1
Bộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2
TRẰN THÙY LINH
QUẢN LÝ BỒI DƯỠNG KĨ NĂNG TỔ CHỨC
HOẠT ĐỘNG GÓC CHO GIÁO VIÊN Ở CÁC
TRƯỜNG MÀM NON HUYỆN MÊ LINH,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Ma số: 6014 0114
LUẬN VĂN THẠC sĩ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Kiểm
HÀ NỘI, 2015
LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Ban giám
hiệu, các quý thầy cô của Phòng Sau Đại học cùng tập thể giáo viên trong khoa
Quản lí giáo dục - Truờng Đại học sư phạm Hà Nội 2 đã nhiệt tình giảng dạy,
hướng dẫn, giúp đỡ và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi cũng như tập thể lóp
QLGD- K17 trong suốt thời gian học tập tại trường.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến nhà giáo Nguyễn Thị
Nhường - Hiệu trưởng trường Mầm non TT Sao Mai Kitty, những người thân
trong gia đình đã luôn cổ vũ, động viên, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian tôi
tham gia học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Xin trân trọng cám ơn các đồng chí lãnh đạo, chuyên viên phòng Giáo
quá trình thực hiện (nếu có)
Hà Nội, ngày 11 tháng 11 năm 2015
TÁC GIẢ
Trần Thùy Linh
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa.................................................................................. 1
LÒI cảm ơn................................................................................................. 2
Lời cam đoan............................................................................. 3
Muc luc........................................................................................... 4
• •
MỞ ĐẦU.................................................................................................... 8
NỘI DUNG................................................................................................ 14
•
CHƯƠNG 1. Cơ sở lí luận về quản lí bồi dưỡng kĩ năng tổ
chức hoạt động góc cho giáo viên ở các trường Mầm non
1.1...........................................................................................
14
Tổng
quan các vẩn đề nghiên cứu.................................. 14
1.1.1. Vị trí của trường Mầm non trong hệ thống giáo dục
1.4...........................................................................................Quản
bồi dưỡng kĩ năng tổ chức hoạt động góc........................
1.5.
lí
35
Các nhân tổ ảnh hưởng đến việc quản lí bồi dưỡng kĩ
năng tổ chức hoạt động góc.................................................................... 37
1.5.1. Các nhân tổ liên quan đến chủ thể quản lí................... 37
1.5.2............................................................................................
Các
nhân tổ liên quan đến đối tượng quản lí.............................. 38
1.5.3........................................................................................... Các nhân
tổ thuộc về môi trường bên ngoài....................................... 38
Kết luận chương 1.................................................................................... 40
CHƯƠNG 2. Thực trạng quản lí bồi dưỡng kĩ năng tổ chức
hoạt động góc cho giáo viên ở các trường Mầm non trên địa
bàn huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội............................................ 41
2.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, điều kiện kỉnh tế - xã hội của
huyện Mê Lỉnh, thành phố Hà nội......................................................... 41
2.1.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, truyền
thống lịch sử của huyện Mê Linh, thành phố Hà
nội.............................................................................................................. 41
2.1.2. Tình hình phát triển kinh tế - xã hội của huyện Mê
Linh........................................................................................................... 43
2.2 Tình hình phát triển giáo dục Mầm non của huyện Mê
2.6.5 Thực trạng quản lí bồi dưỡng kĩ năng đánh giá kết quả
tổ chức hoạt động góc................................................................... 73
2.7 Thực trạng các nhân tố ảnh hưởng đến quản lí bồi
dưỡng kĩ năng to chức hoạt động góc.......................... 74
2.7.1 Thực trạng các nhân tố ảnh liên quan đến chủ thể
quản lí........................................................................................................ 74
2.7.2 Thực trạng các nhân tố ảnh liên quan đến đối tuợng
quản lí........................................................................................................ 75
2.7.3 Thực trạng các nhân tố thuộc về môi truờng bên ngoài 76
Kết luận chương 2.................................................................................... 78
CHƯƠNG 3. Biện pháp quán lí bồi dưỡng kĩ năng tổ chức
hoạt động góc cho giáo viên ở các trường mầm non trên địa
bàn huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội..................................... 79
3.1....................................................................................Các
nguyên tắc đề xuất biện pháp..................................... 79
3.2.....................................................................................Các
biện
pháp cụ thể.................................................................... 80
3.2.1. Nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ quản lí và
giáo viên về vai trò, tầm quan trọng của hoạt động góc trong
trường Mầm non....................................................................... 80
3.2.2. Xây dựng nội dung quản lí bồi dưỡng kĩ năng tổ chức hoạt
động góc cho giáo viên.............................................................................. 82
3.2.3.
“Xây dựng hoàn chỉnh và phát triển bậc học Mầm non cho hầu hết trẻ em trong
độ tuổi. Phổ biến kiến thức nuôi dạy trẻ cho các gia đình”.
Luật Giáo dục năm 2005 (có sửa đổi và bổ sung năm 2009) của nước
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đưa ra các nội dung thể hiện rõ nhận định
giáo dục có một vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của
mỗi dân tộc cũng như toàn thể nhân dân. Chiến lược giáo dục, chiến lược con
người là bộ phận quan trọng của chiến lược kinh tế - xã hội... Bởi chức năng
chủ yếu của giáo dục là hình thành và phát triển nhân cách thế hệ trẻ. Phát triển
giáo dục không phải chỉ quan tâm đến quy mô, tốc độ, số lượng mà đặc trưng
chủ yếu là tổ chức các quá trình giáo dục, thông qua việc tổ chức dạy và học
dưới nhiều hình thức. Nhằm chuẩn bị cho thế hệ trẻ đi vào cuộc sống xã hội.
Nhất là đối với giáo dục Mầm non mà đặc trưng của nó là tính giáo dục gia
đình và tính tự nguyện cao. Trẻ em hôm nay sẽ là chủ nhân đất nước những
thập niên đầu thế kỷ XXI, vì thế cần phải bắt đầu từ việc chăm sóc, giáo dục trẻ
em từ tuổi mầm non và trách nhiệm này không chỉ thuộc về nhà trường Mầm
non mà còn là trách nhiệm của gia đình và cũng là trách nhiệm của toàn xã hội.
Cũng trong Luật giáo dục năm 2005 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam đã ghi rõ “Giáo dục Mầm non thực hiện việc nuôi dưỡng; chăm sóc, giáo
dục trẻ từ 3 tháng tuổi đến 6 tuổi”. Hội nghị của Thủ tướng Chính phủ
(25/6/2002) bàn về phát triển giáo dục Mầm non theo tinh thần Nghị quyết
Trung ương 2 (khoá VIII và Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX ) đã
một lần nữa khẳng định: Giáo dục Mầm non là bộ phận quan trọng cấu thành
hệ thống giáo dục quốc dân, góp phần đào tạo con người Việt Nam phát triển
toàn diện.
Trong hệ thống giáo dục quốc dân, giáo dục Mầm non là ngành học thể
hiện tính xã hội hoá cao hơn hết. Giáo dục Mầm non thể hiện sinh động nguyên
tắc Nhà nước, xã hội và nhân dân cùng làm. Để đẩy mạnh hơn nữa sự nghiệp
phát triển giáo dục Mầm non, Thủ tướng Chính phủ đã tổ chức hội nghị bàn về
quan tâm nghiên cứu về việc quản lí hoạt động dạy học, quản lí công tác bồi
dưỡng chuyên môn, quản lí các hoạt động của tổ chuyên môn,.... Và qua tìm
hiểu nghiên cứu, tôi thấy rằng nghiên cứu về quản lý công tác bồi dưỡng kĩ
năng tổ chức hoạt động góc cho giáo viên ở các trường Mầm non thì chưa có
công trình nghiên cứu nào đề cập đến. Hay nói cách khác, việc quản lý công tác
bồi dưỡng về kĩ năng tổ chức hoạt động góc cho giáo viên còn thiếu sự quan
tâm chú trọng.
Để đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục Mầm non, phát triển và duy trì
những mục tiêu giáo dục trẻ Mầm non theo chương trình giáo dục mầm non
mới đặt ra những đòi hỏi, yêu cầu không chỉ ở trình độ chuyên môn của đội
ngũ lãnh đạo, quản lý của nhà truờng mà vai trò của giáo viên, những người
trực tiếp triển khai thực hiện các định hướng của công cuộc chăm sóc, giáo dục
trẻ, những nhân tố then chốt và là yêu cầu tối cần thiết là ở trình độ, kĩ năng của
đội ngũ giáo viên không chỉ về các lĩnh vực giáo dục mà còn cả ở việc tổ chức
hoạt động vui chơi cho học sinh , trong đó quan trọng hơn hết là tổ chức hoạt
động góc để trẻ được phát triển toàn diện.
Như vậy, có thể thấy việc tổ chức cho trẻ các hoạt động góc một cách
sáng tạo, hấp dẫn sẽ mang lại hiệu quả giáo dục tốt cho trẻ mầm non. Muốn
làm được như vậy cần bồi dưỡng cho giáo viên mầm non các kĩ năng tổ chức
hoạt động góc. Dưới góc nhìn từ một nhà quản lý giáo dục thì vấn đề quản lí
công tác bồi dưỡng kĩ năng tổ chức hoạt động góc cho giáo viên là vấn đề có ý
nghĩa quan trọng và rất cần thiết.
Xuất phát từ những vấn đề trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu “ Quản lý bồi
dưỡng kĩ năng tổ chức hoạt động góc cho giáo viên ở các trường Mầm non
huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội”.
2. Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, đánh giá thực trạng kĩ năng tổ chức hoạt
động góc của giáo viên ở các trường Mầm non trên địa bàn huyện Mê Linh,
Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp quản lí bồi dưỡng kĩ năng tổ chức hoạt
động góc cho giáo viên ở các trường Mầm non trên địa bàn huyện Mê
Linh, thành phố Hà Nội.
4.2. Phạm vi nghiên cứu:
-
Chủ thể quản lí: Hiệu trưởng trường Mầm non.
-
Nội dung nghiên cứu: Hoạt động vui chơi cho trẻ mầm non gồm có 2
hoạt động đó là: Hoạt động ngoài trời và hoạt động góc. Trong luận văn
này chỉ nghiên cứu về hoạt động góc cho trẻ 5 tuổi.
-
Khách thể điều tra: Điều tra cán bộ quản lí, giáo viên, học sinh, phụ
huynh học sinh.
-
Địa bàn nghiên cứu: Nghiên cứu tại 10 trường mầm non đại diện cho các
trường trên các vùng có điều kiện kinh tế, văn hóa khác nhau trên địa
bàn huyện Mê Linh.
-
Số liệu khải sát thống kê: Lấy số liệu của 3 năm học gần đây.
phát triển số lượng và chất lượng đồ dùng, đồ chơi linh hoạt, sáng tạo trong
việc tổ chức hoạt động vui chơi cho học sinh của giáo viên và tăng cường mối
quan hệ trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm giữa các giáo viên, giữa học sinh với học
sinh thì sẽ nâng cao chất lượng công tác tổ chức hoạt động góc của giáo viên.
7. Cấu trúc luận văn:
Ngoài phần mở đầu, nội dung luận văn được cấu trúc 3 chương:
-
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý bồi dưỡng M năng tổ chức hoạt
động góc cho giảo viên ở các trường Mầm non (26 trang).
-
Chương 2: Thực trạng quản lý bồi dưỡng lã năng tố chức hoạt động góc
cho giáo viên ở các trường Mầm non trên địa bàn huyện Mê Linh thành phố Hà Nội (37 trang).
-
Chương 3: Biện pháp quản lý bồi dưỡng kĩ năng tố chức hoạt động góc
cho giáo viên ở các trường Mầm non trên địa bàn huyện Mê Linh thành phố Hà Nội (30 trang).
Kết luận và khuyến nghị: (04 trang)
Cuối luận văn là danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục.
II. NÔI DUNG:
CHƯƠNG 1; Cơ SỞ LÝ LUẬN VÈ QUẢN LÝ BÒI DƯỠNG KĨ
NĂNG TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG GÓC CHO GIÁO VIÊN Ở CÁC
TRƯỜNG MÂM NON.
1.1 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu:
Trải qua nhiều thời kỳ đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc
Giáo dục con người tốt cần giáo dục ngay từ khi con người bắt đầu có
nhận thức. Giáo dục mầm non chính là cấp học đầu tiên, là nền tảng cho giáo
dục phổ thông. Chương trình giáo dục mầm non trong suốt những năm dài
nghiên cứu và phát triển qua các chương trình từ chương trình cải cách, chương
trình thí điểm đổi mới hình thức, chương trình đổi mới giáo dục mầm non và
chương trình giáo dục mầm non đổi mới như hiện nay được Bộ giáo dục ban
hành. Thành phố Hà Nội đã tiến đến thực hiện chương trình giáo dục mầm non
mới đại trà trên toàn huyện. Trên những giai đoạn chuyển mình đó, giáo dục
mầm non luôn nhận định và đánh giá đúng đắn vai trò của hoạt động vui chơi
trong sự phát triển của trẻ em.
Đối với trẻ em mầm non, chương trình giáo dục mầm non đã đưa ra chế
độ sinh hoạt của trẻ một ngày gồm 10 hoạt động, trong đó hoạt động học tập
chỉ chiếm 1/10 hoạt động. Hoạt động vui chơi chiếm đến 3/10 hoạt động (bảng
1.1) Như vậy có thể thấy nhu cầu vui chơi đối với trẻ có tầm quan trọng như
thế nào so với hoạt động học tập tri thức. Hoạt động vui chơi đối với trẻ mầm
non chính là một hoạt động giáo dục bởi nội dung chơi mang ý nghĩa giáo dục
mạnh mẽ. Hoạt động chơi được tổ chức tốt sẽ mang lại hiệu quả giáo dục nhiều
mặt bởi nó tác động đến tâm tư, tình cảm, hành vi đạo đức của trẻ. Mặt khác,
chơi giúp trẻ làm quen với thế giới hiện thực xung quanh, mở rộng hiểu biết,
kích thích trí thông minh,...từ đó phát triển về tình cảm - quan hệ xã hội, phát
triển đạo đức, thẩm mĩ, trí tuệ và thể lực. Như vậy, hoạt động vui chơi mang lại
hiệu quả giáo dục toàn diện cho trẻ mầm non như mục tiêu giáo dục đã đặt ra
của chương trình giáo dục mầm non.
1.1.1.
Vị trí của trường Mầm non trong hệ thống giáo dục quốc dân
và vai trò của người giáo viên Mầm non.
đầu tiên thời thơ ấu để lại dấu vết suốt đời, cho nên ngay từ buổi đầu ta phải
thận trọng trong việc dạy trẻ, nếu ta muốn giáo dục một cách đúng đắn lớp
người của chủ nghĩa Cộng sản” [23, tr.24]
Tuổi mầm non cũng là thời kì trẻ rất nhạy cảm với mọi tác động bên
ngoài, do đó trong việc giáo dục có sự ảnh hưởng từ người lớn đến sự phát triển
của trẻ. Người lớn chăm sóc, giáo dục trẻ chu đáo sẽ có ảnh hưởng tích cực đến
sự phát triển của trẻ và ngược lại, những sai lầm trong giáo dục trẻ sẽ ảnh
hưởng xấu đến trẻ và khó mà sửa chữa được. Như vậy, ở lứa tuổi mầm non trẻ
đạt được những thành tựu tương đối lớn về tăng trưởng và phát triển. Những
thành tựu này có ảnh hưởng quyết định đến sự phát triển mai sau của đứa trẻ.
Trẻ có tính nết tốt hay xấu, ngoan hay hư, năng lực, năng khiếu có được phát
hiện và nảy nở hay không sẽ có ảnh hưởng quyết định đến các giai đoạn sau
này.
Giáo dục mầm non còn góp phần chuẩn bị cho trẻ vào trường tiểu học.
Trong thời gian ở trường mầm non, trẻ được chuẩn bị về mọi mặt: thể lực, đạo
đức, trí tuệ, thẩm mĩ,... Đặc biệt được chuẩn bị về những kĩ năng, thói quen cần
thiết cho hoạt động học tập - hoạt động chủ đạo ở trường phổ thông. Thực tế đã
chứng minh cho thấy rằng những trẻ được học qua trường mầm non thì khi vào
lóp một sẽ tiếp thu nhanh hơn, có thói quen học tập tốt hơn và kết quả học tập
cao hơn so với những trẻ không qua học trường mầm non.
Như vậy, giáo dục mầm non giữ một vị trí đặc biệt quan trọng trong toàn
bộ sự nghiệp giáo dục con người. [23, tr.25].
Giáo dục mầm non là một bậc giáo dục mang tính tự nguyện. Giáo dục
mầm non chỉ phát triển tốt khi các nhà trường mầm non, các nhà quản lý, giáo
viên mầm non, các gia đình và toàn xã hội đều có những nhận thức đúng đắn về
vai trò, vị trí của nó trong sự nghiệp giáo dục. Định hướng cho giáo dục mầm
non đi theo con đường đúng đắn và phát triển thì cần các nhà quản lý giáo dục
có đầy đủ kiến thức chuyên môn, trình độ quản lý cũng như những hiểu biết xã
phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, chuyên môn, nghiệp vụ; có năng
lực tổ chức, quản lý nhà trường, nhà trẻ và có sức khoẻ.“
Cũng trong điều 16 - Điều lệ trường Mầm non (2008) quy định rõ:
“Nhiệm vụ và quyền hạn của Hiệu trưởng:
a) Xây dựng quy hoạch phát triển nhà trường; lập kế hoạch và tổ chức thực
hiện kế hoạch giáo dục từng năm học; báo cáo, đánh giá kết quả thực
hiện trước Hội đồng trường và các cấp có thẩm quyền;
b) Thành lập các tổ chuyên môn, tổ văn phòng và các hội đồng tư vấn trong
nhà trường, nhà trẻ; bổ nhiệm tổ trưởng, tổ phó. Đe xuất các thành viên
của Hội đồng trường trình cấp có thẩm quyền quyết định;
c) Phân công, quản lý, đánh giá, xếp loại; tham gia quá trình tuyển dụng,
thuyên chuyển; khen thưởng, thi hành kỷ luật đối với giáo viên, nhân
viên theo quy định;
d) Quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài chính, tài sản của nhà
trường, nhà trẻ;
đ) Tiếp nhận trẻ em, quản lý trẻ em và các hoạt động nuôi dưỡng, chăm
sóc, giáo dục trẻ em của nhà trường, nhà trẻ; quyết định khen thưởng, phê
duyệt kết quả đánh giá trẻ theo các nội dung nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục
trẻ em do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định;
e) Dự các lóp bồi dưỡng về chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ quản lý; tham
gia các hoạt động giáo dục 2 giờ trong một tuần; được hưởng chế độ phụ
cấp và các chính sách ưu đãi theo quy định;
f) Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở và tạo điều kiện cho các tổ chức
chính trị - xã hội trong nhà trường, nhà trẻ hoạt động nhằm nâng cao
chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ;
g) Thực hiện xã hội hoá giáo dục, phát huy vai trò của nhà trường đối với
cộng đồng „
Hiệu trưởng trường Mầm non được coi như là kim chỉ nam để định
(3-6 tuổi) được người lớn tổ chức, hướng dẫn nhằm giúp trẻ thỏa mãn các nhu
cầu vui chơi và nhận thức, đồng thời nhằm giáo dục và phát triển toàn diện cho
trẻ ở lứa tuổi này. [29, ứ. 147]
Chương trình giáo dục mầm non trải qua nhiều quá trình thay đổi để tìm
ra hiệu quả giáo dục tốt nhất cho trẻ. Ở đó có sự phân bố các hoạt động trong
một ngày được tổ chức với thời gian, thời lượng phù hợp với sự phát triển tâm,
sinh lí của trẻ. Với tuổi mẫu giáo, chúng ta có thể thấy rõ vai trò của hoạt động
vui chơi chiếm vị trí quan trọng như thế nào khi nhìn vào bảng “ Chế độ sinh
hoạt cho trẻ mẫu giáo” dưới đây:
Bảng 1.1.3: Chế độ sinh hoạt cho trẻ mẫu giáo
Thời gian
Hoạt động
80 - 90 phút
Đón trẻ, chơi, thể dục sáng
30 - 40 phút
Học
40 - 50 phút
Chơi, hoạt động ở các góc
30 - 40 phút
có nguồn gốc từ lao động, nó góp phần chuẩn bị cho thể hệ trẻ đến lao động.
Nội dung chơi phản ảnh hiện thực cuộc sống xung quanh trẻ.
Theo N.K Crupxkaia thì: “ Trẻ có nhu cầu chơi vì trẻ mong muốn hiểu
biết về cuộc sống xung quanh. Hơn nữa trẻ mẫu giáo rất thích bắt chước người
lớn, thích được hoạt động tích cực với bạn bè cùng tuổi. Hoạt động vui chơi
giúp trẻ thỏa mãn hai nhu cầu trên” [ 29, tr.148]
Các nhà tâm lí học, giáo dục học Xô Viết như L.Vuwgoski, A.N
Leonchiep, A.P.Uxova, Ph.I.Rucopxkaia,...cho rằng: Hoạt động vui chơi của
trẻ mẫu giáo là sản phẩm sáng tạo của trẻ dưới ảnh hưởng trực tiếp của môi
trường xung quanh.
Động cơ chơi của trẻ không nhằm tạo ra sản phẩm cụ thể mà nằm trong
chính hành động chơi, trong sự hấp dẫn, hứng thú hay của tiến trình chơi.
Trong khi chơi, thông qua trò chơi, trẻ phản ảnh cuộc sống của người
lớn chứ không phải là sự mô phỏng hoàn toàn cuộc sống. Trẻ tái tạo cuộc sống
của người lớn một cách tổng quát trong hoàn cảnh tưởng tượng. Cũng chính
nhờ trí trưởng tượng của trẻ mà cuộc sống của người lớn đối với chúng trở nên
dễ hiểu và gần gũi. Thiếu trí tưởng tượng thì trẻ không thể chơi được, không
thể tái hiện lại các hành động và quan hệ xã hội phức tạp của người lớn.
Hoạt động chơi của trẻ mang tính độc lập, tự do và tự nguyện rõ nét. Trẻ
tự mình nghĩ ra các dự đinh, các nội dung chơi; tự mình tìm bạn chơi; tự mình
bàn bạc, thảo luận về các nội dung chơi; tự tìm đồ chơi; tự nguyện gắn bó với
nhau để cùng tham gia chơi. Trẻ sẽ không chơi nữa khi thấy trò chơi không còn
hấp dẫn, khi trẻ thấy chán.
Như vậy, chúng ta có thể hiểu được rằng, hoạt động vui chơi là dạng
hoạt động phản ánh sáng tạo, độc đáo, hiện thực tác động qua lại giữa trẻ với
môi trường xung quanh nhằm thỏa mãn nhu cầu vui chơi, nhu cầu nhận thức
của trẻ. Lần đầu tiên trong hoạt động vui chơi, trẻ thực sự là một chủ thể hoạt
động tích cực, trẻ trò chuyện, giao tiếp, vận dụng các ấn tượng, kinh nghiệm đã
biết cái gì của mình, cài gì không phải của mình mà là của người khác.
Sự phát triển về cảm xúc, tình cảm và ngôn ngữ của trẻ cũng đã bắt đầu
phức tạp hơn với các độ tuổi nhỏ trước đó. Trẻ có sự đòi hỏi ở người lớn sự
quan tâm, chăm sóc một cách cụ thể và đa dạng hơn; từ đó trẻ cũng có những
phản ứng, biểu hiện cảm xúc rõ ràng hơn với những người thân xung quanh
mình và trước những sự việc xảy ra. Điều này cũng chính là đặc điểm mà trẻ có
thể rấ dễ bị tổn thương khi cảm xúc tình cảm bị từ chối, bị mất cân bằng hoặc
thiếu thốn tình cảm.
Đối với trẻ 5 tuổi, trí tưởng tượng của trẻ cũng đã phát triển phong phú
hơn. Trẻ biết hình tượng hóa, nhân cách hóa và tự tưởng tượng về một sự việc
và đặt giả định nó đang diễn ra ngay trong thực tế cuộc sống của trẻ. Chính vì
vậy, trẻ có thái độ yêu ghét rõ rệt: yêu cái thiện, ghét cái ác. Trẻ cũng có thể mô
phỏng cuộc sống của người lớn vào các trò chơi một cách rất dễ dàng và giản
đơn.
Nhận thức của trẻ về cuộc sống, các mối quan hệ và các ý thức của trẻ về
việc tôn trọng các mối quan hệ trong cuộc sống cũng bắt đầu tích cực hơn. Vốn
hiểu biết của trẻ cũng phong phú, đa dạng hơn , trong đó có cả những kĩ năng
học tập mà nhà trường, gia đình và quá trình sống đã cung cấp cho trẻ.
Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ 5 tuổi cũng đạt được mức tương đối hoàn
chỉnh. Trẻ có thể nói rõ ràng, nói câu dài, diễn đạt ý muốn, tình cảm, cảm xúc
của bản thân bằng lời nói một cách đầy đủ, mạch lạc đồng thời có thể hiểu
được những yêu cầu của người khác thông qua lời nói. Thậm chí trẻ có thể bắt
trước rất tốt các ngôn ngữ, giọng nói thể hiện ở cao độ, độ lớn, kết hợp nét mặt,
thái độ phù hợp với từng lời nói, câu nói.
Như vậy, có thể nói, trẻ 5 tuổi đã có sự phát triển khá hoàn thiện về tâm
sinh lí để có thể tiếp nhận những nội dung giáo dục phức tạp hơn. Đây cũng là
đặc điểm nền tảng để có thể chuẩn bị cho trẻ những tâm thế bước đầu cho trẻ
có được sự hình thành một nhân cách tốt qua các hoạt động giáo dục và tiếp