BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
NGÔ NGỌC TRIỆU
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA MỘT SỐ BIỆN PHÁP
KỸ THUẬT CANH TÁC VÀ PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ
THUỐC HÓA HỌC ĐỐI VỚI
NHỆN LÔNG NHUNG (ERIOPHYES SP.) GÂY HIỆN
TƯỢNG CHỔI RỒNG TRÊN NHÃN TIÊU DA BÒ TẠI TỈNH
HẬU GIANG.
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH BẢO VỆ THỰC VẬT
2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
NGÔ NGỌC TRIỆU
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA MỘT SỐ BIỆN PHÁP
KỸ THUẬT CANH TÁC VÀ PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ
THUỐC HÓA HỌC ĐỐI VỚI
NHỆN LÔNG NHUNG (ERIOPHYES SP.) GÂY HIỆN
TƯỢNG CHỔI RỒNG TRÊN NHÃN TIÊU DA BÒ TẠI TỈNH
HẬU GIANG.
Cần Thơ, ngày……tháng……năm 2015
Cán bộ hƣớng dẫn
ThS. Lăng Cảnh Phú
i
TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN BẢO VỆ THỰC VẬT
Hội đồng chấm luận văn đại học đã chấp thuận luận văn với đề tài:
“ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA MỘT SỐ BIỆN PHÁP
KỸ THUẬT CANH TÁC VÀ PHƢƠNG PHÁP XỬ LÝ
THUỐC HÓA HỌC ĐỐI VỚI NHỆN LÔNG NHUNG (ERIOPHYES SP.)
GÂY HIỆN TƢỢNG CHỔI RỒNG TRÊN NHÃN TIÊU DA BÕ TẠI
TỈNH HẬU GIANG”
Do sinh viên NGÔ NGỌC TRIỆU thực hiện và bảo vệ trƣớc hội đồng ngày
……………………………………………………………………………
Luận văn đã đƣợc hội đồng chấp thuận và đánh giá ở mức
……………………….…………………………………………………………
…………………………...
Ý kiến hội đồng:
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
DUYỆT CỦA KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ
SINH HỌC ỨNG DỤNG
iii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam kết luận văn này đƣợc hoàn thành dựa trên các kết quả nghiên
cứu của tôi và các kết quả của nghiên cứu này chƣa đƣợc dùng cho bất cứ luận
văn nào cùng cấp khác.
Ngày…….tháng……năm……
(Ký tên)
NGÔ NGỌC TRIỆU
iv
LỜI CẢM TẠ
Lời đầu tiên con xin chân thành biết ơn công lao sinh thành, nuôi dƣỡng
của Cha Mẹ. Ngƣời đã luôn chia sẻ, quan tâm và yêu thƣơng con bằng tất cả
tấm lòng.
Kính gửi thầy Lăng Cảnh Phú, giáo viên hƣớng dẫn lòng biết ơn sâu sắc.
Cám ơn thầy đã tận tình chỉ bảo và cho những lời khuyên bổ ích trong việc
nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Xin gởi lời cảm ơn đến tất cả quý thầy cô trong Bộ môn Bảo vệ Thực
vật, Khoa Nông nghiệp và Sinh học ứng dụng, trƣờng Đại học Cần Thơ, đã
truyền đạt kiến thức cho em trong suốt thời gian học tập và làm luận văn tại
Bộ môn.
Xin tỏ lòng biết ơn thầy cố vấn học tập Ths. Nguyễn Chí Cƣơng đã luôn
chỉ bảo và giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập.
Xin chân thành cảm ơn anh Đỗ Thành Đạt, đã nhiệt tình hƣớng dẫn,
rồng ở cơi đọt trƣớc nên phát triển nhanh hơn.
Biện pháp cắt có nhiều chồi hơn. Có thể làm tăng sản lƣợng khi xử lý
biện pháp này ở cơi 1 hoặc 2. Đối với biện pháp này cây sẽ chậm sinh trƣởng
vì vậy nên bón phân và phun thuốc dinh dƣỡng hợp lí để cây phát triển đúng
thời vụ nhƣ mong muốn.
vi
MỤC LỤC
TÓM LƢỢC
vi
DANH SÁCH BẢNG
ix
DANH SÁCH HÌNH
x
DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT
xi
MỞ ĐẦU
1
3
1.2.3.3 Bón phân
3
1.2.3.4 Phương pháp bón phân
4
1.2.4 Hội chứng chổi rồng
4
1.2.4.1 Tình hình dịch hại
4
1.2.4.2 Triệu chứng
5
1.2.4.3 Tác nhân
6
1.3. Đặc điểm hình thái sinh học của nhện lông nhung Eriophyes sp.
6
1.4 Đặc tính một số loại nông dƣợc và phân bón
10
1.4.1 Thuốc trừ sâu ACTIMAX 50WG
10
1.4.2 Thuốc trừ nhện MAP GREEN 6AS
11
1.4.3 Phân bón NPK đầu trâu 20 -20 -15
11
CHƢƠNG 2: PHƢƠNG TIỆN VÀ PHƢƠNG PHÁP
12
2.1 Phƣơng tiện
12
2.1.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
12
2.1.2 Vật liệu và dụng cụ thí nghiệm
CHƢƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
23
4.1 Kết luận
23
4.2 Đề nghị
23
TÀI LIỆU THAM KHẢO
24
viii
DANH SÁCH BẢNG
Bảng
Tên bảng
Trang
3.1
Độ hữu hiệu của phun thuốc trừ nhện lông nhung kết hợp biện
Nhện lông nhung tuổi 1
7
1.4
Nhện lông nhung tuổi 2
8
2.1
Sơ đồ thí nghiệm tại vƣờn
14
3.1
Diễn biến mật số nhện trên đọt và tỉ lệ hiện tƣợng chổi rồng
trên nhãn đƣợc thí nghiệm tại vƣờn nông dân ở xã Phú An,
huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang.
21
3.2
Sự tƣơng quan giữa số chồi non trên đọt và sức sinh trƣởng
của cây nhãn đƣợc thí nghiệm tại vƣờn nông dân ở xã Phú An,
huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang.
Tục, 2004).
Trong thời gian gần đây, nguy cơ phát thành dịch bệnh "chổi rồng" (hay hội
chứng "chổi rồng") trên cây nhãn là rất cao, nhất là trên nhãn tiêu da bò ở vùng từ
miền Đông Nam Bộ đến ĐBSCL. Biện pháp quản lý và điều trị loại bệnh này vẫn
còn trong thời gian nghiên cứu và kiểm chứng trước khi đưa ra biện pháp phòng trị
hiệu quả nhất.
Do đó đề tài: “Đánh giá hiệu quả của một số biện pháp kỹ thuật canh tác
và phƣơng pháp xử lý thuốc hóa học đối với nhện lông nhung Eriophyes sp.
gây hiện tƣợng chổi rồng trên nhãn tiêu da bò tại tỉnh Hậu Giang” được thực
hiện nhằm đánh giá hiệu quả phòng trừ nhện lông nhung và các biện pháp canh tác
liên quan đến bệnh chổi rồng tại tỉnh Hậu Giang để tìm ra biện pháp quản lí bệnh
chổi rồng có hiệu quả nhất.
1
CHƢƠNG 1
LƢỢC KHẢO TÀI LIỆU
1.1 SƠ LƢỢC VỀ NGUỒN GỐC, PHÂN BỐ NHÃN TRONG NƢỚC VÀ
TRÊN THẾ GIỚI
Nhãn tên khoa học là Dimocarpus longana, thuộc họ Sapindaceae, có nguồn
gốc ở miền Nam Trung Quốc. Hiện nay, Trung Quốc vẫn là nước có diện tích nhãn
lớn nhất và sản lượng vào loại hàng đầu trong các nước trồng nhãn. Diện tích trồng
nhãn của Trung Quốc 1995 là hơn 80.000 ha, tập trung nhiều ở Quảng Đông, Quảng
Tây, Phúc Kiến, Tứ Xuyên, Vân Nam …(Trần Thế Tục, 2000).
Ngoài Trung Quốc, nhãn còn được trồng nhiều ở Thái Lan, Việt Nam, Ấn Độ,
Philippines…. Đến cuối thế kỷ 19 nhãn mới được trồng ở một số nước Châu Mỹ,
Châu Phi, Châu Đại Dương trong vùng nhiệt đới và á nhiệt đới. Ở Thái Lan, diện
tích trồng nhãn là 31.855 ha với sản lượng hằng năm là 87.000 tấn, trồng chủ yếu ở
gấp đôi nhãn long. Đa số giống nhãn này còn được trồng bằng cách chiết. Trong
thời gian gần đây, diện tích nhãn tiêu da bò tăng lên rất nhanh. Đây là giống có
nhiều triển vọng. Nhược điểm của giống này là khi ra hoa đòi hỏi phải xử lí bằng
cách khoanh vỏ, nhưng có thể lợi dụng nhược điểm này để chủ động xử lí cây ra
hoa theo ý muốn (Nguyễn Minh Châu và ctv., 1997).
1.2.3 Kĩ thuật chăm sóc cây nhãn
1.2.3.1 Tưới nước
Theo Phan Kim Hồng Phúc (2002), tưới cây nhãn trong tháng đầu tiên cực kỳ
quan trọng. Tuần đầu tưới mỗi ngày 2 lần sáng và chiều, tuần sau cách ngày tưới
một lần. Theo Trần Thể Tục (2000), tưới từ từ, từ ngoài vào trong gốc cây, chống
đóng ván mặt.
Làm cỏ, xới đất, phủ líp: làm thường xuyên khi cây còn nhỏ tránh cạnh tranh
chất đinh dưỡng. Khi cây bắt đầu cho trái mỗi năm xới đất một lần để đất líp được
tơi xốp. Dùng rơm rạ, cây rẫy đã thu hoạch, hoặc cỏ khô đậy líp trong mùa nắng đế
giữ ẩm (Nguyễn Phước Tuyên và ctv., 2001). Đắp mô, bồi líp: trong 2 năm đầu
hàng năm cần đắp thêm đất khô vào chân mô. Đen năm thứ 3 trở đi, hàng năm nên
vét bùn non ở đáy mương, bồi thêm líp một lớp khoáng 2-3 cm ngay sau khi làm
gốc, bón phân (Kỹ thuật trồng nhãn, Trung tâm Khuyến nông Tiền Giang).
1.2.3.2 Cắt tỉa cành
Theo Trần Thế Tục (1999), việc cắt tỉa đế tạo cho cây nhãn có khung tán cân
đối, tạo điểu kiện cho cây quang hợp tốt, tích lũy vật chất cần thiết cho sự sinh
trưởng và phát triển, đế cây sớm ra hoa có quả đạt năng suất cao. Một thân chính có
3-4 cành chính, mỗi cành cách nhau ít nhất 20 cm. Tỉa bỏ những cành không cần
thiết, tiêu hao dinh dưỡng vô ích, cành vượt, cành sâu bệnh, cành trong tán che
khuất lẫn nhau, cành sau khi thu hoạch quả, vào trời nắng.
1.2.3.3 Bón phân
Việc bón phân cho cây nhãn căn cứ vào độ lớn của cây, giống và độ màu mỡ
của đất. Theo Vũ Công Hậu (2000), cây chưa ra quả từ năm 1 đến năm 3, năm 4:
3
Theo báo cáo của ngành nông nghiệp các tỉnh ĐBSCL, hiện hội chứng chổi
rồng (còn có tên gọi khác tùy địa phương như: đầu lân, tổ rồng, cùi nhãn, hoa tre,
chổi xể, chổi ma, chùn ngọn, đọt chổi...) đang gây hại 5.000 ha nhãn trong vùng
(2010), chiếm khoảng 12% diện tích nhãn tại đây. Trong đó, riêng 4 tỉnh: Vĩnh
Long, Bến Tre, Tiền Giang và Trà Vinh có tới 3.900 ha nhãn bị
bệnh.( />4
Theo Thanh Hiền (2009) cho biết, hội chứng chổi rồng đang được xem là đối
tượng gây hại quan trọng nhất trên cây nhãn ở nước ta cũng như trên Thế giới. Ở
Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long vào năm 2007 chỉ thấy xuất hiện hội chứng chổi rồng rải
rác trên vài cây nhãn tiêu da bò ở 4 xã cù lao nhưng đến nay đã có trên 189 ha vườn
đã nhiễm hội chứng chổi rồng, có nhiều cây tỷ lệ bệnh lên đến 100% và bệnh ngày
càng có chiều hướng phát mạnh, lây lan rộng.
Theo Phạm Thị Bình (2010) cho biết chi cục Bảo Vệ Thực Vật tỉnh Vĩnh Long
ghi nhận toàn tỉnh có gần 3.000/7.000 ha nhãn đang bị nhiễm hội chứng chổi rồng
với tỷ lệ gây hại từ 9-40%.
1.2.4.2 Triệu chứng
Theo Sở Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn tỉnh Bến Tre ghi nhận, khi
nhện xâm nhập đẻ trứng vào mặt dưới lá búp, chúng tiết ra chất có tác dụng làm
biểu bì lá phát triển thành nhiều lông nhỏ mịn như nhung, nên gọi là “nhện lông
nhung”. Mặc dù nhện lông nhung xâm nhập, gây hại ngay từ khi lộc non mới nhú ở
các đầu cành, nhưng dấu vết bị hại chỉ lộ rõ để mắt thường có thể nhận biết lúc lá
non hình thành. Khi lông nhung khô cứng dần, thì lúc này nhện cũng bắt đầu di
chuyển đi nơi khác.
Cũng theo Thanh Hiền (2009) cho biết bệnh gây hại trên các chồi lá non và
ngay cả trên hoa, làm cho chồi lá, hoa không phát triển được mà bị biến dạng, mọc
thành chùm và co cụm lại như bó chổi. Các phân đoạn trên chồi lá, chùm hoa đều
ngắn và nhỏ lại. Nhìn từ xa như dạng một tổ chim, hoặc dạng hoa tre hay dạng cây
chổi. Trên hoa thì làm cho hoa kém phát triển và khả năng đậu trái rất kém, trái kém
ERIOPHYES SP.
1.3.1 Đặc điểm hình thái
1.3.1.1 Trứng
Theo Nguyễn Thị Kim Thoa (2007), trứng nhện trông như một chấm nhỏ, có
đường kính 0,032mm, rất khó nhìn thấy bằng mắt thường.
Theo Phạm Minh Sang (2010) thì trứng nhện có kích thước rất nhỏ đường kính
từ là 31,42±1,79 µm (biến động trong khoảng 30-35 µm), rất khó nhìn thấy bằng
mắt thường. Trứng mới đẻ có dạng hình cầu, màu trắng, trong suốt, rất dễ vỡ, sau
đó trứng sẽ chuyển dần sang màu trắng đục, trứng sắp nở có màu trắng đục.
Hình 1.2: Trứng nhện lông nhung
6
(Nguồn: Phạm Minh Sang, 2010)
1.3.1.2 Ấu trùng
Theo Phạm Minh Sang (2010), ấu trùng nhện lông nhung (Eriophyes sp.) có 2
tuổi.
- Tuổi 1: Nhện non mới nở có màu trắng trong, có 2 cặp chân hướng về phía
trước, do có kích thước rất nhỏ nên khó nhìn thấy bằng mắt thường. Cơ thể có dạng
hình củ cà rốt, thon nhọn dần về phía đuôi, có nhiều ngấn trên lưng, thân nhện sần
sùi do trên cơ thể có lớp lông tơ ngắn còn co lại chưa duỗi thẳng ra. Theo kết quả
cho thấy, chiều dài trung bình cơ thể là 72,60±4,59 µm (biến động trong khoảng 6280 µm). Chiều rộng trung bình cơ thể là 29,98±0,46 µm (biến động trong khoảng
29-32 µm). Sau đó, nhện non chuyển dần dần sang màu trắng hơi đục, trước khi lột
xác chuyển sang tuổi 2 các đôi chân thu vào bên dưới cơ thể, trên cơ thể nhện các
lông dựng lên.
A
Theo Phạm Minh Sang (2010), thành trùng có kích thước rất nhỏ, mắt thường
rất khó nhìn thấy, hình dạng và đặc điểm cũng giống như ấu trùng nhưng có kích
thước lớn hơn. Chiều dài cơ thể là 105-120 µm. Chiều rộng cơ thể là 35-40 µm.
Thành trùng lúc mới lột xác cũng có màu trắng trong, sau đó chuyển dần sang
màu trắng vàng. Trên mặt lưng có nhiều hang gờ nhỏ nằm cắt ngang, có 2 lông
lưng, 2 lông dài ở cuối than và nhiều hang long trên cơ thể (Phạm Minh Sang, 2010)
Theo Viện Nghiên cứu cây ăn trái miền Nam cũng cho rằng nhện có kích
thước rất nhỏ, cơ thể có chiều dài từ 0,12-0,17 mm, than màu trắng vàng.
Cũng theo Nguyễn Văn Đĩnh (2005), nhện có kích thước nhỏ, hình củ cà rốt
màu trắng ngà, chiều dài 0,12-0,17 mm, cơ thể thon dần về phía cuối. Phía trước cơ
thể có 2 đôi chân, vuốt cân long 5 hàng. Trên mặt lưng có 70-72 ngấn cắt ngang.
1.3.2 Đặc điểm sinh học
Theo Phạm Minh Sang (2010), nhện đẻ từng trứng riêng lẻ ở mặt dưới lá, chủ
yếu tập trung ở gần hay trên gân chính, nơi phía dưới các lông của lá. Thời gian
phát triển trung bình của trứng là 3,3±0,6 ngày (biến động trong khoảng 2-4 ngày).
Nhện non tuổi 1, khi mới nở cơ thể còn yếu nên ít di chuyển, nhưng sau
khoảng vài giờ nhện di chuyển quanh chỗ mới nở để tìm nơi thích hợp chích hút và
gây hại. Khi chuẩn bị lột xác nhện non ít di chuyển, tìm chỗ an toàn gần gân lá hoặc
các lông của lá. Nhện non lột xác rất nhanh, chỉ trong khoảng thời gian rất ngắn
8
(khoảng trong vòng một phút), lớp vỏ tách ra từ vị trí ở đỉnh đầu và lột về phía cuối
đuôi để cơ thể thoát ra khỏi lớp vỏ cũ và để lại lớp vỏ trên mặt lá. Thời gian phát
triển trung bình của nhện non tuổi 1 là 1,8±0,6 ngày (biến động trong khoảng 1-3
ngày) (Phạm Minh Sang, 2010).
Cũng theo Phạm Minh Sang (2010), nhện non tuổi 2 có đặc điểm sinh học
tương tự nhện non tuổi 1. Thời gian phát triển của ấu trùng tuổi 2 trung bình là
2,0±0,6 ngày (biến động trong khoảng 1-3,5 ngày). Thành trùng mới lột xác từ tuổi
2 di chuyển nhanh ra khỏi nơi lột xác để chích hút và gây hại. Khi đã phát triển đầy
hại ngay từ khi lộc non mới nhú ở các đầu cành, nhưng dấu vết bị hại chỉ lộ rõ để
mắt có thể nhận biết được là lúc lá non hình thành, có độ lớn trên dưới khoảng 1
cm, có màu vàng xanh và bắt đầu cong úp xuống, mặt dưới phiến lá xuất hiện các
lông nhung màu xanh nhạt, mềm, sau đó chuyển sang vàng rồi nâu cứng. Khi lông
nhung khô cứng dần, lúc này nhện cũng bắt đầu di chuyển sang nơi khác.
1.3.4 Triệu chứng và mức độ gây hại
Theo MAF Biosecurity New Zealand (2007), đây là loài được ghi nhận là một
dịch hại quan trọng ảnh hưởng khoảng 71% trên cây vải ở Ấn Độ (Singh et al.,
2002). Nó gây hại làm cho lông lá phát triển, bề mặt lá nhăn nheo, dày lên và xuất
hiện những nốt sần (Morton, 1987). Sự gây hại này làm cho lá bị héo, rụng sớm,
khả năng đậu trái ít và trái kém phát triển (Kumer, 1992).
Theo Nguyễn Văn Đĩnh (2005) ghi nhận nhện gây hại làm mặt dưới lá và trên
quả tạo nên một lớp lông nhung màu vàng nâu đến nâu thẵm, lá dầy lên và nhăn
nhúm.
Khi mới bị hại, vết hại có màu xanh hơn bình thường, đồng thời xuất hiện các
lông dài và mãnh có màu trắng bạc, sau 3-4 ngày lớp lông này sẽ chuyển từ màu
nâu nhạt sang nâu đậm, lúc này lá cũng bị nhăn nhúm. Khi lá già hoặc lớp lông
nhung chuyển sang màu nâu thẫm thì nhện cũng chuyển sang các lá non khác để
sinh sống. Vết hại trên quả cũng tương tự như trên lá. Khi nhện gây hại nặng sẽ làm
cho cây không phát triển được, có thể không có quả hoặc có quả rất ít, nếu có thì nụ
và quả cũng không lớn lện được và bị rụng sớm (Nguyễn Văn Đĩnh, 2005).
1.4 ĐẶC TÍNH MỘT SỐ LOẠI NÔNG DƢỢC VÀ PHÂN BÓN
1.4.1 Thuốc trừ sâu ACTIMAX 50WG
Tên thương mại: ACTIMAX 50WG
Thành phần: Emamectin benzoate 50 g/kg, phụ gia vừa đủ 1 kg.
Tác dụng: Actimax 50WG là thuốc trừ sâu sinh học thế hệ mới với hoạt chất
Emamectin benzoate trích ly trong quá trình lên men nấm Streptomyces avermitilis.
Hoạt chất Emamectin benzoate tấn công cơ chế dẫn truyền xung động thần kinh làm
cho sâu hại bị tê liệt và chết. Sau khi phun Actimax 50WG sẽ thấm vào bên trong
CHƢƠNG 2
PHƢƠNG TIỆN VÀ PHƢƠNG PHÁP
2.1 Phƣơng tiện
2.1.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian
Đề tài được thực hiện từ tháng 11/2014 đến tháng 1/2015
Địa điểm
Đề tài được thực hiện tại xã Phú An, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang và
phòng thí nghiệm Bộ môn Bảo vệ thực vật, Khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng
dụng, Trường Đại học Cần Thơ.
2.1.2 Vật liệu và dụng cụ thí nghiệm
Vật liệu thí nghiệm
- Vườn nhãn tiêu da bò với diện tích 5000 m2. Vườn có độ tuổi trên 10 năm.
- Các loại thuốc trừ nhện: Actimax 50WG, Map Green 6AS.
- Phân bón NPK 20-20-15.
Dụng cụ thí nghiệm
- Kính hiển vi, kính nhìn nổi, máy phun thuốc, máy ảnh, bao nilong, giấy, viết,
máy tính,…
2.2 Phƣơng pháp
Đề tài được thực hiện tại vườn nhãn của nông dân ở xã Phú An, huyện Châu
Thành, tỉnh Hậu Giang với mục tiêu đánh giá hiệu quả của biện pháp cắt tỉa cơi đọt:
cắt, tỉa, không xử lí. Kết hợp với đánh giá hiệu quả của các loại thuốc đối với nhện
lông nhung sau một lần phun, hai lần phun, không phun thuốc (Actimax 50WG
phun lần 1 và Map Green 6AS phun lần 2).
Bố trí thí nghiệm:
Thí nghiệm được bố trí trên vườn chuyên canh nhãn tiêu da bò ở giai đoạn kết
thúc cơi đọt 1, chuẩn bị cơi đọt 2, với tỷ lệ chổi rồng trên vườn từ 20-30%. Vườn
nhãn chia làm 9 lô với 3 nhóm tương ứng là 3 biện pháp xử lý thuốc trừ nhện gồm
có: phun thuốc 1 lần, phun thuốc 2 lần và không phun thuốc và 3 biện pháp cắt tỉa
cơi đọt khác nhau: