BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
PHÙNG MINH LƯƠNG
NGHIÊN CỨU MÔ HÌNH VÀ YẾU TỐ
ẢNH HƯỞNG ĐẾN BỆNH TAI MŨI HỌNG
THÔNG THƯỜNG CỦA DÂN TỘC Ê ĐÊ
TÂY NGUYÊN, ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CỦA
MỘT SỐ BIỆN PHÁP CAN THIỆP PHÙ
HỢP Ở TUYẾN THÔN BẢN
Chuyên ngành: MŨI HỌNG
Mã số: 62.72.53.05'
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SỸ Y HỌC
HÀ NỘI - 2011
Công trình được hoàn thành tại TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
Người hường dẫn khoa học:
PGS.TS Nguyễn Tấn Phong
GS.TS Đặng Tuấn Đạt
Phản biện 1: GS TS Trương Việt Dũng
chí Y Học thực hành, số 10, tr: 42 - 47.
3.
Phùng Minh Lương, Nguyễn Tấn Phong, Đặng Tuấn Đạt
(2009), “Nghiên cứu tỷ lệ bệnh lý TMH vào mùa khô của dân
tộc Ê Đê Tây Nguyên”, Tạp chí Y Học thực hành, số 2, tr: 8789.
4.
Phùng Minh Lương (2009), “Tìm hiểu cơ cấu bệnh lý
TMH tại bệnh viện tuyến tỉnh Tây Nguyên”, Tạp chí
Y Học thực hành, số 1, tr: 33 - 35.
5.
Phùng Minh Lương, Nguyễn Tấn Phong, Đặng Tuấn Đạt
(2009), “Ngiên cứu tỷ lệ viêm mũi xoang ở cộng đồng dân tộc
Ê Đê- Tây Nguyên”, Tạp chí Y Học thực hành, số 9, tr: 47 48.
6.
Phùng Minh Lương, Nguyễn Tấn Phong, Đặng Tuấn Đạt
(2009), “Nghiên cứu tỷ lệ viêm họng ở cộng đồng dân tộc Ê
Đê- Tây Nguyên”, Tạp chí YHọc thực hành, số 9, tr: 29 - 31.
7.
Phùng Minh Lương (2009), “Nghiên cứu tỷ lệ viêm tai ứ dịch
ở trẻ em dân tộc Ê Đê- Tây Nguyên”, Tạp chí Y Học thực
khoa Y Tế cộng cộng, PGS.TS Phạm Thiện Ngọc, ThS.BS Nguyễn Ngọc Long,
PGS. TS Nguyễn Thị Ngọc Dung, TS Nguyễn Đăng Vững.
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới: các trạm y tế xã Ea Tu, Cư Ebur, Ea Pok. Nhân viên y tế thôn buôn và nhân dân 3 buôn
Ko Tam, Ea Sut, Dha Prong.
Thấm đẫm trong tôi tình thương yêu nồng nàn và sâu lắng của gia tộc họ Phùng, Ông Bà nội, Ba Mạ, Má, vợ con,
anh chị em tôi trong những năm tháng dài học tập. Đọng lại trong tôi là hình ảnh của người thân, đồng nghiệp và
bạn bè gần xa đã quan tâm động viên tôi trong học tập và hoàn thành luận án. Cảm ơn sông Hiếu và nông trường
Tây Hiếu nơi tôi sinh ra, lớn lên và luôn tắm mát tâm hồn tôi.
Phùng Minh Lương
8
111
CHỮ VIẾT TẮT
CSSKBĐ
Chăm sóc sức khỏe ban đầu
ĐTNC
GSGC
Đối tượng nghiên cứu
Gia súc gia cầm
KAP
NC
Kiến thức - thái độ - thực
Viêm họng cấp tính
VM
Viêm mũi
VMCT
Viêm mũi cấp tính
VMMT
Viêm mũi mạn tính
VMDU
Viêm mũi dị ứng
VMX
Viêm mũi xoang
VX
Viêm xoang
VXCT
Viêm xoang cấp tính
MỤC LỤC
10
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1. Danh sách các cá thể chọn vào NCCN mô hình bệnh TMH
52
Bảng 2.2. Danh sách chọn cá thể NC các yếu tố liên quan tới bệnh TMH
55
Bảng 2.3. Công thức tính OR
71
Bảng 3.1. Tỷ lệ giới tính của ĐTNC
73
Bảng 3.2. Tỷ lệ các nhóm tuổi
73
Bảng 3.3. Đặc điểm kinh tế hộ gia đình
Bảng 3.38. So sánh bệnh VMDƯ theo giới
Bảng 3.19. So sánh bệnh viêm tai giữa cấp theo tuổi
Bảng 3.39. So sánh bệnh viêm xoang cấp tính theo giới
Bảng 3.20. So sánh bệnh viêm tai giữa cấp tính theo giới
Bảng 3.40. Đặc điểm các bệnh viêm xoang mạn tính
Bảng 3.21. So sánh bệnh VTGMT thủng nhĩ theo giới
Bảng 3.41. So sánh đặc điểm bệnh VXMT theo mùa
Bảng 3.22. So sánh bệnh VTGMT thủng nhĩ theo tuổi
Bảng 3.42. So sánh đặc điểm bệnh VXMT theo giới
73
84
74
85
74
85
75
86
76
86
77
87
77
87
77
87
78
88
78
89
95
Bảng 3.46. So sánh bệnh viêm mũi xoang theo tuổi
96
Bảng 3.47. So sánh bệnh viêm họng cấp tính theo giới
97
Bảng 3.48. So sánh bệnh viêm họng cấp tính theo tuổi
97
11
Bảng 3.49. So sánh bệnh viêm họng mạn tính theo giới
98
Bảng 3.50. So sánh bệnh viêm họng mạn tính theo tuổi
98
Bảng 3.51. So sánh bệnh viêm amiđan mạn tính theo mùa
98
Bảng 3.65. So sánh thái độ với tác hại của bệnh TMH
Hình 1.10. Họng thanh quản
Bảng 3.66. So sánh thái độ xử lý khi bị bệnh TMH
Hình 1.11. Soi bóng mờ
Bảng 3.67. Hiệu quả điều trị của TTGDSK với tỷ lệ bệnh TMH
Hình 1.12. Hình ảnh soi mũi trước
Bảng 3.68. Vi khí hậu 2008 - 2009 tại địa điểm NC
Hình 1.13. Hình ảnh màng nhĩ bình thường
Bảng 3.69. Chất lượng môi trường không khí tại Ea Tu và Cư Mgar
Hình 1.14. Phim Schuller
Bảng 3.70. So sánh môi trường không khí với Nam Sơn (Hà Nội)
Hình 1.15. Tư thế Blondeau
101
Trang
101
102
8
103
12
103
15
103
16
104
17
104
17
104
18
36
Hình 1.20. Phim Coronal
36
Hình 1.21. Tư thế Axial
37
Hình 1.22. Phim Axial
37
Hình 1.23. Đặt ống thông khí
38
Hình 1.24. Chích rạch màng nhĩ
39
Hình 2.1. Sơ đồ cách chọn mẫu ngẫu nhiên đơn
50
12
61
Hình 2.10. Các dạng thường gặp của nhĩ đồ
62
63
Hình 2.11. Phân loại nhĩ đồ của Nguyễn Tấn Phong
1
3
Trang
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đổ 3.1. Biểu đổ đặc điểm nhóm tuổi của đối tượng NC
74
Biểu đổ 3.2. Biểu đổ tỷ lệ mắc bệnh Tai Mũi Họng
75
Biểu đổ 3.3. Biểu đổ đặc điểm bệnh viêm mũi xoang
76
Biểu đổ 3.4. Biểu đổ đặc điểm bệnh VTGMT thủng nhĩ
83
10
1
10
6
10
6
Biểu đổ 3.13. Biểu đồ vi khí hậu năm 2008 tại địa điểm NC
Biểu đổ 3.14. Biểu đồ vi khí hậu năm 2009 tại địa điểm NC
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tai Mũi Họng là bệnh pho biến ở nước ta do các yếu tố ảnh hưởng của khí
hậu nhiệt đới nóng và ẩm, do ô nhiễm môi trường không khí và ảnh hưởng của
biến đổi khí hậu đang gia tăng. Phong tục tập quán của đồng bào dân tộc như chăn
thả gia súc gia cầm xung quanh nhà ở, nhận thức vệ sinh phòng bệnh thấp đã làm
bệnh Tai Mũi Họng trong cộng đồng gia tăng.
Các bệnh viêm mũi xoang, viêm tai giữa, viêm họng là những bệnh thường
gặp ở cộng đồng do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, vệ sinh môi trường kém
và nhất là ở các nước chậm phát triển. Từ trước tới nay đã có nhiều công trình
nghiên cứu mô hình bệnh Tai Mũi Họng ở cộng đồng: tại Đức viêm xoang
mạn tính ở cộng đồng rất cao, khoảng 5% cộng đồng dân cư. Tần xuất viêm
1
4
mũi xoang mạn tính ở châu Âu ước tính 5% và số lần khám bệnh do viêm
xoang cấp tính gấp 2 lần viêm xoang mạn tính [8]. Ớ Hoa Kỳ trong thập niên
gần nhất, viêm mũi xoang tăng lên. Năm 1997 ở Hoa Kỳ viêm xoang trong
vòi nhĩ có vai trò quan trọng đối với tỉ lệ viêm tai giữa. Vòi nhĩ rộng và có độ
mở lớn hơn ở những quần thể này khiến họ dễ bị nhiễm các loại vi khuẩn
thường gặp của viêm tai giữa.
Việc đưa ra các biện pháp phòng phơi nhiễm với các tác nhân độc hại
như hạn chế tối đa việc tiếp xúc với khói, bụi như cải tạo hệ thống thông gió,
mang khau trang khi làm việc cũng hạn chế, giảm nhẹ đáng kể tỷ lệ mắc và tần
số mắc các bệnh đường hô hấp nói chung và hạn chế bệnh Tai Mũi Họng nói
riêng.
Chuyên ngành Tai Mũi Họng nước ta trong thập niên trở lại đây đã có
những bước phát triển nhảy vọt cả về mặt trang thiết bị kỹ thuật cũng như
phương pháp điều trị hiện đại làm tăng hiệu quả điều trị bệnh lý Tai Mũi Họng
nói chung. Tuy nhiên cùng với sự phát triển công nghiệp hóa và giao thông đã
làm gia tăng mạnh mẽ các yếu tố ảnh hưởng môi trường kết hợp với các điều
kiện sống và những tập tục của đồng bào dân tộc ít người đã làm gia tăng các
bệnh Tai Mũi Họng ở cộng đồng. Hiện nay chưa có công trình nghiên cứu về
tìm các biện pháp can thiệp hiệu quả các bệnh Tai Mũi Họng ở tuyến thôn bản
để giảm tỷ lệ các bệnh Tai Mũi Họng thông thường. Việc tìm các yếu tố ảnh
hưởng tới bệnh Tai Mũi Họng và áp dụng các biện pháp can thiệp để giảm mắc
bệnh Tai Mũi Họng ở cộng đồng là rất cần thiết.
Trên thực tế ở nước ta Tai Mũi Họng đang được phát triển về các kỹ
thuật về thăm khám và điều trị. Tuy nhiên những tiến bộ này đa số chỉ có ở các
thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Huế...
Ớ Tây Nguyên và nhiều vùng nông thôn của Việt Nam việc áp dụng các tiến
bộ còn hạn chế do thiếu nhân lực và tiềm lực y tế để chăm sóc sức khỏe ban
đầu cho cộng đồng trong lĩnh vực Tai Mũi Họng. Việc chan đoán và điều trị
bệnh Tai Mũi Họng tại tuyến thôn bản đang là mảng trắng nhất là tại các vùng
1
6
Năm 1991, NC VTG ở Hàn Quốc của Kim C.S [132]: VTG 2,85%, viêm tai
giữa cấp tính (VTGCT) 0,02%, viêm tai giữa ứ dịch (VTGUD) 0,06%, viêm
tai giữa mạn tính (VTGMT) 2,19%, Nam 3,10%, Nữ 2,61%.
-
Năm 1996, Min YG [142] NC viêm mũi xoang (VMX) ở Hàn Quốc: viêm
mũi dị ứng (VMDU) 1,14%, viêm xoang mạn tính (VXMT) 1,01%.
-
Năm 1996, NC VTG ở 591 trẻ em Inuit (Greenland) của Homoe P,
1
7
Christensen RB [121]: VTGMT 6,8% ở Nuuk và 11,7% ở Sisimiut, viêm tai
giữa cấp tính (VTGCT) 1.5% - 0.4%, VTGƯD: 23.0% và 28.2%.
- Năm 1997, Saim [155] điều tra 1097 trẻ từ 5-6 tuổi VTGƯD 13, 8%.
- Năm 1998, Marcgisio [141] NC 3413 trẻ từ 5-7 tuổi ở Italia, VTGƯD
14,2%.
- Năm 2000, Rhuston [154] NC 6000 trẻ 6-7 tuổi ở Hongkong, VTGƯD
5,3%.
- Năm 2002, NC VTG ở người cao tuổi (>60 tuổi) Thái Lan của Bunnag
Chaweewan [83]: viêm tai (VT) 16,3%, viêm tai ngoài 12,5 %, VTG 2,7 %.
-
Năm 2004, Bluestone C.D [79] NC VTGMT ở Inuit (Alaska) 30 - 46%,
Inuit (Canada) 7- 31 %, Inuit (Greenland) 7-12%, thổ dân Úc 12- 33%, thổ
0,075; H2S mg/m3 0,18; Bụi lơ lửng mg/m3 0,36.
- Năm 2001, Trần Duy Ninh [38] NC bệnh TMH tại 7 tỉnh miền núi phía bắc
Việt Nam, bệnh TMH: 63,61%, viêm tai xương chũm 2,71%, viêm mũi
(VM) 12,5%, VX 3,94%, VA 16,71%, VH và Amiđan 47,42%.
- Năm 2001, Nguyễn Thanh Trúc [64] NC bệnh TMH trẻ em ở vùng bãi rác
thải Nam Sơn (Sóc Sơn) Hà Nội, bệnh TMH 61,99%, Nam 50,36%, Nữ
49,64%. Tác giả đã nêu rõ tình trạng môi trường không khí cách trung tâm
bãi rác thải 400m Nam Sơn (Sóc Sơn) SO 2 mg/m3 0,08; NO2 mg/m3 0,039;
CO mg/m3 2,78; H2S mg/m3 0,042; Bụi lơ lửng mg/m3 0,42. Sống trong môi
trường không khí bị ô nhiễm như vậy nên tỷ lệ bệnh TMH của trẻ em vùng
Nam Sơn (Sóc Sơn) cao.
- Năm 2003, Nguyễn Thị Hoài An [1] NC tỷ lệ VTGƯD ở trẻ em Hà Nội.
- Năm 2004, Phạm Thế Hiển [17] NC tại Cà Mau, bệnh TMH 34,4 %, VMX
mạn tính 11,8 %, viêm Amiđan mạn tính 8.4 %, VTGMT 1,6%.
- Năm 2004, Nguyễn Văn Thanh [58] NC bệnh TMH tại các nhà máy chế biến
thủy sản tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, tỷ lệ mắc bệnh TMH 91%, VM 66,6%, VX
2.1%, VH 32,2%, viêm thanh quản 1.8%, viêm mũi teo 5.4%.
Môi trường trong lĩnh vực thủy sản thì tác động gây hại được xác định, đặc
điểm của chất loại chất thải này là dễ lên men thối rữa, vì phần lớn chúng được
1
9
hợp thành từ các vật thể sống nên phân huỷ rất nhanh dưới điều kiện thời tiết
nóng ẩm (nhiệt độ thường vào khoảng 27 0C và độ ẩm khoảng 80%). Việc phân
huỷ các chất thải này tuy không độc nhưng cũng tạo ra sự thay đoi lớn cho chất
lượng môi trường sống của những người lao động tại các cơ sở chế biến thủy
sản nông nghiệp cũng như dân cư sống ở vùng phụ cận. Đối với các nhà máy
chế biến nước mắm thì lượng khí phát tán vào khí quyển chủ yếu là SO 2, NO2,
khoẻ của người lao động nơi đây, tuy vậy VMX không phải là bệnh đặc thù
chỉ có trong lao động mới xuất hiện nên chưa được quan tâm NC nhiều
[39].
Cho đến nay đã có nhiều NC bệnh TMH tại cộng đồng ở đồng bằng, ở miền
núi phía bắc, trong các khu công nghiệp, nhà máy và đã đưa ra nhiều tỷ lệ bệnh
TMH ở phạm vi số lượng mẫu hạn chế. Chưa có NC bệnh TMH thực hiện tại
cộng đồng dân tộc ít người ở Tây Nguyên và có số lượng mẫu NC lớn như của
chúng tôi tiến hành.
1.2. Một số điểm về giải phẫu và sinh lý Tai Mũi Họng
TMH là những hốc nằm sâu trong vùng đầu cổ. Các hốc này được bao bọc ngoài
bởi xương như các xoang mặt, mũi, tai và xương chủm, bởi sụn
như Thanh quản, bởi cơ màng như Họng. Các hốc này được bao bọc ngoài bởi
xương như các xoang mặt, mũi, tai và xương chũm, bởi sụn như Thanh quản,
bởi cơ màng như Họng. Bên trong được lót một lớp niêm mạc, phần lớn là
niêm mạc trụ có lông chuyển (niêm mạc đường hô hấp) như mũi xoang, tai và
các tế bào xương chũm, trừ họng và phần tiền đình thanh quản là lát tầng. Lớp
niêm mạc này được chi phối bởi hệ thống mạch máu và thần kinh rất phong
phú. Do đặc điểm như vậy nên bệnh lý TMH chủ yếu là bệnh lý của niêm mạc,
bệnh lý niêm mạc là dễ bị tái phát nhất là ở cơ địa dị ứng, trẻ em...
Những đặc điểm giải phẫu ứng dụng, sinh - bệnh lý hệ thống lông
chuyển - niêm dịch hòm nhĩ - vòi và nhất là sự giống nhau về nguyên lý điều
trị giữa VTGƯD và VX đưa ta đến nhận xét là hòm nhĩ hai bên cũng giống
như hệ thống xoang phụ của mũi: hệ thống xoang cạnh vòm. Hai hệ thống
2
1
xoang này có cùng một nơi đo là vòm mũi họng (VMH) vì vậy có thể coi vòm
họng là vùng đại phức hợp lỗ ngách và nguyên nhân, sinh bệnh học của hai hệ
2 ngách: ngách trong sát với thành trong của hòm nhĩ được gọi là ngách nhĩ, ngách
ngoài gọi là ngách thần kinh mặt.
+ Thành trên (trần nhĩ) là 1 lớp xương mỏng ngăn cách tai giữa với hố não
giữa, cụ thể là với thùy thái dương bướm.
+ Thành trước hay thành động mạch cảnh trong.
+ Thành dưới: ở thấp hơn bờ dưới của ống tai ngoài độ 3- 4mm, trong một cái
lõm gọi là ngăn hạ nhĩ. Thành này có liên hệ với nóc vịnh cảnh. Thần kinh
Jacobson nhánh của dây thần kinh số IX chui qua mặt này để vào hòm nhĩ.
Hệ thống màng nhĩ - chuỗi xương con đảm bảo sự liên tục từ màng nhĩ đến
cửa so bầu dục. Gồm có:
* Màng nhĩ: có 2 phần: trên là màng chùng Shrapnell liên hệ trực tiếp với túi
Prussak, dưới là màng căng ( 9/10 màng nhĩ) trực tiếp với atrium.
* Chuỗi xương con: ngoài vào trong có xương búa, xương đe, xương bàn đạp.
* Dây chằng.
* Các cơ: cơ búa, cơ bàn đạp.
Tai giữa được phủ một lớp niêm mạc biểu mô hô hấp với những tế bào
trụ có lông chuyển, tế bào chế nhày. Lớp biểu mô trụ chỉ lát trong lòng hòm
nhĩ và vòi nhĩ, còn nửa sau thượng nhĩ, sào đạo, sào bào và các hốc thông bào
2
3
chũm được bao phủ bởi một lớp biểu mô dẹt không có tế bào chế nhày. Dưới
niêm mạc là các tuyến chế nhày, các tuyến này phát triển mạnh ở phần trước
của hòm nhĩ và vòi nhĩ đặc biệt ở đoạn vòi nhĩ sụn. Giống như biểu mô hô hấp
trên bề mặt niêm mạc tai giữa có một lớp dịch nhày, lớp dịch này vận chuyển
liên tục xuống VMH nhờ hoạt động của hệ thống lông chuyển.
- Vòi nhĩ
+ Vòi nhĩ là một ống sụn - xương nối thông hòm nhĩ với thành bên của
+ Biến thế làm cho sóng âm có rung động với biên độ lớn nhưng cường độ
bé ở màng nhĩ thành rung động với biên độ bé nhưng cường độ lớn ở ốc tai.
+ Có chức năng bảo vệ cho bộ phận tiếp nhận ở cơ quan corti của tai trong.
Bốn điều kiện để tai giữa thực hiện tốt chức năng truyền âm:
+ Màng nhĩ kín và rung động tốt theo tác động của sóng âm; tiếp nhận sóng
âm và chuyển dao động âm (với âm đơn có hình sin) thành rung động cơ học.
+ Chuỗi xương con liên tục, chuyển rung động cơ học từ màng nhĩ đến cửa
so bầu dục và cử động dễ dàng trong môi trường không khí.
+ Chuyển động hòa hợp giữa 2 cửa sổ bầu dục và cửa sổ tròn với sự lệch
pha theo tác động của sóng âm và sóng thủy lực trong dịch ống tai.
+ Không khí trong hòm nhĩ đổi mới liên tục qua đóng mở tự động vòi nhĩ.
Hình 1.2. Hình ảnh tai giữa [44]
- Hiệu quả truyền âm và khuyếch đại của tai giữa
Sóng âm đi từ nguồn âm đến tai giữa được truyền trong môi trường không
2
5
khí và khi đi qua cửa sổ bầu dục vào tai trong nó được chuyển qua môi trường
nước. Theo quy luật vật lý, sóng âm mất 99,9% năng lượng, tương ứng 30dB.
Trong quá trình truyền âm tai giữa có nhiệm vụ khuyếch đại âm để bù lại sự
mất này. Hiệu quả khuyếch đại âm ở tai giữa do:
+ Sự chênh lệch diện tích rung: của màng nhĩ và bàn đạp ở cửa sổ bầu dục
là 17 lần. Màng nhĩ có diện tích 85-90 mm 2 rung động trước tác động của sóng
âm, nằm ở 2/3 dưới. Diện tích của bàn đạp là 3,2mm 2. Tỷ lệ chênh lệch là 55:
3,2 = 17 lần, khi đến cửa sổ bầu dục âm được khuyếch đại 17 lần.
+ Hiệu quả đòn bẩy: khi màng nhĩ rung, chuỗi xương con chuyển động theo
trục quay từ mấu trước xương búa qua ngành ngắn xương đe. Tổng hợp 2 hiệu