định là khu vực có những điểm đặc trưng của vùng đồng bằng Bắc Bộ. Đây cũng là
khu Ramsar đầu tiên tại Việt Nam, được đề cử năm 1989 và là một trong hai vùng
lõi dự trữ sinh quyển vùng đồng bằng sông Hồng.
Vườn quốc gia Xuân Thủy có giá trị về đa dạng sinh học, là môi trường sống
quan trọng cho nhiều loài, đặc biệt là các loài chim, (một số loài được liệt kê trong
Sách đỏ thế giới). Bên cạnh đó, nhiều loài có giá trị kinh tế cao như ngao (Meretrix
meretrix), cua hoa (Portunus pelagicus), tôm sú (Penaeus monodon).
Rừng ngập mặn nói chung và Vườn quốc gia Xuân Thủy nói riêng mang lại
một loạt các loại hình dịch vụ và hàng hóa như: thực phẩm; đất để chăn thả gia súc,
nuôi trồng các loài thủy, hải sản; kiểm soát lũ và nơi trú ẩn cho các loài chim cư trú

Xây dựng bản đồ các hệ sinh thái
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Các loại hình sử dụng đất.
Các dịch vụ hệ sinh thái của các loại sử dụng đất.
Các đối tượng được hưởng lợi từ các dịch vụ.
Phạm vi nghiên cứu: 5 xã vùng đệm (Giao Thiện, Giao An, Giao Lạc, Giao
Xuân, Giao Hải) Vườn quốc Gia Xuân Thủy - huyện Giao Thủy – tỉnh Nam Định

9


CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN
1.1. Cơ sở khoa học nghiên cứu giá trị dịch vụ hệ sinh thái
1.1.1. Hệ sinh thái và các dịch vụ của chúng
Trên trái đất có hàng triệu loài đang sinh sống. Trong quá trình duy trì sự
sống, các loài sinh vật tương tác lẫn nhau và tương tác với môi trường vật lí-sinh
vật. Sự tương tác này hình thành nên một hệ thống động, luôn luôn biến đổi, được
biết đến như là một HST.
Hệ sinh thái là là một phức hợp động của các quần thể động vật, thực vật
và vi sinh vật, và môi trường vật lí đóng vai trò như một đơn vị chức năng.
Con người là một bộ phận của HST. Ở nhiều vùng, con người là sinh
vật ưu thế. Nhưng dù có là loài ưu thế hay không, con người vẫn phụ thuộc vào
các HST và phụ thuộc vào mạng lưới các mối tương tác giữa các sinh vật, trong
các HST và giữa các HST giống như tất cả các loài khác.
Tồn tại như một bộ phận không thể tách rời khỏi HST, trong quá trình duy
trì và phát triển, con người cũng dựa vào các HST, tương tác với HST và tương
tác lẫn nhau để mưu cầu cơm ăn, nước uống, áo mặc,... Những sản phẩm như
lúa gạo, tơ sợi, nước ngọt, thịt cá,... đó chính là các dịch vụ HST. Khái niệm
dịch vụ HST được sử dụng lần đầu tiên từ cuối những năm 60 của thế kỉ XX.
Có nhiều định nghĩa khác nhau về dịch vụ HST. Các dịch vụ hệ sinh thái được

(iv) Dịch vụ hỗ trợ
Dịch vụ hỗ trợ là những dịch vụ cần thiết cho sự sinh ra của tất cả các
dịch vụ HST khác. Dịch vụ hỗ trợ khác với ba loại dịch vụ khác ở chỗ những
tác động của nó đối với con người hoặc là gián tiếp hoặc diễn ra trong một
khoảng thời gian rất dài. Dịch vụ hỗ trợ bao gồm sản xuất sơ cấp, hình thành
đất, chu trình dinh dưỡng, chu trình nước, sự cung cấp môi trường sống,...
Tổng cộng có 22 loại hình dịch vụ chính của hệ sinh thái được phân loại
theo Báo cáo TEEB (2010a). Tuy nhiên trong khuôn khổ luận văn do thời gian có

11


hạn, chỉ có tám loại hình dịch vụ được định lượng hoặc định tính. Dữ liệu được
trình bày trong bảng sau (xem bảng 1.1).
Bảng 1.1: Phân loại các dịch vụ hệ sinh thái trong báo cáo TEEB (TEEB,
2010a)
Các dịch vụ hệ sinh thái trong báo cáo
TEEB
Các dịch vụ cung cấp
1

Thực phẩm

2

Nước

3

Nguyên vật liệu


10

Điều tiết dòng chảy

11

Xử lý nước

12

Phòng chống xói mòn

13

Duy trì độ phì nhiêu của đất

14

Thụ phấn

15

Kiểm soát sinh học

Chắn bão, bảo vệ đê biển
Làm sạch nước
Giữ đất

Dịch vụ hỗ trợ

Nghỉ ngơi và du lịch
Du lịch sinh thái
Nguồn cảm hững cho nghệ thuật, văn hóa
và sáng tạo
Trải nghiệm tinh thần

22

Thông tin cho phát triển nhận thức

20

Giáo dục

1.1.2. Mối quan hệ giữa dịch vụ hệ sinh thái đối với con người và sự phát
triển kinh tế xã hội
Mối quan hệ giữa HST và các dịch vụ của chúng với con người hay sự
phát triển kinh tế rất đa dạng và phức tạp. Hơn nữa, mối quan hệ này cũng biến
đổi theo thời gian. Trong quá trình tương tác với tự nhiên, các hoạt động của con
người luôn tạo ra, ngoài những kết quả theo dự tính, những hệ quả không
mong muốn, và rất nhiều hệ quả không mong muốn này lại rất có hại cho chính
sự phát triển kinh tế.
Chức năng cung cấp của HST cung cấp những hàng hoá và dịch vụ đảm
bảo duy trì sự phát triển kinh tế ở những khía cạnh khác nhau. Nếu như các
HST không cung cấp đủ lương thực, thực phẩm, nước sạch,... cho con người thì
không những sẽ gây ra những tác động xấu đối với sự phát triển kinh tế mà
còn có thể xoá bỏ sự phát triển kinh tế đã đạt được.
Chức năng điều tiết của các HST cũng ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế
của con người theo những cách khác nhau. Sự điều tiết của các HST liên quan
đến đời sống con người có thể thấy ở các quá trình lọc khí, lọc và điều tiết


- Khả năng được - Khả năng tiếp cận
sống trong môi các
nguồn
tài
trường trong sạch nguyên để có thu
và an toàn
nhập và sinh sống

- Được nuôi dưỡng - Có cơ hội thể hiện
đầy đủ
các giá trị mỹ học
- Tránh được các và giải trí liên quan
đến các HST
bệnh có thể tránh

- Khả năng làm
giảm các tai biến

- Có đầy đủ nước - Có cơ hội thể hiện
các giá trị văn hóa
sạch để dùng
và tinh thần liên
- Có không khí quan đến các HST
trong sạch để thở
- Có cơ hội để học
- Có đủ năng lượng tập, nghiên cứu về
để dùng
các HST


vùng ven biển bị ảnh hưởng rất nhiều bởi thành phần và chức năng của các HST.
Sinh kế: Sinh kế bao gồm khả năng, nguồn lực (gồm các nguồn lực vật chất
và xã hội) cùng các hoạt động cần thiết làm phương tiện sống của con người. Sinh
kế trở nên bền vững khi nó giải quyết được những căng thẳng và đột biến, hoặc có
khả năng phục hồi, duy trì và tăng cường khả năng và nguồn lực hiện tại và tương
lai mà không làm tổn hại đến cơ sở tài nguyên thiên nhiên.
Kết quả của sinh kế:
-

Tăng thu nhập

15


-

Tăng sự ổn định
Giảm rủi ro
Nâng cao an toàn khu vực
Sử dụng bền vững hơn các nguồn lợi tự nhiên.

Trong năm xã vùng đệm có gần ½ hộ gia đình có sinh kế phụ thuộc gián
tiếp và trực tiếp vào tài nguyên ĐNN trong khu vực VQGXT. Trong nhóm cộng
đồng này, đại đa số là tham gia khai thác trực tiếp và phụ thuộc trực tiếp nguồn lợi
thủy sản, còn các hình thức gián tiếp cung cấp dịch vụ chỉ thu hút khoảng 6% hộ.
Trong các hình thức khai thác trực tiếp thì đáng lưu ý nhất là hoạt động khai thác
tự do thủ công (hơn 40%), sau đó là đi làm thuê cho các chủ đầm tôm và vây vạng
ngoài bãi (gần 16%), còn các hình thức khai thác như đánh cá biển và nuôi trồng
thủy sản đòi hỏi đầu tư và đất đai thì mỗi hình thức chỉ có trên dưới 10% hộ tham
gia.


1.66%

Chế biến thủy sản

0.41%

Dịch vụ con giống

0.41%

Buôn bán hải sản nhỏ lẻ

3.32%

Đại lý thu mua hải sản

0.83%

16


(Nguồn: Báo cáo kinh tế xã hội 2008)
Rõ ràng, nền sản xuất hàng hoá dựa trên tiềm năng nuôi trồng và khai thác
nguồn lợi tự nhiên ở khu vực VQG Xuân Thuỷ đã là nguồn sống quan trọng của
cộng đồng dân cư các xã vùng đệm VQG. Thuỷ hải sản là một trong các nguồn
thu nhập trong cơ cấu kinh tế hộ gia đình. Nhìn chung, nguồn thu này là khoản
tiền mặt lớn nhất giúp họ bù đắp sự thiếu hụt về lương thực và đáp ứng những nhu
cầu sinh hoạt trong cuộc sống hiện đang còn nhiều thiếu thốn. Thực tế mức độ phụ
thuộc vào tài nguyên tự nhiên rất khác nhau giữa các hộ gia đình, các thôn xóm,

bằng giá thị trường. Chẳng hạn, giá trị quyền sử dụng khu nghỉ mát ven biển có
thể được ước tính bằng cách ước tính lượng du khách và giá trị thặng dư cũng như
với bất kỳ hàng hóa thị trường khác. Dịch vụ HST khác như nước sạch cũng được
sử dụng như nguyên liệu đầu vào trong sản xuất và giá trị của nó có thể được tính
bằng sự đóng góp của nó vào lợi nhuận của sản phẩm.
Nhưng không phải bất kỳ dịch vụ hệ sinh thái nào cũng có thể mua và bán
trên thị trường để có thể tính giá trị của nó bằng tiền. Điều quan trọng là ước tính
xem sức mua là bao nhiêu, mọi người sẵn sàng chi trả để có được dịch vụ của hệ
sinh thái hoặc mọi người cần được trả bao nhiêu để từ bỏ nó, nếu họ được yêu cầu
lựa chọn một điều tương tự họ có thể thực hiện trên thị trường.
Một số dịch vụ hệ sinh thái, như tham quan thẩm mỹ hay giải trí, có thể
không được mua và bán trực tiếp trên thị trường. Tuy nhiên, giá cả mà mọi người
sẵn sàng chi trả trên thị trường cho hàng hóa liên quan có thể được sử dụng để ước
tính giá trị của chúng. Ví dụ, người ta thường trả giá cao hơn cho căn nhà hướng
ra biển, hoặc sẽ dành thời gian để đi du lịch đến một nơi đặc biệt như Xuân Thủy
để thư giãn. Các loại chi phí này có thể được sử dụng để xác định giá trị tham
quan du lịch.
Dựa trên cơ sở lý thuyết kinh tế, các nhà kinh tế đã phát triển các phương
pháp thực nghiệm để đánh giá giá trị kinh tế của HST. Cho đến nay, chưa có một
hệ thống phương pháp nào được xây dựng và áp dụng riêng biệt để đánh giá giá trị
của HST, thay vào đó người ta xây dựng các phương pháp chung rồi áp dụng cho
ĐNN như một dạng tài nguyên cụ thể.
Barbier (1997) phân chia các phương pháp thành ba loại là:
18


- Các phương pháp dựa vào thị trường thực (real market).
- Các phương pháp dựa vào thị trường thay thế (surrogate market).
- Các phương pháp dựa vào thị trường giả định (hypothetical market).
Ngoài ra, gần đây phương pháp chuyển giao giá trị (benefit transfer) cũng

Mặc dù đánh giá giá trị kinh tế của môi trường đã từng được biết đến từ
những năm 60 và 70 của thế kỷ trước nhưng nó chỉ thực sự được hiểu rõ hơn khi
“Đánh giá hệ sinh thái thiên niên kỷ” ra đời. Theo báo cáo “Đánh giá HST thiên
niên kỷ”, việc đánh giá giá trị dịch vụ HST đã diễn ra ở nhiều quốc gia, ở nhiều
phạm vi và nhiều phương pháp khác nhau. Ví dụ, nghiên cứu những thiệt hại về
kinh tế của đa dạng sinh học trên toàn cầu (TEEB), sửa đổi hệ thống kế toán kinh
tế và môi trường (SEEA) bao gồm các biện pháp của nguồn vốn tự nhiên để nắm

19


bắt sự suy giảm hoặc suy thoái các nguồn tài nguyên, sáng kiến nền kinh tế xanh
UNEP, thiết lập liên chính phủ về đa dạng sinh học và dịch vụ hệ sinh thái ...vv
Một vài quốc gia đã thông qua khung MEA để phát triển các nghiên cứu
quốc gia về giá trị hệ sinh thái. Ví dụ ở Anh đã từng bắt tay vào việc thực hiện
nghiên cứu quốc gia để đánh giá giá trị kinh tế của các hệ sinh thái. Các nghiên
cứu khác cũng đang được thực hiện ở Đức và Pháp.
* Một số nghiên cứu ở Việt Nam
Cùng với những đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế của hệ sinh
thái ven biển và biển, đã có một số nghiên cứu về các giá trị của HST ven biển ở
Việt Nam. Tuy nhiên, hiện nay các nghiên cứu tập trung vào lợi ích trực tiếp của
hệ sinh thái ven biển và biển như gỗ, củi đốt, thủy hải sản và du lịch và một vài
nghiên cứu về các giá trị gián tiếp như bảo vệ đê, bờ biển. Trong thực tế, giá trị hệ
sinh thái ven biển và biển rất khác nhau, phụ thuộc vào từng hệ sinh thái, tương
ứng với các loại hàng hóa và dịch vụ với giá trị kinh tế khác nhau sẽ có những
phương pháp đánh giá thích hợp.
Tác giả Mai Trọng Nhuận và các cộng sự sử dụng phương pháp giá thị
trường để đánh giá giá trị kinh tế của một số điểm trình diễn ĐNN tại VN năm
2000, trong đó ước tính sơ bộ các giá trị sử dụng trực tiếp của một số khu vực ĐNN
tiêu biểu tại VN. Cũng sử dụng phương pháp này, tác giả Đỗ Nam Thắng (2005) đã

dụng trực tiếp, giá trị sử dụng gián tiếp và giá trị phi sử dụng của tài nguyên ĐNN
tại vùng cửa sông Ba Lạt, tỉnh Nam Định. Từ đó đề xuất các biện pháp quản lý dựa
trên các kết quả đánh giá giá trị kinh tế.
1.2. Sử dụng tài nguyên phát triển sản xuất và bảo vệ môi trường.
Tài nguyên và môi trường có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong một hệ
sinh thái xác định, cũng có quan niệm cho rằng khi đề cập tới bảo vệ môi trường
cũng có nghĩa bao hàm cả bảo vệ tài nguyên. Tuy nhiên khi nói tới tài nguyên
thường gắn với hoạt động kinh tế, là yếu tố đầu vào của hệ thống kinh tế, chúng có
thể đo đếm và hạch toán được trong sổ sách kế toán, còn môi trường bao gồm hệ
thống tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, ảnh hưởng tới đời sống và

21


hoạt động của con người. Như vậy trong môi trường có cả tài nguyên và người ta
thường sử dụng cụm từ “Môi trường thiên nhiên”.
Để bảo vệ tài nguyên và môi trường, trước hết phải bảo vệ môi trường thiên
nhiên, ta thường đề cập tới cụm từ “Bảo vệ môi trường” là chính, còn đối với tài
nguyên thường sử dụng cụm từ “Khai thác và sử dụng tiết kiệm tài nguyên”, xét về
bản chất kinh tế, trong bối cảnh thể chế kinh tế thị trường, thường dùng cụm từ
“Khai thác và sử dụng hiệu quả tài nguyên”. Như vậy bảo vệ tài nguyên và môi
trường như thế nào là tốt nhất, từ năm 2010, chương trình môi trường Liên Hợp
Quốc (UNEP) đã có những tiếp cận mới trong bảo vệ tài nguyên và môi trường, đó
là quản trị môi trường (Environmental Governance) và kinh tế xanh (Green
Economy) nhằm thay đổi cách nhìn nhận và tiếp cận mới về tài nguyên và môi
trường phù hợp với xu thế phát triển hiện nay trên quy mô toàn cầu.
Để bảo vệ tài nguyên và môi trường cần có những thay đổi trong cách tiếp
cận mới sau đây.
- Thứ nhất, thay đổi cách nhìn nhận mới có tính tổng hợp, bảo vệ tài nguyên
và môi trường phải dựa trên cơ sở nền tảng của hệ sinh thái, nghĩa là không quản lý


Các giải pháp được phát triển bởi các cơ
Các giải pháp được phát triển thông qua
quan quản lý tài nguyên và môi trường đưa
thảo luận giữa các bên tham gia
ra
Sự đối đầu phân cực các vấn đề đơn lẻ

Xây dựng sự đồng thuận, các vấn đề đa
phương và đối tác cùng hợp tác

- Thứ ba, xem xét lại sự đề cao đối với con người trong hệ thống tự nhiên
dẫn đến tàn phá thiên nhiên, phải coi con người như là thành phần quan trọng của tự
nhiên để điều chỉnh hành vi của mình. Con người sống được và tồn tại được là nhờ
vào thiên nhiên gồm các nguồn tài nguyên và môi trường tự nhiên. Thiên nhiên là
cơ sở tiền đề cho sự sống và phát triển của con người.
- Thứ tư, từ bỏ phương thức phát triển kinh tế cũ của mô hình “Kinh tế nâu”,
hướng tới chuyển đổi mô hình phát triển mới, theo một cấu trúc kinh tế mà hiện nay
các nước đang tiếp cân, đó là “Kinh tế xanh”, không chỉ mang lại phúc lợi cho còn
người mà phải duy trì và phát triển hệ sinh thái. Muốn vậy bên cạnh khai thác phải
đầu tư trở lại cho tự nhiên để phục hồi hệ sinh thái. Đối với những tài nguyên không
tái tạo nguồn lợi thu được cần gìn giữ và đầu tư cho phát triên, chẳng hạn như đầu
tư cho vốn con người.
- Thứ năm, trong bối cảnh của thể chế kinh tế thị trường, định hướng xã hội
chủ nghĩa, bảo vệ tài nguyên và môi trường cần có sự kết hợp hài hòa giữa các giải
pháp quản lý gồm các giải pháp về điều hành và kiểm soát với các giải pháp kinh tế.

23





VQGXT và sinh kế của đại bộ phận người dân đang sống dựa vào nguồn lợi thủy
sinh ĐNN nơi đây đang bị đe dọa từ nhiều yếu tố, cả chủ quan như nhận thức và
cách tổ chức khai thác cũng như khách quan môi trường.
Như vậy đánh giá nhận thức của người dân khi khai thác thủy sản ở các khu
vực VQG cho thấy người dân ở khu vực nghiên cứu đã có ý thức trong việc khai
thác các loại thủy sản như: không nên khai thác thủy sản nhỏ, thủy sản đang mang
trứng, hay các loại thủy sản quý và các loài chết không rõ nguyên nhân. Tuy nhiên
người dân vẫn chưa nhận thức được các phương pháp khai thác có tác động tới
HST, có 98% số hộ vẫn cho rằng có thể sử dụng điện và hóa chất để đánh bắt thủy
sản và 91% vẫn muốn sử dụng các chất kích thích sinh trưởng trong nuôi trồng thủy
sản. Các hộ nuôi trồng thủy sản có 58% cho rằng nên nuôi tôm theo chu trình công
nghiệp không cần RNM, chỉ có 17% số hộ cho rằng nên nuôi tôm theo kiểu quảng
canh kết hợp với phát triển RNM (Theo báo cáo kinh tế xã hội 2008).
Rõ ràng, cùng với việc người dân khai thác các nguồn lợi từ thiên nhiên
nhiên để làm giàu, VQG Xuân Thuỷ đang phải đối mặt với các vấn đề suy thoái môi
trường. Bởi vậy cần phải có quy hoạch sử dụng hợp lý nguồn lợi tự nhiên ở khu vực
và thiết lập cơ chế kiểm soát an ninh và ô nhiễm, mới đảm bảo sự phát triển bền
vững của hệ sinh thái rất nhạy cảm là đất ngập nước ở khu VQG Xuân Thuỷ.

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status