NGUYỄN NGỌC KHÁNH
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
LUẬT KINH TẾ
PHÁP LUẬT VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN
ĐỐI VỚI CÁ NHÂN KHÔNG CƯ TRÚ Ở VIỆT NAM –
THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
NGUYỄN NGỌC KHÁNH
2013 - 2015
HÀ NỘI - 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
PHÁP LUẬT VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN
ĐỐI VỚI CÁ NHÂN KHÔNG CƯ TRÚ Ở VIỆT NAM THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
NGUYỄN NGỌC KHÁNH
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 60380107
tài liệu hữu ích phục vụ cho đề tài nghiên cứu cũng như tạo điều kiện cho tôi rất
nhiều trong quá trình thực hiện luận văn này.
Tôi xin gửi lời tri ân sâu sắc đến gia đình và những người bạn đã động viên,
hỗ trợ tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tập, làm việc và hoàn thành luận văn.
Xin trân trọng cảm ơn!
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
LỜI MỞ ĐẦU ........................................................................................................ 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÁ NHÂN KHÔNG CƯ TRÚ
VÀ PHÁP LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN ĐỐI VỚI CÁ NHÂN
KHÔNG CƯ TRÚ ................................................................................................. 6
1.1. Khái quát về cá nhân không cư trú và thuế thu nhập cá nhân đối với cá
nhân không cư trú .............................................................................................. 6
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm cá nhân không cư trú .............................................. 6
1.1.2. Tiêu chí xác định cá nhân không cư trú ................................................. 10
1.1.3. Khái niệm, vai trò của thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân không cư
trú ................................................................................................................... 16
1.2. Khái quát pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân không cư trú 24
1.2.1. Khái niệm pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân không cư trú
....................................................................................................................... 24
1.2.2. Cấu trúc pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân không cư trú ở
Việt Nam ........................................................................................................ 26
1.2.3. Các nguyên tắc đánh thuế áp dụng trong pháp luật thuế TNCN đối với cá
nhân không cư trú ........................................................................................... 28
1.2.4. Các yếu tố chi phối pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BHXH
Bảo hiểm Xã hội
BLDS
Bộ luật Dân sự
NSNN
Ngân sách Nhà nước
TNCN
Thu nhập cá nhân
TNDN
Thu nhập doanh nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thuế ra đời cùng với sự ra đời của Nhà nước, là điều kiện vật chất quan trọng
để Nhà nước tồn tại và phát triển. Hệ thống thuế được cấu thành bởi nhiều sắc thuế
khác nhau, hướng đến các chủ thể và các hoạt động phong phú, đa dạng của đời sống
còn những nhược điểm như: quy định về giảm trừ gia cảnh, quy định về xác định
thuế TNCN đối với một số loại thu nhập chưa hợp lý,… Ngoài ra, công tác quản lý
thuế TNCN trên thực tiễn vẫn còn gặp những vướng mắc, khó khăn gây thất thoát
nguồn thu cho NSNN. Tuy nhiên, một trong những bất cập của Luật Thuế TNCN,
cũng là một trong những điều tác giả quan tâm là các quy định của pháp luật điều
chỉnh về thuế thu thập cá nhân đối với cá nhân không cư trú. Đây là một nhóm chủ
thể chịu sự điều chỉnh của Luật Thuế TNCN, cũng là chủ thể đóng góp một phần
thu nhập của mình vào quỹ NSNN. Do đó, vấn đề đặt ra là cần quan tâm đến chủ
thể này như thế nào để vẫn đảm bảo nguồn thu, đồng thời vẫn tạo nên sự công bằng
giữa họ với nhóm cá nhân cư trú.
Chính vì vậy, việc nghiên cứu thực trạng pháp luật thuế TNCN hiện hành đối
với nhóm cá nhân không cư trú để từ đó đề ra những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp
luật cũng như nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật thuế TNCN đối với cá nhân không
cư trú ở Việt Nam là yêu cầu cấp thiết. Đó cũng là lý do để tác giả lựa chọn nghiên cứu
đề tài “Pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân không cư trú ở Việt Nam Thực trạng và một số giải pháp hoàn thiện” làm luận văn Thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Có thể nhận xét về tình hình nghiên cứu pháp luật thuế TNCN nói chung và
pháp luật thuế TNCN đối với cá nhân không cư trú qua các giai đoạn sau:
- Trước 01/01/2009: Các quy định về thuế TNCN trong Pháp lệnh Thuế thu
nhập đối với người có thu nhập cao được nghiên cứu ở một số luận văn thạc sỹ, bài
báo khoa học như: “Một số vấn đề pháp lý về thuế TNCN” - Luận văn thạc sĩ luật
học của Võ Quang Huy (1997), “Thực trạng pháp luật thuế TNCN ở Việt Nam hiện
nay và phương hướng hoàn thiện” bài viết trên Tạp chí Luật học, số 10/2007 của
Ths. Trần Vũ Hải; “Một số vấn đề về nguyên tắc công bằng trong pháp luật về thuế
2
TNCN” bài viết trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 12/2008 của Ths. Trần
Minh Đức,…
Nam. Các nghiên cứu trên là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho tác giả trong quá
trình nghiên cứu và hoàn thiện đề tài.
Tuy nhiên, có thể nhận thấy số lượng các công trình nghiên cứu một cách toàn
diện về pháp luật thuế TNCN đối với cá nhân không cư trú, nhất là ở cấp độ Luận văn
thạc sỹ không nhiều, thậm chí, theo tìm hiểu của tác giả là chưa có… Đặc biệt là từ
thời điểm ngày 01/7/2013 khi Luật Thuế TNCN được sửa đổi, bổ sung có hiệu lực ở
một số điều khoản, vẫn chưa có công trình khoa học nào đề cập đến pháp luật Thuế
TNCN đối với cá nhân không cư trú trong giai đoạn mới. Đó là thuận lợi nhưng đồng
thời cũng đặt ra những thách thức cho tác giả khi lựa chọn đề tài nghiên cứu này.
3. Phạm vi nghiên cứu đề tài
Đề tài có phạm vi nghiên cứu như sau:
- Pháp luật Việt Nam về thuế TNCN của cá nhân không cư trú tại Luật Thuế
TNCN năm 2007, sửa đổi, bổ sung năm 2012; Luật số 71/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung
một số điều của các Luật về thuế; Luật Quản lý thuế năm 2006, sửa đổi, bổ sung năm
2012; Pháp lệnh Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao; các văn bản hướng dẫn
thi hành; so sánh với pháp luật thuế TNCN của một số quốc gia trên thế giới.
- Thực tiễn thi hành pháp luật thuế TNCN đối với cá nhân không cư trú ở
Việt Nam.
4. Phương pháp nghiên cứu đề tài
Việc nghiên cứu đề tài được dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa
Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế và quản lý Nhà nước trong lĩnh vực
tài chính công.
Các phương pháp nghiên cứu được tác giả kết hợp sử dụng trong bài là:
phương pháp liệt kê; phương pháp so sánh, đối chiếu và phương pháp phân tích
tổng hợp.
4
5. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÁ NHÂN KHÔNG
CƯ TRÚ VÀ PHÁP LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ
NHÂN ĐỐI VỚI CÁ NHÂN KHÔNG CƯ TRÚ
1.1. Khái quát về cá nhân không cư trú và thuế thu nhập cá nhân đối với cá
nhân không cư trú
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm cá nhân không cư trú
Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, việc xác định nội hàm “cư trú” và
“người cư trú”, cũng như “người không cư trú” ở những bộ phận pháp luật khác
nhau có sự khác nhau. Lý giải cho sự khác biệt này, xuất phát từ chính sách và yêu
cầu quản lý nhà nước đối với từng chủ thể trong từng trường hợp nhất định.
Theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2005, nơi cư trú là
nơi người đó thường xuyên sinh sống; trường hợp không xác định được nơi cư trú
theo địa điểm thường xuyên sinh sống, thì nơi cư trú là nơi người đó đang sinh
sống. Với quy định này, có thể hiểu BLDS căn cứ vào tiêu chí về yếu tố quản lý
hành chính là nơi đăng ký hộ khẩu thường trú, tạm trú khi xác định nơi cư trú của cá
nhân. Còn tại Luật Cư trú năm 2006, sửa đổi, bổ sung năm 2013, cư trú là việc công
dân sinh sống tại một địa điểm thuộc xã, phường, thị trấn dưới hình thức thường trú
hoặc tạm trú; nơi cư trú của công dân được hiểu là chỗ ở hợp pháp mà người đó
thường xuyên sinh sống. Nơi cư trú của công dân là nơi thường trú hoặc tạm trú
[24, Điều 12]. Trong đó, chỗ ở hợp pháp là nhà ở, phương tiện hoặc nhà khác mà
công dân sử dụng để cư trú. Chỗ ở hợp pháp có thể thuộc sở hữu của công dân hoặc
được cơ quan, tổ chức, cá nhân cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ theo quy định của
pháp luật. Nơi thường trú là nơi công dân sinh sống thường xuyên, ổn định, không
có thời hạn tại một chỗ ở nhất định và đã đăng ký thường trú; còn nơi tạm trú là nơi
6
công dân sinh sống ngoài nơi đăng ký thường trú và đã đăng ký tạm trú. Trong
12 tháng; công dân Việt Nam làm việc tại cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh
sự của Việt Nam tại nước ngoài, văn phòng đại diện tại nước ngoài của các tổ chức
tín dụng, tổ chức kinh tế, cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang... và cá nhân đi
theo họ; (viii) công dân Việt Nam đi du lịch, học tập, chữa bệnh và thăm viếng ở
nước ngoài; (ix) người nước ngoài cư trú tại Việt Nam có thời hạn từ 12 tháng trở lên,
trừ các trường hợp người nước ngoài học tập, chữa bệnh, làm việc cho cơ quan đại
diện ngoại giao, lãnh sự, văn phòng đại diện của các tổ chức nước ngoài tại Việt Nam
[34; Khoản 2 Điều 4]. Người không cư trú là các đối tượng không phải những đối
tượng trên. Như vậy, trong bộ phận pháp luật điều chỉnh đối với hoạt động ngoại hối
tại Việt Nam đã có xuất hiện khái niệm “người không cư trú”, đồng thời, khái niệm
“người cư trú” theo quy định của pháp lệnh ngoại hối có sự mở rộng hơn so với việc
xác định công dân cư trú của BLDS và Luật cư trú, cả về nhóm chủ thể và phạm vi
chủ thể. Nguyên nhân của sự khác biệt này xuất phát từ yêu cầu quản lý ngoại hối, để
có thể thực hiện hiệu quả việc xác lập chủ quyền tiền tệ quốc gia, tăng cường tích lũy
và quản lý tốt dự trữ quốc gia.
Bên cạnh đó, dưới khía cạnh quyền thu thuế của Nhà nước, Luật thuế thu
nhập cá nhân cũng đề cập khá nhiều đến nội dung “người cư trú” và “người không
cư trú”. Luật Thuế TNCN năm 2007, sửa đổi, bổ sung năm 2012 đã thay đổi quy
định xác định về đối tượng nộp thuế theo tiêu chí “cư trú” cho phù hợp với tình hình
thực tế ở Việt Nam và phù hợp với thông lệ quốc tế.
Theo quy định của pháp luật Việt Nam thì việc quy định thuật ngữ cá nhân cư
trú, không cư trú trong Luật Thuế TNCN nhằm đảm bảo quyền đánh thuế của Việt
Nam được quy định trong nội dung của các Hiệp định tránh đánh thuế hai lần và phù
hợp với thông lệ quốc tế khi xác định nghĩa vụ nộp thuế của đối tượng này. Đối với
cá nhân cư trú, theo quy định tại Khoản 2 Điều 2 Luật Thuế TNCN năm 2007, sửa
đổi, bổ sung năm 2012, thì “Cá nhân cư trú là người đáp ứng một trong các điều
kiện sau:(1) Có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính trong một năm dương lịch
hoặc trong 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam;(2) có nơi ở
“Người không cư trú là người có quốc tịch Việt Nam hoặc quốc tịch nước
ngoài hoặc người không quốc tịch có thời gian cư trú tại Việt Nam dưới 183 ngày
9
tính trong một năm dương lịch hoặc tính theo 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên
có mặt tại Việt Nam hoặc không có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam”.
Người không cư trú là người không phân biệt quốc tịch và không đáp ứng
được điều kiện của cá nhân cư trú theo quy định tại Khoản 2, Điều 2 Luật Thuế
TNCN. Ngoài những đặc điểm chung của đối tượng nộp thuế thì người không cư trú
có một số đặc điểm riêng sau:
- Cá nhân không cư trú là người không đáp ứng được điều kiện cư trú về thời
gian có mặt tại Việt Nam và có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam.
- Cá nhân không cư trú là người Việt Nam, người nước ngoài có thu nhập
chịu thuế phát sinh trong lãnh thổ Việt Nam. Họ có thể là cá nhân kinh doanh, hộ
kinh doanh hoặc cá nhân không kinh doanh nhưng có thu nhập chịu thuế phát sinh
ở Việt Nam.
- Cá nhân không cư trú do thời gian hiện diện ở Việt Nam không nhiều, thậm
chí không có mặt ở Việt Nam và thu nhập chịu thuế phát sinh trong lãnh thổ Việt
Nam thường không có tính thường xuyên, cố định, do vậy các phương pháp tính
thuế và cách thức hành thu thuế (quản lý thuế) đối với người không cư trú cần đảm
bảo sự đơn giản, thuận lợi và khả thi trên thực tế.
1.1.2. Tiêu chí xác định cá nhân không cư trú
Trên thế giới, hầu hết các quốc gia đều áp dụng đánh thuế theo tiêu thức nơi
cư trú, nhưng mỗi quốc gia khác nhau, có những cách khác nhau để xác định cá
nhân không cư trú, chủ yếu là xác định tiêu thức để trở thành cá nhân cư trú, còn cá
nhân không cư trú là những trường hợp không đáp ứng được điều kiện thành cá
nhân cư trú. Đa số các nước quy định, đối tượng cư trú là những người có thời gian
sinh sống ở nước sở tại trên 182 hoặc trên 183 ngày trong năm tính thuế (có thể là
năm dương lịch hoặc năm tài chính) hoặc trong khoảng 12 tháng liên tục. Nếu
tượng nộp thuế. Theo luật thuế thu nhập cá nhân của Indonesia, thu nhập của người
chưa thành niên ngoại trừ thu nhập từ lao động hay những công việc khác có liên
quan tới việc kinh doanh của thành viên gia đình được cộng dồn vào thu nhập của bố
mẹ. Như vậy, trong một số trường hợp thì người chưa thành niên không đủ tư cách
đứng tên của chủ thể nộp thuế, mà trong những trường hợp này sẽ là bố mẹ họ.
11
Ở Nhật Bản, đối tượng nộp thuế TNCN được quy định thành ba trường hợp
cụ thể là: cư trú thường xuyên (người định cư thường xuyên ở Nhật được đánh thuế
đối với mọi nguồn thu nhập nhưng phải thường trú ở Nhật từ 5 năm trở lên); cư trú
không thường xuyên (người không có ý định cư trú thường xuyên tại Nhật nhưng có
thường trú ở Nhật từ 1-5 năm, thuế sẽ đánh vào nguồn thu nhập có phát sinh tại
Nhật); đối tượng không cư trú (người không có nơi định cư hoặc sống ở Nhật dưới
một năm phải có hợp đồng lao động hoặc giấy tờ khác chứng minh, không phải nộp
thuế thu nhập).
Ở Pháp, một người được coi là cư trú tại Pháp nếu coi Pháp là nơi ở chính,
hành nghề chính hay có các trung tâm quyền lợi đặt tại Pháp hoặc thường xuyên có
mặt ở Pháp trên 6 tháng trong 1 năm hoặc Pháp là nơi mang lại phần lớn thu nhập.
Người không cư trú là những người không đáp ứng được điều kiện trên.
Hay như ở Mỹ, cá nhân cư trú là công dân Mỹ và những người sinh sống ở
Mỹ tối thiểu là 330 ngày đêm.
Ở Philippin, đối tượng nộp thuế TNCN tại Philippin bao gồm cả các cá nhân
cư trú và không cư trú. Trong đó công dân cư trú là đối tượng chịu thuế thu nhập
trên thu nhập toàn cầu (bao gồm cả thu nhập có nguồn gốc tại Philippin và thu nhập
có nguồn gốc từ nước ngoài). Công dân không cư trú, người nước ngoài cư trú hoặc
người nước ngoài không cư trú là đối tượng chịu thuế đối với phần thu nhập phát
sinh tại Philippin.
Còn ở Trung Quốc, đối tượng nộp thuế TNCN là các cá nhân có chỗ ở hoặc
nguyên tắc đánh thuế TNCN, thực hiện tốt vai trò của loại thuế này, đối tượng nộp
thuế được chia làm hai loại là cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú. So với các
văn bản pháp luật trước, nội dung đối tượng nộp thuế đã định nghĩa rõ hơn đối
tượng cư trú (đối tượng phải nộp thuế TNCN cho Việt Nam đối với toàn bộ thu
nhập, kể cả thu nhập phát sinh ở Việt Nam và nước ngoài).
Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành thì cá nhân cư trú hay
không cư trú có thể là người Việt Nam hay người nước ngoài không phụ thuộc vào
quốc tịch của họ. Để xác định được một người là cư trú hay không cư trú, việc làm
rõ hai khái niệm “quốc tịch” và khái niệm “cư trú” là điều cần thiết. Quốc tịch của
một cá nhân chỉ mối quan hệ pháp lí giữa một Nhà nước đối với một con người cụ
13
thể thông qua chế định công dân mà không phụ thuộc vào thời gian ở quốc gia đó.
Theo điều 13 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 “Người có quốc tịch Việt Nam
bao gồm người đang có quốc tịch Việt Nam cho đến ngày Luật này có hiệu lực và
người có quốc tịch Việt Nam theo quy định của Luật này. Người Việt Nam định cư ở
nước ngoài mà chưa mất quốc tịch Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam
trước ngày Luật này có hiệu lực thì vẫn còn quốc tịch Việt Nam và trong thời hạn 5
năm, kể từ ngày Luật này có hiệu lực, phải đăng ký với cơ quan đại diện Việt Nam ở
nước ngoài để giữ quốc tịch Việt Nam ”. Còn khái niệm “cư trú” của một cá nhân là
chỉ khoảng thời gian mà cá nhân đó hiện diện tại quốc gia đó, hoặc có nơi ở thường
xuyên tại quốc gia đó hay không? Từ đây, ta có thể thấy rằng một cá nhân mang
quốc tịch của Việt Nam chưa chắc đã là cá nhân cư trú và ngược lại. Việc phân biệt
hai khái niệm này nhằm tránh trường hợp sai lầm thừa nhận cá nhân mang quốc tịch
Việt Nam là cá nhân cư trú tại Việt Nam để xác định đối tượng nộp thuế TNCN.
Khái niệm thế nào là một cá nhân không cư trú tại Việt Nam cũng được quy
định rõ trong pháp luật Thuế TNCN hiện hành. Tuy nhiên, trong hiệp định tránh
đánh thuế hai lần mà Việt Nam đã ký kết với một số quốc gia, việc xác định cá nhân
cư trú và cá nhân không cư trú khá phức tạp, do liên quan đến quyền thu thuế của
hệ gia đình (người thân như bố, mẹ, vợ/chồng, con...), xã hội (ví dụ: Hội viên các
đoàn thể xã hội, hiệp hội nghề nghiệp…), thì cá nhân đó được coi là đối tượng cư trú
của Việt Nam.
- Nếu không xác định được cá nhân đó có quan hệ kinh tế, quan hệ cá nhân
tại nước nào chặt chẽ hơn hoặc nếu cá nhân đó không có nhà ở thường trú ở nước
nào, nhưng cá nhân đó có thời gian có mặt tại Việt Nam nhiều hơn trong năm tính
thuế thì cá nhân đó được coi là đối tượng cư trú của Việt Nam.
- Nếu cá nhân đó thường xuyên có mặt cả ở Việt Nam và Nước ký kết Hiệp
định với Việt Nam cũng như không có mặt thường xuyên ở cả hai nước nhưng cá
nhân đó mang quốc tịch Việt Nam hoặc được xác định là công dân Việt Nam theo
nguyên tắc quốc tịch hữu hiệu Việt Nam thì cá nhân đó được coi là đối tượng cư trú
của Việt Nam.
15
- Nếu cá nhân đó mang quốc tịch của cả Việt Nam và Nước ký kết Hiệp định
với Việt Nam hoặc không mang quốc tịch của cả hai nước thì Nhà chức trách có thẩm
quyền của Việt Nam sẽ giải quyết vấn đề này thông qua thủ tục thỏa thuận song
phương với Nhà chức trách có thẩm quyền của Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam.
Tóm lại, dù quan điểm xác định điều kiện là cá nhân không cư trú ở các quốc
gia có khác nhau, hay tại Việt Nam, quan điểm xác định cá nhân không cư trú ở
từng thời điểm cũng có sự thay đổi, nhưng hiện nay, để thống nhất quản lý đối với
người nộp thuế thu nhập cá nhân là cá nhân không cư trú, thì đối tượng này được
hiểu là người không đáp ứng được đầy đủ các quy định về thời gian cư trú và nơi ở
thường xuyên đối với người cư trú. Cụ thể cá nhân đó có mặt ở Việt Nam ít hơn 183
ngày tính theo một năm dương lịch hoặc tính theo 12 tháng liên tục kể từ ngày có
mặt ở Việt Nam hoặc cá nhân đó không có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam.
Như vậy, hiểu theo quy định của pháp luật hiện hành thì người không cư trú
bao gồm hai loại sau:
Thuế TNCN có thể được hiểu là sắc thuế mà Nhà nước sử dụng để điều tiết
một phần thu nhập của các cá nhân vào NSNN với mục đích tạo nguồn thu cho
NSNN và thực hiện công bằng xã hội.
Thuế TNCN trên thế giới thông thường đánh vào cả cá nhân kinh doanh và
cá nhân không kinh doanh. Thuế này được coi là loại thuế đặc biệt vì có lưu ý đến
hoàn cảnh của các cá nhân có thu nhập phải nộp thuế thông qua việc xác định miễn,
giảm thuế hoặc khoản miễn trừ đặc biệt.
Một điểm đặc biệt nữa của thuế TNCN đó là hầu hết các quốc gia trên thế giới
hiện nay khi áp dụng thuế TNCN đều thực hiện trên cơ sở kết hợp hai quyền thu thuế
của Nhà nước, đó là thu thuế theo yếu tố lãnh thổ và thu thuế theo yếu tố cư trú. Theo
đó, những cá nhân là đối tượng nộp thuế TNCN không chỉ là người có quốc tịch của
Nhà nước thu thuế mà còn bao gồm cả người nước ngoài, người không có quốc tịch
có thu nhập chịu thuế phát sinh trong lãnh thổ quốc gia thu thuế. Đặc điểm này đã
phát sinh tình trạng đánh thuế hai lần thường gặp khi thực hiện nghĩa vụ thuế thu
nhập nói chung và thuế TNCN nói riêng. Đánh thuế trùng ở thuế TNCN xảy ra khi
một cá nhân với một khoản thu nhập chịu thuế có thể vừa phải nộp thuế TNCN cho
17
quốc gia mà cá nhân đó cư trú, vừa phải nộp thuế TNCN cho quốc gia mà thu nhập
đó phát sinh. Để hạn chế tình trạng này, các quốc gia trên thế giới thường lựa chọn
giải pháp ký kết các Hiệp định tránh đánh thuế hai lần hoặc quy định khấu trừ nghĩa
vụ thuế đã thực hiện ở quốc gia khác trong Luật Thuế TNCN.
* Thuế TNCN có các đặc điểm cơ bản như sau:
- Thứ nhất, thuế TNCN là thuế trực thu
Thuế TNCN là thuế trực thu bởi cá nhân có thu nhập chịu thuế là người nộp
thuế, việc nộp thuế được tiến hành từ việc khấu trừ trực tiếp từ thu nhập của cá nhân
đó mà không thông qua hành vi tiêu dùng hoặc chủ thể trung gian khác.
Do thuế trực thu trực tiếp điều tiết vào thu nhập, tài sản của tổ chức và cá