Chế độ pháp lý về vốn trong công ty cổ phần theo pháp luật việt nam - Pdf 36

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH LUẬT KINH TẾ

CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ VỀ VỐN TRONG CÔNG TY
CỔ PHẦN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

TÁC GIẢ: TRẦN NGỌC BÁU

HÀ NỘI - 2015

1


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ VỀ VỐN TRONG CÔNG TY
CỔ PHẦN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

TÁC GIẢ: TRẦN NGỌC BÁU

CHUYÊN NGÀNH LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 60380107

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: Tiến sĩ. VŨ ĐẶNG HẢI YẾN


Trong điều kiện hiện nay của Việt Nam khi chúng ta chủ trương phát triển nền
kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa thì việc giải phóng mọi năng lực
sản xuất của xã hội theo hướng khai thác các tiềm năng sẵn có về vốn, lao động, trình
độ quản lý và các nguồn lực vật chất cần thiết khác cho nhu cầu đầu tư và phát triển
của đất nước là một nhân tố quan trọng bảo đảm cho việc thực hiện thành công các
nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội theo Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần
thứ XII của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong tiến trình đẩy mạnh việc khai thác các
nguồn lực quốc gia, chúng ta không thể không tính đến yếu tố nội lực. Nhìn lại các
loại hình doanh nghiệp hiện nay mà pháp luật Việt Nam cho phép thành lập và hoạt
động, tuy mỗi loại đều có những điểm mạnh nhất định đòi hỏi các nhà kinh doanh cần
nắm bắt để khai thác và vận dụng một cách linh hoạt phù hợp với điều kiện và sở thích
của mình; nhưng chúng ta không thể phủ nhận những lợi thế hơn hẳn của loại hình
doanh nghiệp là công ty cổ phần so với các loại hình doanh nghiệp khác. Chính những
ưu điểm vượt trội như thế, một mặt đã tạo nên lực hút rất lớn của xã hội đầu tư vào
hình thức kinh doanh này, mặt khác cũng đòi hỏi nhà nước ta cần có chính sách tạo
hành lang pháp lý thuận lợi, an toàn cho các nhà đầu tư khi thành lập các công ty cổ
phần để kinh doanh, nhất là việc hình thành một cơ chế quản lý thích hợp nhằm nâng
cao hiệu lực, hiệu quả quản lý công ty cổ phần ở Việt Nam.
Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp nói chung và công ty cổ
phần tại Việt Nam nói riêng có điều kiện thuận lợi để phát triển, Luật Doanh nghiệp số
68/2014/QH13 được Quốc hội Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Khóa
XIII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2014 và có hiệu lực thi hành từ
ngày 01 tháng 7 năm 2015 sẽ thay thế cho Luật Doanh nghiệp số 60/2005/QH11 ngày
29 tháng 11 năm 2005 và Luật sửa đổi, bổ sung Điều 170 của Luật Doanh nghiệp số
37/2013/QH13 ngày 20 tháng 6 năm 2013. So với Luật Doanh nghiệp năm 2005, Luật
Doanh nghiệp năm 2014 vừa tiếp tục kế thừa, luật hóa những quy định còn phù hợp đã
và đang đi vào cuộc sống của Luật Doanh nghiệp năm 2005, nhưng đồng thời đã sửa
đổi, bổ sung nhiều quy định mới nhằm tháo gỡ những hạn chế, bất cập của Luật cũ,
tiếp tục tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, phù hợp với thông lệ quốc tế.
Một trong những sửa đổi quan trọng của Luật Doanh nghiệp 2015 là những quy định

về vốn trong công ty cổ phần theo pháp luật Việt Nam, đặc biệt là nghiên cứu dưới
góc độ Luật doanh nghiệp 2014.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.
Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm sáng tỏ một số nội dung về chế độ
pháp lý về vốn trong công ty cổ phần hoạt động theo pháp luật Việt Nam nhằm làm
rõ những quy định mới về vốn của công ty cổ phần đồng thời hoàn thiện về mặt lý
luận những vấn đề mà hiện đang còn bỏ ngỏ hoặc mới chỉ đề cập ở mức khái quát
và đưa ra những định hướng phát triển của luật pháp Việt Nam.
Để đạt được mục đích đó, luận văn giải quyết các nhiệm vụ sau: làm rõ
những vấn đề lý luận cơ bản của chế độ pháp lý về vốn trong công ty cổ phần; thực
trạng chế độ pháp lý về vốn trong công ty cổ phần theo pháp luật Việt Nam; xây
dựng các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam liên quan chế độ pháp lý
về vốn trong công ty cổ phần.
4. Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Luận văn chỉ đề cập một trong những vấn đề cơ bản trong quy chế điều chỉnh
vốn đối với các loại hình doanh nghiệp thuộc đối tượng áp dụng của Luật Doanh
nghiệp 2014, đó là chế độ pháp lý về vốn trong công ty cổ phần bao gồm cơ chế góp
vốn; chuyển nhượng, mua lại cổ phần; thay đổi vốn và vấn đề sở hữu vốn trong công
ty cổ phần.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Phương pháp luận chung để nghiên cứu đề tài là chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Trên nền tảng phương pháp đó, luận văn đã sử dụng các
phương pháp cụ thể như: phương pháp phân tích, tổng hợp và phương pháp so sánh,
thống kê.
6. Kết luận của luận văn

7


Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:

ngày càng phát triển mạnh mẽ về số lượng, cơ cấu tổ chức và hình thức hoạt động, nổi
lên là những công ty xuyên quốc gia, đa quốc gia.
Công ty cổ phần là loại hình đặc trưng của công ty đối vốn, nghĩa là khi thành
lập và trong suốt quá trình hoạt động các thành viên công ty không quan tâm đến nhân
thân người góp vốn mà chỉ quan tâm đến phần góp vốn của họ. Bởi vì đối với loại hình
công ty này tư cách thành viên công ty và các quyền của cổ đông trong việc quyết định
các vấn đề liên quan đến cơ cấu tổ chức và hoạt động của công ty được quyết định
trước hết bởi số lượng các cổ phiếu của công ty mà người đó nắm giữ. Công ty cổ
phần được quyền phát hành chứng khoán ra công chúng. Với tính chất này, công ty cổ
phần là một hình thức tổ chức đặc biệt, năng động có thể sử dụng để huy động vốn
thông qua các giao dịch trên sàn chứng khoán.
Từ những phân tích trên, luận văn có thể đưa ra khái niệm và đặc điểm công ty

9


cổ phần như sau:
Công ty cổ phần là loại hình doanh nghiệp thuộc công ty đối vốn. Vốn của công
ty cổ phần được chia thành những phần bằng nhau gọi là cổ phần và được thể hiện
dưới hình thức cổ phiếu. Việc góp vốn vào công ty được thực hiện bằng cách mua cổ
phiếu. Các cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi giá
trị cổ phiếu mà họ sở hữu. Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân độc lập, mang tính chất
chất tổ chức cao, có cấu trúc vốn phức tạp. Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng
khoán ra công chúng để huy động vốn.
Đặc điểm của công ty cổ phần:
Về số lượng thành viên: Hầu hết pháp luật các nước đều quy định số lượng thành
viên tối thiểu mà không giới hạn số lượng tối đa (theo quy định của Luật Công ty 1990
của Việt Nam thì số lượng thành viên tối thiểu trong suốt quá trình hoạt động của công ty
cổ phần là 7 và theo Luật Doanh nghiệp 1999, Luật doanh nghiệp 2005 và Luật Doanh
nghiệp 2014 thì số lượng thành viên tối thiểu của công ty cổ phần là 3). Đặc điểm này thể

đi bản chất vốn có của công ty cổ phần. Điều đó có nghĩa là phải tạo cho bản thân
công ty cổ phần khả năng chuyển dịch các phần vốn góp một cách dễ dàng song tư
cách pháp nhân của công ty không vì sự chuyển nhượng đó mà bị thay đổi.
Trong lịch sử phát triển kinh tế, khái niệm vốn được tiếp cận dưới nhiều góc độ
khác nhau. Các nhà kinh tế học thuộc nhiều trường phái kinh tế đi trước C.Mác đã dày
công nghiên cứu vốn thông qua phạm trù tư bản và đi đến kết luận: vốn là phạm trù
kinh tế.
Kế thừa, chọn lọc tư tưởng của các nhà tiền bối, khi nghiên cứu sự chuyển hóa
của tiền thành tư bản, C.Mác đã khẳng định: "Như vậy là giá trị được ứng ra lúc ban
đầu không những được bảo tồn trong lưu thông, mà còn thay đổi đại lượng của nó, còn
cộng thêm một giá trị thặng dư, hay đã tự tăng thêm gia trị. Chính sự vận động ấy biến
giá trị đó thành tư bản" [6, tr.228].
Khẳng định trên của C.Mác đã vạch rõ bản chất và chức năng của tư bản (vốn)
trong phát triển kinh tế. Bản chất của tư bản là giá trị; chức năng của tư bản là sinh lời.
Tuy nhiên, để giá trị trở thành tư bản và sinh lời phải trải qua sự vận động. Thông qua sự
vận động, tư bản sinh sôi nảy nở và lớn lên không ngừng.
Ngày nay, do yêu cầu cao của sự phát triển, vốn không chỉ là yếu tố cần thiết
đối với quá trình sản xuất của các nước phát triển mà còn là yếu tố đóng vai trò quan
trọng của hầu hết các quốc gia đang phát triển và kém phát triển. Vì vậy, phạm trù vốn
trong phát triển kinh tế vẫn được các nhà kinh tế học tiếp tục nghiên cứu và tiếp cận nó
trên nhềiu bình diện khác nhau.
Dưới góc độ tài chính - tiền tệ, trong ấn phẩm chú giải thuật ngữu kế toán Mỹ,
tác giả Hồ Văn Mộc và Điêu Quốc Tín cho rằng, vốn là "tổng số tiền biểu hiện nguồn
gốc hình thành của tài sản được đầu tư trong kinh doanh để tạo ra thu nhập và lợi tức"
[19, tr.29].
Dưới góc độ nhân tố đầu vào, trong tác phẩm Lịch sử tư tưởng kinh tế,
I.Đ.Udanxốp và F.I.Pôlianxki kết luận: Vốn là "một trong ba yêu tố đầu vào phục vụ
sản xuất (lao động, đất đai, vốn). Vốn bao gồm các sản phẩm lâu bền được chế tạo để
phục vụ sản xuất tức là máy móc, công cụ, thiết bị, nhà cửa, kho dự trữ thành phẩm
hoặc bán thành phẩm" [25, tr.11].

nhận thức, con người có thể nắm bắt, vận dụng quy luật khách quan, tạo ra những kênh
huy động vốn một cách có hiệu quả, đáp ứng mục đích sản xuất - kinh doanh của
mình.
Thứ hai, vốn là hàng hóa đặc biệt
Trong nền kinh tế thị trường, vốn được coi là hàng hóa. Muốn phát triển sản
xuất - điều kiện đòi hỏi phải có vốn đầu tư. Nhu cầu vốn đầu tư được xe là cơ sở phát
sinh quan hệ cung - cầu về vốn trên thị trường. Như vậy, vốn hiển nhiên là đối tượng
trao đổi, mua bán trên thị trường. Với tư cách là hàng hóa, vốn có hai thuộc tính: giá
trị và giá trị sử dụng; có chủ sỗ hữu và là một trong những yếu tố đầu vào của quá
trình sản xuất.

13


Tính đặc biệt của "hàng hóa vốn" thể hiện ở chỗ: vốn có khả năng sinh lời. Với
tư cách là hàng hóa đặc biệt, quyền sửu hữu vốn và quyển sử dụng vốn tách rời nhau.
Đặc điểm nay của vốn không có ở các loại hàng hóa thông thường. Chủ sở hữu vốn sẽ
không nhận được một khoản lợi tức nào (giá bán hay lãi suất quyền sử dụng vốn) khi
bán quyền sử dụng vốn cho người mua (các nhà đầu tư). Nhà đầu tư khi mua quyền sử
dụng vốn phải bỏ ra một khoản gọi là chi phí (giá mua quyền sử dụng vốn). Nhờ có sự
tách rời quyền sở hữu vốn và quyền sử dụng vốn làm cho vốn trở nên linh hoạt trong
lưu thông và sinh lời.
Thứ ba, vốn có quan hệ mật thiết với thời gian
C.Mác viết: tiền chỉ được đem n hượng lại với điều kiện, một là, nó sẽ quay trử
về điểm xuất phát sau một kỳ nhất định, và hai là nó sẽ quay trở về điểm đó ovứi tư
cách là tư bản đã thực hiện, nghĩa là sau khi đã thực hiện được cái giá trị sử dụng của
nó, thực hiện được các khả năng của nó là sản xuất ra giá trị thặng dư [6, tr.525].
Như thế, chủ sở hữu vốn nhượng lại quyền sử dụng vốn cho nhà đầu tư trong
một khoảng thời gian xác định. Sau khi vốn trải qua chu kỳ vận động, nó quay về tay
chủ sở hữu, với một lượng giá trị lớn hơn. Đó chính là lợi tức của chủ sở hữu vốn hay

tiêu lợi nhuận, vốn có thể là nguồn tài sản (kể cả sức lao động) để làm tăng giá trị của
doanh nghiệp, hoặc vốn có thể là toàn bộ hàng hóa, tài sản, những sở hữu khác nhau
được dùng làm ra lợi nhuận.
Vì vậy, trong nền kinh tế thị trường ngoài nguồn vốn là tài sản hoặc quyền tài
sản thì lợi thế, uy tín, danh dự và thị phần trên thị trường mà doanh nghiệp đó đang có
cũng được coi là vốn của doanh nghiệp, nguồn vốn này không thể xác định và tìm thấy
ngay trước mặt, mà nằm ở lợi thế tương lai có vai trò quan trọng đối với hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp. Như vậy, ngoài nguồn vốn bằng tiền với chức năng
phương tiện thanh toán, phương tiện cất trữ, là thước đo trong quá trình lưu thông, trao
đổi phục vụ cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp còn có nguồn vốn không phải
bằng tiền. Như vậy, vốn bao gồm nhiều loại khác nhau, song điểm chính nhất vốn là
tất cả giá trị (vật chất, phi vật chất) được doanh nghiệp sử dụng để làm ra lợi luận đó là
tiền, giấy tờ được trị giá bằng tiền, tài sản, quyền tài sản, lao động, chất xám, kỹ năng,
lợi thế của doanh nghiệp.
Cũng như các chủ thể kinh doanh khác, để thực hiện các hoạt động kinh doanh
Công ty cổ phần phải có vốn. Vốn của công ty cổ phần là vẫn đề phức tạp, không chỉ
liên quan đến bản chất kinh tế, khả năng tài chính mà còn là yếu tố xác định vị thế,
năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần trên thị trường, liên quan đến hàng loạt các
vấn đề pháp lý như quyền sở hữu, chuyển nhượng, thế chấp. Không thể không nhận
thấy rằng vốn của công ty cổ phần là cơ sở vật chất cho hoạt động của nó, có thể nói
sự tồn tại và độ tin cậy của một công ty cổ phần trước các đối tác chủ yếu phụ thuộc
vào cấu trúc vốn và tư cách pháp lý của nó. Những yếu tố đó được các đối tác của
công ty quan tâm đến nhiều nhất.
1.2.2. Cấu trúc vốn trong công ty cổ phần

15


Trong công ty cổ phần, cấu trúc vốn phản ánh vị thế, quy mô, uy tín của công ty
cổ phần trên thị trường. Một cấu trúc vốn mềm dẻo, linh hoạt sẽ đáp ứng được các nhu

trị thực của công ty cổ phần khả năng kinh doanh, khả năng trả nợ không phụ thuộc

16


vào vốn pháp định mà phụ thuộc vào năng lực tài chính thực sự của công ty. Do đó,
Luật Doanh nghiệp 2014 về cơ bản đã bỏ định nghĩa vốn pháp định. Theo đó,
cơ quan nhà nước quản lý việc đăng ký kinh doanh về lĩnh vực này theo hình thức
"tiền đăng hậu kiểm". Đây là bước đột phá trong thủ tục thành lập và đăng ký kinh
doanh, trong việc gỡ bỏ rào chắn về vốn để các nhà đầu tư có cơ hội đầu tư vào những
ngành nghề kinh doanh phù hợp với khả năng của họ. Việc bỏ bốn pháp định là hoàn
toàn phù hợp với cải cách hành chính trong việc quản lý doanh nghiệp, là bước thực
hiện việc chuyển đổi từ cơ chế tiền kiểm sang hậu kiểm. Tuy nhiên, việc bãi bỏ vốn
pháp định không phải là bỏ hẳn, cũng không đồng nghĩa với sự buôn lỏng quản lý Nhà
nước. Với một số ngành nghề kinh doanh như: tiền tệ, bảo hiểm, chứng khoán, kinh
doanh bất động sản vẫn cần có quy định về vốn pháp định. Nghị định số 59/2006/NĐCP của Chính phủ quy định 16 nhóm ngành nghề, dịch vụ đòi hỏi phải có vốn pháp
định. Ví dụ: Trong lĩnh vực chứng khoán như bảo lãnh phát hành chứng khoán vốn
pháp định quy định là 165 tỷ đồng; kinh doanh dịch vụ đòi nợ vốn pháp định là 2 tỷ
đồng... Đây là những ngành kinh doanh đặc thù, rủi ro cao. Để đảm bảo an toàn cho
các nhà đầu tư, pháp luật quy định vốn pháp định đối với những ngành nghề này.
Như vậy, vốn pháp định không nằm trong cấu trúc vốn cua công ty cổ phần, việc
quy định vốn pháp định chỉ là điều kiện thành lập và đăng ký kinh doanh. Vốn pháp định
không thể phản ánh khả năng tài chính của công ty cổ phần.
Vì vậy, dưới góc độ pháp lý cấu trúc vốn của công ty cổ phần được xem xét ở
hai bộ phận: Vốn điều lệ và vốn vay.
Vốn điều lệ
Vốn điều lệ là số vốn do các thành viên, cổ đông góp hoặc cam kết góp trong một thời
hạn nhất định và được ghi vào điều lệ công ty. Nó bao gồm tài sản hữu hình và tài sản
vô hình. Tài sản vô hình không thể nhìn thấy được ngay nhưng có ý nghĩa quan trọng
đối với doanh nghiệp như quyền sở hữu trí tuệ, bí quyết kỹ thuật, uy tín của doanh

phần được gọi là cổ đông, có thể sở hữu một hoặc nhiều cổ phần. Cổ phần là căn cứ
pháp lý chứng minh tư cách của cổ đông. Quyền, nghĩa vụ của công đông phụ thuộc
vào loại cổ phần và giá trị cổ phần mà họ nắm giữ. Cổ phần có hai loại: cổ phần phổ
thông và cổ phần ưu đãi. Cổ phần phổ thông không thể chuyển thành cổ phần ưu đãi
nhưng cổ phần ưu đãi có thể chuyển thành cổ phần phổ thông theo quyết định của Đại
hội đồng cổ đông.
Cổ phần phổ thông là loại cổ phần bắt buộc phải có. Người sở hữu cổ phần phổ
thông gọi là cổ đông phổ thông. Khi thành lập công ty, các cổ đông sáng lập phải dùng
nhau đăng ký mua ít nhất 20% cổ phần phổ thông được quyền chào bán tại thời
điểm đăng ký doanh nghiệp và thanh toán đủ số cổ phần đã đăng ký trong thời hạn
chín mươi ngày, kể từ ngày công ty được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
Công ty có thể phát hành cổ phần ữu đãi. Các loại cổ phần ưu đãi chủ yếu bao
gồm:
- Cổ phần ưu đãi biểu quyết: Là cổ phần có số biểu quyết nhiều hơn so với cổ

18


phần phổ thông. Số phiếu biểu quyết của một cổ phần ưu đãi biểu quyết do Điều lệ
công ty quy định. Theo Luật Doanh nghiệp 2014, Chỉ có tổ chức được Chính phủ ủy quyền và cổ đông
sáng lập được quyền nắm giữ cổ phần ưu đãi biểu quyết.

. Ưu đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập chỉ

có hiệu trong 3 năm, kể từ ngày công ty được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh
doanh. Sau thời hạn đó, cổ phần ưu đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập chuyển đổi
thành cổ phần phổ thông.
- Cổ phần ưu đãi cổ tức: Là cổ phần được trả cổ tức với mức cao hơn so với
mức cổ tức của cổ phần phổ thông hoặc mức ổn định hàng năm. Cổ tức được chia
hàng năm gồm cổ tức cố định và cổ tức thường. Cổ tức cố định không phụ thuộc vào

Dưới góc độ kinh tế, vốn vay là do công ty cổ phần huy động từ bên ngoài, vốn
vay không phản ánh năng lực của công ty cổ phần. Vì vậy, khó có thể nói vốn vay
thuộc sở hữu của công ty cổ phần.
Dưới góc độ tài chính, vốn vay là khoản nợ phải trả của công ty cổ phần. Vì
vậy, các khoản vốn vay phải được hạch toán vào các khoản nợ và được chia thành các
khoản nợ ngắn hạn, nợ dài hạn để công ty cổ phần có phương án trả nợ. Vốn vay
không phản ánh năng lực tài chính thực sự của công ty cổ phần. Công ty cổ phần được
sử dụng vốn vay trong một thời gian nhất định. Nếu sử dụng đúng mục đích, có hiệu
quả sẽ làm tăng lợi nhuận cho công ty cổ phần.
Dưới góc độ pháp lý "vay là một hình thức cấp tín dụng giao cho khách hàng sử
dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận
với nguyên tắc có hoàn trả gốc và lãi" [khoản 1, Điều 3, Quyết định số 1627/2001/QĐNHNN].
Theo quy định của Bộ luật Dân sự bên vay trở thành chủ sở hữu tài sản vay kể
từ thời điểm nhận tài sản đó [3, Điều 472]. Như vậy, vốn vay được công ty cổ phần
chiếm hữu, sử dụng, định đoạt trong hoạt động kinh doanh làm tăng lợi nhuận của
công ty. Công ty cổ phần có thể sử dụng vốn vay bổ sung vào vốn lưu động để mở
rộng phạm vi, quy mô kinh doanh hoặc mua sắm tài sản cố định. Những tài sản cố
định được công ty cổ phần mua sắm bằng nguồn vốn vay như máy móc, thiết bị, nhà
xưởng sẽ thuộc quyền định đoạt của công ty cổ phần và khi các khoản nợ đã đến kỳ
đáo hạn công ty cổ phần phải có nghĩa vụ thanh toán cả gốc và lãi. Như vậy, dưới góc
độ pháp lý, vốn vay là vốn của công ty cổ phần từ vay thông qua hình thức tài sản,
thuê tài chính.
Ngoài việc huy động vốn vay trực tiếp thông qua các tổ chức tín dụng, công ty
cổ phần còn huy động vốn vay thông qua việc phát hành trái phiếu:
Trái phiếu
Llà loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối
với một phần vốn nợ của tổ chức phát hành (Khoản 3 Điều 6 Luật chứng khoán 2006).
Bản chất của trái phiếu là chứng chỉ ghi nợ. Việc phát hành trái phiếu ra công
chúng là hình thức vay nợ của Công ty cổ phần. Khác với các hình thức vay khác như
vay của các tổ chức tín dụng, cá nhân tổ chức khác, phát hành trái phiếu là hình thức

Nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện, là cơ sở pháp lý cho các nhà kinh doanh
điều chỉnh hành vi của mình trong quá trình hình thành, quản lý và sử dụng vốn trong
công ty cổ phần. Những quy phạm pháp luật này mang tính bắt buộc chung cho mọi
chủ thể kinh doanh.
Chế độ pháp lý về vốn trong công ty cổ phần nhằm tạo điều kiện cho vốn và tài
sản của công ty hình thành, phát triển trên cơ sở ý chí và lợi ích của các chủ sở hữu.
Nó là hành lang pháp lý cho hoạt động của các cổ đông trong việc góp vốn, chuyển

21


nhượng cũng như thay đổi vốn trong công ty cổ phần.
1.3.2. Nội dung chế độ pháp lý về vốn trong công ty cổ phần
1.3.2.1. Hình thành vốn trong công ty cổ phần
Hình thành vốn trong công ty cổ phần được hiểu là quá trình hình thành vốn và
hình thành tài sản của công ty. Nó được hiểu là quá trình các cổ đông chuyển tài sản
của mình sang tài sản công ty theo cam kết. Đây là vấn đề quan trọng đầu tiên mà pháp
luật về doanh nghiệp của bất cứ nước nào cũng đề cập và quy định. Có ba nội dung cơ
bản liên quan đến cơ chế góp vốn, đó là:
- Thứ nhất là chủ thể góp vốn vào công ty. Chủ thể góp vốn vào công ty cổ
phần là một nội dung quan trọng, không thể thiếu được của pháp luật bất cứ nước nào.
Nói đến chủ thể góp vốn tức là nói đến những tổ chức, cá nhân nào có đủ điều kiện
theo quy định của pháp luật để tham gia đầu tư vào CTCP.
Quyền tự do kinh doanh là một trong những quyền cơ bản của cá nhân và tổ
chúc kinh doanh được Hiến pháp năm 2013 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam thừa nhận nhưng điều đó không có nghĩa ai cũng có quyền góp vốn, đầu tư vào
công ty cổ phần. Do đó, Luật Doanh nghiệp phải có quy định cụ thể để xác định những
cá nhân, tổ chức nào được quyền góp vốn vào công ty và họ sẽ có tư cách như thế nào?
- Thứ hai là tài sản góp vốn. Mặc dù khái niệm tài sản đã được Điều 163 Bộ
luật Dân sự 2005 xác định "Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài

bởi tỷ lệ phần vốn góp của họ vào công ty.

24


CHƢƠNG 2
CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ VỀ VỐN TRONG CÔNG TY
CỔ PHẦN THEO LUẬT DOANH NGHIỆP 2014
2.1 HÌNH THÀNH VỐN TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN
2.1.1 Một số quy định về góp vốn thành lập công ty cổ phần theo Luật
doanh nghiệp:
Nhắc tới công ty có nghĩa là nhắc tới một thực thể kinh doanh được tạo nên bởi
sự góp vốn của hai hay nhiều thành viên. Bởi vậy góp vốn là nội dung quan trọng có
tính chất quyết định đối với các cổ đông sáng lập trong công ty cổ phần. Vốn là yếu tố
cơ bản đầu tiên mà thành viên công ty quan tâm đến, là điều kiện không thể thiếu được
đối với bất kỳ một nhà đầu tư nào, khi họ muốn trở thành thành viên công ty. Vốn là
điều kiện bắt buộc để công ty ra đời, nó là nội dung vật chất để công ty tồn tại và phát
triển.
Theo quy định tại khoản 13 Điều 4 Luật doanh nghiệp 2014: “ Góp vốn là
việc góp tài sản để tạo thành vốn điều lệ của công ty. Góp vốn bao gồm góp vốn để
thành lập doanh nghiệp hoặc góp thêm vốn điều lệ của doanh nghiệp đã được thành
lập.” Góp vốn theo hình thức công ty được hiểu là việc một cá nhân hay một tổ chức
chuyển dịch vốn của mình (biểu hiện bằng giá trị, bằng hiện vật hoặc các quyền về tài
sản…) theo một trình tự, thủ tục nhất định vào công ty (thuộc sở hữu công ty) và theo
đó được hưởng các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ trái quyền góp vốn. Với tư cách là
một thực thể pháp lý độc lập, công ty là chủ thể của quyền sở hữu công ty. Như vậy,
phương thức góp vốn là cơ sở pháp lý để hình thành quyền sở hữu của công ty. Vốn
thuộc sở hữu công ty chính là giới hạn sự rủi ro tài chính của các chủ sở hữu trên toàn
bộ số vốn đã đầu tư vào công ty. Với tư cách là người góp vốn, thành viên công ty
được hưởng quyền tài sản và chịu trách nhiệm rủi ro về phần vốn của mình góp vào


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status