BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THỊ TRÚC NGUYÊN
NGHIÊN CỨU PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC HÓA HỌC BẰNG
TIẾNG ANH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
(Áp dụng chương trình hóa học 11)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Chuyên ngành: Lí luận và Phương pháp dạy học bộ môn hóa học
Mã số: 60140111
NGHỆ AN – 2014
Trang 1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THỊ TRÚC NGUYÊN
NGHIÊN CỨU PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC HÓA HỌC BẰNG
TIẾNG ANH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
(Áp dụng chương trình hóa học 11)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Chuyên ngành: Lí luận và Phương pháp dạy học bộ môn hóa học
Mã số: 60140111
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Cao Cự Giác
1.1.1.1.5 Nguyên tắc chung cho một tiết dạy nói...............................................................................13
1.1.1.1.6 Rèn luyện kĩ năng nói trong dạy học hóa học.....................................................................13
1.1.1.2 Kỹ năng đọc.................................................................................................................................14
1.1.1.2.1 Mục đích và ý nghĩa............................................................................................................14
1.1.1.2.2 Nguyên tắc chung cho một tiết dạy đọc..............................................................................14
Trang 3
1.1.1.3 Kỹ năng viết.................................................................................................................................14
1.1.1.3.1 Mục đích và ý nghĩa............................................................................................................14
1.1.1.3.2 Nguyên tắc chung cho một tiết dạy đọc..............................................................................14
1.1.2 Tạo sự tự tin trong giao tiếp học thuật bằng tiếng Anh.......................................................................15
1.1.2.1 Ý nghĩa của tự tin........................................................................................................................15
1.1.2.2 Tự tin trong dạy học hóa học.......................................................................................................15
1.1.3 Hội nhập với giáo dục thế giới.............................................................................................................15
1.1.3.1 Đặt vấn đề....................................................................................................................................15
1.1.3.2 Thuận lợi và khó khăn khi hội nhập............................................................................................16
1.1.3.3 Hiện trạng hội nhập quốc tế về giáo dục ở Việt Nam..................................................................17
1.1.3.4 Chiến lược hội nhập quốc tế về giáo dục.....................................................................................18
1.2 Thực trạng triển khai đề án dạy học các môn khoa học tự nhiên bằng tiếng Anh ở trường phổ thông.......18
1.2.1 Giới thiệu Đề án Phát triển hệ thống trường trung học phổ thông chuyên giai đoạn 2010 – 2020 (Số
959/QĐ-TTg ngày 24/6/2010)......................................................................................................................18
1.2.1.1 Mục tiêu.......................................................................................................................................18
1.2.1.1.1 Mục tiêu chung....................................................................................................................18
1.2.1.1.2 Mục tiêu cụ thể....................................................................................................................19
1.2.1.2 Nhiệm vụ và giải pháp.................................................................................................................20
1.2.2 Đánh giá thực trạng triển khai đề án của Bộ GD & ĐT về dạy học các môn khoa học tự nhiên bằng
tiếng Anh ở các trường THPT......................................................................................................................20
1.2.3 Phân tích những thuận lợi và khó khăn trong việc triển khai dạy học các môn khoa học tự nhiên bằng
2.2.7. CHAPTER 7: BENZENE AND ALKYL BENZENES...................................................................112
A. VOCABULARY...................................................................................................................................112
2.2.8. CHAPTER 8: ALCOHOL -PHENOL..............................................................................................122
A. VOCABULARY....................................................................................................................................122
2.2.9. CHAPTER 9: ANDEHYDES – KETONES AND CARBOXYLIC ACIDS...................................134
A. VOCABULARY....................................................................................................................................134
2.3. Kiểm tra đánh giá kết quả học tập hóa học bằng tiếng Anh.....................................................................147
2.3.1. Mục đích kiểm tra, đánh giá.............................................................................................................147
2.3.2. Nội dung kiểm tra.............................................................................................................................147
Trang 5
2.3.3. Đánh giá kết quả...............................................................................................................................147
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM...........................................................................................................149
3.1 Mục đích của thực nghiệm sư phạm..........................................................................................................149
3.2 Nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm..........................................................................................................149
3.3 Đối tượng thực nghiệp sư phạm.................................................................................................................149
3.4 Nội dung và tiến trình thực nghiệm sư phạm.............................................................................................149
3.4.1 Nội dung thực nghiệm sư phạm.........................................................................................................149
3.4.2 Tiến trình thực nghiệm sư phạm........................................................................................................149
3.5 Kết quả thực nghiệm sư phạm...................................................................................................................150
3.6 Xử lý kết quả thực nghiệm sư phạm..........................................................................................................151
3.7 Phân tích kết quả thực nghiệm sư phạm....................................................................................................153
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ.................................................................................................................................155
TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................................................................................157
Trang 6
PTPƯ
TSĐH – CĐ
Xt
Đktc
Dd
hh
ĐC
TN
TNSP
GD
HK
SGK
TNTL
TNKQ
Ủy ban nhân dân
Giáo dục – Đào tạo
Trung học cơ sở
Trung học phổ thông
Đại học
Giáo viên
Học sinh
Thành phố Hồ Chí Minh
Phương trình
Phương trình phản ứng
Tuyển sinh đại học – cao đẳng
Xúc tác
Điều kiện tiêu chuẩn
Dung dịch
Hỗn hợp
cung cấp. Riêng với môn hóa thì việc triển khai có chậm hơn so với môn khác và cũng
triển khai được ít hơn so với các môn Toán, Lý.
Như vậy, thời điểm này, ngoài phần nhỏ các trường chuyên hàng đầu trong nước
có đủ nhân lực, HS tương đối đảm bảo trình độ để thí điểm thì phần lớn các trường
chuyên khác đây vẫn đang là giai đoạn manh nha, GV vẫn đang tích lũy cho mình kiến
thức và kinh nghiệm để chuẩn bị đáp ứng với yêu cầu chung lâu dài của Bộ.
Mặc dù áp dụng việc dạy các môn khoa học bằng tiếng Anh đang còn nhiều tranh
cãi, số đồng tình chưa nhiều nhưng phải công nhận một thực tế rằng việc dạy hóa bằng
tiếng Anh có một tầm quan trọng riêng, thực hiện được mục tiêu kép đó là tăng cường
năng lực sử dụng tiếng Anh của GV và HS đồng thời tiếp cận chương trình và cách
học tiên tiến, làm tiền đề để phát triển tiềm lực khoa học sau này của HS. Đặc biệt với
HS chuyên thì đây là những mục tiêu rất quan trọng, và cũng là nhu cầu của phụ
huynh cũng như chính bản thân các em.
Nhận thấy đây là một đề tài đang rất mới và tài liệu tham khảo gần như là chưa có,
với niềm yêu thích tiếng Anh, với mong muốn đóng góp một phần tri thức nhỏ bé của
mình vào dự án phát triển lâu dài của Bộ đề ra, giúp nhiều GV và HS tiết kiệm thời
gian cũng như nhân lực, giúp bản thân có thêm cơ hội để hoàn thiện toàn diện hơn.
Những lí do trên chính là động lực to lớn để tôi thử sức mình với đề tài “Nghiên
cứu phương pháp dạy học hóa học bằng tiếng Anh ở trường THPT (Áp dụng cho
chương trình hóa 11)”.
Trong quá trình thực hiện đề tài không tránh khỏi những hạn chế về nội dung và
còn thiếu sót nhiều. Chúng tôi mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của
các Thầy cô giáo cũng như của các độc giả để tác giả có thể bổ sung, chỉnh sửa tài liệu
cho hoàn chỉnh hơn.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu phương pháp dạy Hóa 11 – bằng tiếng Anh tại các trường chuyên
THPT hiện nay.
Trang 9
- Về thời gian thực hiện đề tài: Từ 01/08/2013 đến 15/09/2014.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1.
Các phương pháp nghiên cứu lí luận
Để nghiên cứu lí luận, việc đầu tiên rất quan trọng là thu thập, đọc và nghiên cứu
các tài liệu liên quan đến đề tài. Đồng thời với việc sử dụng các phương pháp nghiên
cứu lí luận sau:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp lí thuyết;
- Phương pháp phân loại, hệ thống hóa lí thuyết;
- Phương pháp mô hình hóa;
- Phương pháp xây dựng giả thuyết;
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm lịch sử.
6.2.
Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Quan sát giờ học ôn tập, luyện tập, trao đổi với đồng nghiệp để đánh giá thực trạng
tổ chức giờ học ôn tập, luyện tập.
Trang 10
- Sử dụng phiếu điều tra và trao đổi với các chuyên gia, đồng nghiệp về sử dụng
phương pháp grap, SĐTD trong tổ chức hoạt động bài luyện tập.
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm kiểm nghiệm các đề xuất.
- Phương pháp chuyên gia.
6.3.
Phương pháp xử lí thông tin
Sử dụng phương pháp thống kê toán học trong khoa học giáo dục để xử lí kết quả
thực nghiệm sư phạm.
7. Giả thiết khoa học
Nếu xây dựng được phương pháp dạy học hóa học bằng tiếng Anh thì sẽ xây dựng
được một hệ thống bài giảng hay, có chất lượng, giúp giáo viên dạy tốt và có hiệu quả,
một hướng đi đúng có tính chiến lược, giúp giải quyết nhu cầu nhân lực chất lượng cao
cho đất nước trong những năm sắp tới.
Dưới góc độ là những người đã từng dạy môn Hóa ở trường THPT cũng như bậc
ĐH bằng tiếng Anh và với những kinh nghiệm của mình, chúng tôi xin đưa ra một số
kĩ năng cơ bản cần có đối với một giáo viên THPT khi tham gia giảng dạy học môn
hóa học bằng tiếng Anh, đó là:
• Biết sử dụng và khai thác các nguồn tài liệu tham khảo
+ Học tập được văn phong tiếng Anh sử dụng trong lĩnh vực hóa học cũng như các “
thuật ngữ “ chuyên ngành sử dụng trong hóa học.
+ Hiểu nghĩa các thuật ngữ chuyên ngành, việc tham khảo các lài liệu khác nhau giúp
cho người giáo viên có được những định nghĩa khác nhau về một thuật nghữ hay một
quá trình nào đó. Những định nghĩa khác nhau giúp cho học sinh dễ hiểu hơn khi giáo
viên giải thích.
• Biết một số qui tắc cơ bản để phát âm đúng các từ vựng tiếng Anh và biết sử
dụng các phương tiện kĩ thuật hỗ trợ giảng dạy
+ Giúp GV và học sinh có khả năng nghe tốt và hiểu khi nghe các bài giảng mà do
người nước ngoài thực hiện. Trong trường hợp phát âm sai, chính chúng ta sẽ không
thể nghe và hiểu khi một ai đó cũng phát âm đúng các thuật ngữ mà ta biết nghĩa.
+ Sử dụng một số phương tiện kĩ thuật cũng như một số đồ dùng dạy học là một cách
hiệu quả nâng cao chất lượng của bài giảng.
• Đánh giá đúng khả năng tiếng Anh của học sinh
+ Sử dụng tần suất tiếng Anh / tiếng Việt cho phù hợp với đối tượng học sinh và giao
những nhiệm vụ phù hợp, rõ ràng cho các đối tượng học sinh trong khi giảng bài.
+Giúp giáo viên chuẩn bị lượng thời gian phù hợp cho việc chuẩn bị bài giảng.
• Hiểu rõ khả năng tiếng Anh của bản thân
GV sẽ làm chủ được bài giảng khi đã biết điểm mạnh yếu của mình, từ đó có kế
hoạch kết hợp thêm một số phương tiện dạy học, cách chuẩn bị bài, thiết kế câu hỏi. . .
1.1.1.1.1 Mục đích và ý nghĩa
Mục đích của việc dạy kỹ năng nghe là giúp HS hiểu được người khác nói gì và có
thể giao tiếp.
While - Speaking, và Post – Speaking như một tiết dạy nghe. Tiến trình dạy học này
không những giúp học sinh nắm hiểu bài mà còn giúp các em sử dụng kỹ năng nói
trong giao tiếp thực tế.
1.1.1.1.6 Rèn luyện kĩ năng nói trong dạy học hóa học
Những nguyên tắc, kĩ thuật để rèn luyện kĩ năng nói trong dạy học hóa học một
cách hiệu quả
• Pre – Speaking
Trước khi vào bài nói bước đầu GV thường hướng dẫn các em khai thác bài nói
mẫu.
• While - Speaking
Trong giai đoạn này sau khi được hướng dẫn, học sinh sẽ dựa vào tình huống gợi ý
như tranh vẽ, từ ngữ, cấu trúc câu cho sẵn hoặc bài hội thoại mẫu để luyện nói theo
yêu cầu.
• Post - Speaking
Sau khi HS luyện nói dưới sự kiểm soát của chúng ta, chúng ta hướng dẫn các em
vào phần luyện Nói tự do, đây là giai đoạn cho các em tự do nói sau khi đã chuẩn bị.
Trang 13
1.1.1.2 Kỹ năng đọc
1.1.1.2.1 Mục đích và ý nghĩa
Giúp HS phát triển kĩ năng đọc hiểu, có khả năng đọc hiểu sách, báo, tài liệu bằng
tiếng Anh với những nội dung phù hợp với trình độ và lứa tuổi của HS, giúp HS có
điều kiện để thu nhận thông tin, nâng cao trình độ tiếng Anh và có hiểu biết thêm về
xã hội.
1.1.1.2.2 Nguyên tắc chung cho một tiết dạy đọc
Tiến trình của một tiết dạy đọc cũng phải trải qua 3 giai đoạn: Pre - Reading,
While - Reading, và Post - Reading.
• Pre – Reading
Viết cá nhân: Dựa trên dàn bài đã có HS tiến hành viết nháp.
- Có thể cho HS viết theo nhóm, nhóm phân công mỗi người viết một đoạn hoặc một
ý, sau đó cử một người viết tập hợp lại cả bài.
Trang 14
• Post - Writing
Chữa bài là bước rất quan trọng. Ở bước này, bài viết của HS phải được sửa sang
để không những đạt được độ chính xác về nội dung ngôn ngữ mà còn phải đạt được
một văn phong trong sáng, mạch lạc và có tính thuyết phục.
Đây cũng là bước hoàn thiện về bài dạy viết nên GV cần chú ý và không được bỏ
qua để giúp HS hoàn thiện và tự hoàn thiện kiến thức.
1.1.2
Tạo sự tự tin trong giao tiếp học thuật bằng tiếng Anh
1.1.2.1 Ý nghĩa của tự tin
Giúp cho người học có thêm động lực và sức mạnh để có thái độ tích cực đối với
quá trình học tập của bản thân. Lòng tự tin của người học sẽ được tăng thêm một khi
người học đạt được kết quả trong học tập và thấy hài lòng và khi họ được học tập
trong môi trường mà các quan hệ cá nhân thực sự thân thiện. Một khi người học thấy
mình học tập có kết quả họ sẽ trở nên quyết tâm cao hơn để đạt kết quả cao hơn.
Một số người học cảm nhận được sự thành công của bản thân khi học truyền đạt
được suy nghĩ của mình cho người khác và hiểu được ý kiến trao đổi của người khác
bằng ngoại ngữ. Một số khác lại cảm nhận sự thành công mỗi khi họ hoàn thành được
một bài tập khó trong giờ học ngoại ngữ. Dần dần cảm giác thành công sẽ tăng lên khi
người học nhận ra được sự tiến bộ trong kết quả học tập của chính mình. Tuy nhiên lại
có những người học cảm thấy hưng phấn mỗi khi được nhận những lời khen của người
khác. Lời khen của người khác rất có tác dụng giúp người học có cảm giác mình sẽ
học tập thành công.
1.1.2.2 Tự tin trong dạy học hóa học
Một trong những yếu tố tác động đến động lực, thái độ và tình cảm của người học
nhân lực nước ta có thêm cơ hội làm việc tại các nước láng giềng nhưng cũng đối mặt
với sự cạnh tranh từ các nước Asean ngay trên sân nhà.
1.1.3.2 Thuận lợi và khó khăn khi hội nhập
a. Thuận lợi
Thứ nhất, quá trình hội nhập giúp mở rộng thị trường để thúc đẩy thương mại và
các quan hệ kinh tế quốc tế khác, từ đó thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế, xã
hội.
Thứ hai, hội nhập cũng tạo động lực thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cải thiện
môi trường đầu tư kinh doanh, từ đó nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền
kinh tế, của các sản phẩm và doanh nghiệp; đồng thời, làm tăng khả năng thu hút đầu
tư vào nền kinh tế.
Thứ ba, hội nhập giúp nâng cao trình độ của nguồn nhân lực và nền khoa học công
nghệ quốc gia, nhờ hợp tác giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học với các nước và
tiếp thu công nghệ mới thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài và chuyển giao công
nghệ từ các nước tiên tiến.
Thứ tư, hội nhập làm tăng cơ hội cho các doanh nghiệp trong nước tiếp cận thị
trường quốc tế, nguồn tín dụng và các đối tác quốc tế.
Thứ năm, hội nhập tạo cơ hội để các cá nhân được thụ hưởng các sản phẩm hàng
hóa, dịch vụ đa dạng về chủng loại, mẫu mã và chất lượng với giá cạnh tranh; được
tiếp cận và giao lưu nhiều hơn với thế giới bên ngoài, từ đó có cơ hội phát triển và tìm
kiếm việc làm cả ở trong lẫn ngoài nước.
Thứ sáu, hội nhập tạo điều kiện để các nhà hoạch định chính sách nắm bắt tốt hơn
tình hình và xu thế phát triển của thế giới, từ đó có thể đề ra chính sách phát triển phù
hợp cho đất nước và không bị lề hóa.
Thứ bảy, hội nhập giúp bổ sung những giá trị và tiến bộ của văn hóa, văn minh của
thế giới, làm giàu văn hóa dân tộc và thúc đẩy tiến bộ xã hội.
Thứ tám, hội nhập tạo động lực và điều kiện để cải cách toàn diện hướng tới xây
dựng một xã hội mở, dân chủ hơn, và một nhà nước pháp quyền.
Thứ chín, hội nhập tạo điều kiện để mỗi nước tìm cho mình một vị trí thích hợp
trong trật tự quốc tế, giúp tăng cường uy tín và vị thế quốc tế, cũng như khả năng duy
1.1.3.3 Hiện trạng hội nhập quốc tế về giáo dục ở Việt Nam
Một là, ngôn ngữ: Thứ ngôn ngữ giảng dạy chính là tiếng Việt. Đây là tiếng mẹ đẻ
của người Việt chúng ta, nhưng đồng thời cũng là ngôn ngữ có tính chất riêng biệt của
người Việt, do người Việt sử dụng. Ngôn ngữ tiếng Việt không có khả năng hội nhập.
Hai là, chương trình và giáo trình giảng dạy hầu hết do giáo viên, giảng viên trong
nước biên soạn, chưa được tiêu chuẩn hoá và công nhận trên trường quốc tế. Dẫn đến
việc bằng cấp từ phổ thông đến đại học cũng chưa được công nhận và đánh giá cho
chuẩn, đúng mức.
Điều này, khiến cho HS, SV khi tham gia các chương trình trao đổi, giao lưu hàng
năm với các trường trên thế giới, hoặc chuyển ngang sang học tiếp tại các trường quốc
tế, hoặc xét học tiếp các cấp độ cao hơn đối với các HS đã tốt nghiệp trong nước còn
gặp nhiều khó khăn và trở ngại.
Ba là, GD Việt Nam chưa có một bộ quy tắc đánh giá chất lượng đào tạo, cũng như
tiêu chí xếp loại các trường, các ngành học để nước ngoài dựa vào đó hợp tác làm việc
với các trường trong nước. Dẫn đến hiện tượng một số tổ chức quốc tế tự xếp hạng các
trường ĐH Việt Nam một cách không khách quan.
Bốn là, chúng ta chưa có các cơ quan, tổ chức trung gian làm việc độc lập, khách
quan với các cơ quan quản lý Nhà nước về GD để có các ý kiến phản biện, kịp thời
chấn chỉnh cũng như góp ý cho các dự thảo hoặc Luật GD.
Năm là, đầu vào của các trường ĐH sư phạm chưa cao, chưa có được những ưu
tiên thỏa đáng về chính sách cho loại trường này, chế độ lương bổng của giáo viên
khiến cho loại hình sư phạm chưa có sức thu hút nhân tài - những người thực sự có
tâm, có đức vào làm trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo con người. Hệ thống các phòng
thí nghiệm, nghiên cứu còn quá nghèo nàn, không hút được các nhà nghiên cứu khoa
học trẻ.
Sáu là, hệ thống thi cử đánh giá thực lực khả năng của học sinh còn bất cập, mặt
khác lại gây tốn kém tiền bạc, công sức và thời gian của học sinh, các ông bố bà mẹ và
cả xã hội.
Trang 17
khác nhau, cần phải tiếp tục nghiên cứu, tổng kết thấu đáo, cẩn trọng, tạo sự thống
nhất cao để Ban Chấp hành Trung ương ban hành Nghị quyết vào thời gian thích hợp.
1.2 Thực trạng triển khai đề án dạy học các môn khoa học tự nhiên bằng tiếng
Anh ở trường phổ thông
1.2.1
Giới thiệu Đề án Phát triển hệ thống trường trung học phổ thông
chuyên giai đoạn 2010 – 2020 (Số 959/QĐ-TTg ngày 24/6/2010)
Phê duyệt Đề án Phát triển hệ thống trường trung học phổ thông chuyên giai đoạn
2010 - 2020, với những nội dung chính như sau:
1.2.1.1 Mục tiêu
1.2.1.1.1 Mục tiêu chung
Xây dựng và phát triển các trường trung học phổ thông chuyên thành một hệ thống
cơ sở giáo dục trung học có chất lượng giáo dục cao, đạt chuẩn quốc gia, có trang thiết
bị dạy học đồng bộ, hiện đại đảm bảo thực hiện nhiệm vụ phát hiện những học sinh có
tư chất thông minh, đạt kết quả xuất sắc trong học tập để bồi dưỡng thành những
người có lòng yêu đất nước, tinh thần tự hào, tự tôn dân tộc; có ý thức tự lực; có nền
tảng kiến thức vững vàng; có phương pháp tự học, tự nghiên cứu và sáng tạo; có sức
Trang 18
khỏe tốt để tạo nguồn tiếp tục đào tạo thành nhân tài, đáp ứng yêu cầu phát triển đất
nước trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập quốc tế.
Các trường trung học phổ thông chuyên là hình mẫu của các trường trung học phổ
thông về cơ sở vật chất, đội ngũ nhà giáo và tổ chức các hoạt động giáo dục.
1.2.1.1.2 Mục tiêu cụ thể
a. Củng cố, xây dựng và phát triển các trường trung học phổ thông chuyên hiện tại
đồng thời với tăng dần quy mô; bảo đảm mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có
ít nhất một trường trung học phổ thông chuyên với tổng số học sinh chuyên chiếm
khoảng 2% số học sinh trung học phổ thông của từng tỉnh, thành phố.
b. Tập trung đầu tư nâng cấp các trường trung học phổ thông chuyên thành các trường
dưỡng và phát triển năng khiếu học sinh; đồng thời thu hút nguồn lực vào phát triển hệ
thống các trường trung học phổ thông chuyên. Đến năm 2020, mỗi trường trung học
phổ thông chuyên hợp tác được với ít nhất một cơ sở giáo dục có uy tín trong khu vực,
quốc tế.
Trang 19
1.2.1.2 Nhiệm vụ và giải pháp
+ Một: Xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển và tăng cường đầu tư cơ sở vật chất,
thiết bị dạy học cho các trường trung học phổ thông chuyên
+ Hai: Phát triển đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý trong các trường trung học phổ
thông chuyên
+ Ba: Đổi mới chương trình, tài liệu dạy học và tuyển sinh, thi học sinh giỏi trong các
trường trung học phổ thông chuyên
+ Bốn: Xây dựng và hoàn thiện cơ chế, chính sách đặc thù đối với nhà trường, cán bộ
quản lý, giáo viên và học sinh các trường trung học phổ thông chuyên
+ Năm: Tăng cường công tác quản lý đối với hệ thống các trường trung học phổ thông
chuyên
+ Sáu:Tăng cường hợp tác quốc tế trong việc phát triển hệ thống trường trung học phổ
thông chuyên
1.2.2
Đánh giá thực trạng triển khai đề án của Bộ GD & ĐT về dạy học các
môn khoa học tự nhiên bằng tiếng Anh ở các trường THPT
Sở Giáo dục và Đào tạo TP. HCM đã có văn bản hướng dẫn thực hiện đầu tháng
1/2013: 10 trường THPT dạy toán bằng tiếng Anh gồm THPT chuyên Lê Hồng Phong,
THPT chuyên Trần Đại Nghĩa, THPT Lê Quí Đôn, THPT Bùi Thị Xuân, THPT Lương
Thế Vinh, THPT Gia Định, THPT Nguyễn Thị Minh Khai, THPT Hùng Vương,
THPT Nguyễn Thượng Hiền, THPT Mạc Đĩnh Chi phải sử dụng chương trình của ĐH
Cambridge. Sở Giáo dục và Đào tạo TP. HCM cho biết, về nguồn giáo viên, các
viên thỉnh giảng và giáo viên hiện có chứ không hợp đồng với Công ty EMG để thực
hiện toàn bộ chương trình vì chi phí sẽ rất cao. Sang học kỳ 2, nhà trường sẽ làm việc
lại với phụ huynh về vấn đề này. Điều làm tôi lo lắng là phụ huynh trường tôi không
khá giả, nếu học phí cao quá họ sẽ rút tên”. Ông Kiên cũng cho biết thêm: “Muốn sử
dụng chương trình của đại học Cambridge, hằng năm các trường phải đóng một khoản
phí gọi là phí thành viên thì Cambridge mới chuyển giao giáo trình, tài liệu giảng dạy.
Như vậy, ngoài khoản phí mua sách cao gấp nhiều lần so với học phí hiện nay, khoản
phí thành viên cũng sẽ được chia đều trên đầu học sinh. Nếu số lượng học sinh đăng
ký đông còn đỡ, chứ 20, 30 học sinh thì các em phải gánh phí rất nặng”.
Hiệu trưởng một trường THPT khác nêu ý kiến: “Việc thực hiện chương trình của
Cambridge chắc chắn phải có một lộ trình chứ chưa thể thực hiện ngay. Có vội vàng
quá không khi Sở chưa chuẩn bị gì về cơ sở vật chất, giáo viên đã “áp” văn bản kêu
các trường thực hiện? Cách đây nhiều năm khi thực hiện việc dạy toán, lý bằng tiếng
Pháp, giáo viên phải đi tu nghiệp một năm ở Pháp rồi mới về dạy. Trong khi đó, bây
giờ mình chưa tiến hành bồi dưỡng gì, chưa có sự chuẩn bị kỹ lưỡng. Làm ngay cũng
được nhưng mức phí cao quá, liệu phụ huynh có đồng thuận?”. Hầu hết các hiệu
trưởng đều cho rằng đây là chương trình không bắt buộc, làm được hay không phụ
thuộc vào sự đồng lòng của phụ huynh và học sinh. Ngay cả một số trường THPT nổi
tiếng ở TP. HCM, thời gian qua lớp 10 mở được nhưng đến lớp 11 thì học sinh xin rút
hết.
Bà H. T. Diễm Thúy - phụ huynh ở Quận 1 TP. HCM - cho biết: “Con tôi đang học
chương trình THCS của Cambridge. Tôi có xem sách giáo khoa của họ, khách quan
nhận xét thì chương trình của họ rất hay. Tuy nhiên, việc chuyển tải những cái hay ấy
đến học sinh là cả một quá trình và nghệ thuật của giáo viên. Con tôi nói hồi năm lớp 6
giáo viên dạy chương trình Cambridge hay lắm, nhưng lên lớp 7, rồi lớp 8 thì thầy dạy
dở quá, không chuyển tải được hết ý của bài học cho học sinh, về nhà tôi phải dạy lại
cho
cháu.
Vì vậy, ở bậc THPT khi triển khai chương trình, dù với phương thức sử dụng giáo viên
sẵn có ở trường hay thỉnh giảng tại các trung tâm, hoặc hợp đồng với cơ quan đại diện
đây, trường có khoảng 10% học sinh lớp 11 được học bổng du học. Với những học
sinh này thì được học tất cả các môn bằng tiếng Anh là nhu cầu rất thiết thực.
Ông Đậu Văn Mùi - Hiệu trưởng Trường THPT Phan Bội Châu (TP. Vinh) tâm sự:
“Tôi thấy thí điểm việc dạy tiếng Anh là môn học bắt buộc ở lớp 3 Bộ Giáo dục và
Đào tạo có lộ trình rất rõ ràng, trực tiếp mời chuyên gia nước ngoài để tập huấn cho
giáo viên các tỉnh… Trong khi với chủ trương này (dạy môn tự nhiên bằng tiếng Anh
tại các trường THPT chuyên) thì lại chưa có cái chuẩn về chương trình và giáo viên
được đưa ra cả. Mỗi trường đều tự làm theo cách của mình”. Đây cũng là băn khoăn
của hầu hết các trường. Ông Đỗ Bá Khôi nói: “Cách thức triển khai, kế hoạch cụ thể
thế nào đến nay cũng chưa rõ để chuẩn bị làm cho tốt, bởi mới chỉ được biết theo
thông báo của Bộ. Theo tôi, cần phải có giáo trình chuẩn và triển khai sớm, tránh thụ
động dẫn đến kém hiệu quả”. Ông Khôi cũng cho rằng về nguyên tắc phải tiến tới việc
sử dụng giáo trình đã được công nhận theo chuẩn quốc tế, nhưng phải phân loại cho
phù hợp với từng đối tượng học sinh. Cùng quan điểm, ông Thái Văn Bình - Hiệu
trưởng trường THPT chuyên Nguyễn Huệ, Hà Nội), đề xuất: “Muốn làm tốt, phải có lộ
trình rõ ràng. Điều quan trọng là phải nâng cao trình độ tiếng Anh của học sinh, đào
tạo giáo viên tại các trường sư phạm dạy các môn bằng tiếng Anh. Số tiết đưa vào dạy
cũng phải phù hợp”.
1.2.3
Phân tích những thuận lợi và khó khăn trong việc triển khai dạy học
các môn khoa học tự nhiên bằng tiếng Anh ở các trường THPT
1.2.3.1 Thuận lợi.
Sự nỗ lực, lòng quyết tâm vượt qua khó khăn, đặc biệt là tấm lòng yêu HS - sáng
tạo trong dạy học
Đất nước mở cửa, hội nhập vào nền kinh tế của thế giới thì việc học tiếng các môn
tự nhiên bằng tiếng Anh được xác định là thiết yếu cho mọi lứa tuổi và được đưa vào
giảng dạy ở các cấp học. Thông qua việc học các môn tự nhiên bằng tiếng Anh, HS có
cơ hội tìm tòi, học hỏi, hiểu biết hơn về đất nước, con người và văn hóa của các nước
trên thế giới và hơn hết là các em được hiểu kỹ hơn, sâu sắc hơn về đất nước mình.
• Những giáo viên không ngại khó
dụng tiếng Anh, giúp học sinh tự nghiên cứu, tham khảo thêm tài liệu các môn khoa
học tự nhiên - toán, lý, hóa trên internet là cần thiết, phù hợp với xu thế hội nhập, tiếp
cận chuẩn giáo dục tiên tiến trên thế giới. Tuy nhiên, sau 1 năm thí điểm, chương trình
mang lại kết quả không như mong đợi và đa phần các hiệu trưởng đều có tâm trạng
ngổn ngang, thậm chí cảm thấy “hụt hơi” nếu tiếp tục đi tiếp vì nhiều lý do.
Lúc đầu học sinh lớp 10 (năm học 2012 - 2013) đăng ký học tương đối đông nhưng
đến cuối năm học rơi rụng dần. Như Trường THPT Lương Thế Vinh khối lớp 10 có 40
em theo học nhưng đến lớp 11 này chỉ còn 30 em đăng ký học tiếp. Tương tự, Trường
THPT Nguyễn Thị Minh Khai có trên 30 em lớp 10 theo học nhưng đến lớp 11 chỉ còn
lại 13 em và chưa biết năm nay có bao nhiêu học sinh mới vào lớp 10 đăng ký học (vì
chưa họp bàn với phụ huynh). Tại Trường chuyên Trần Đại Nghĩa, tình hình cũng
không khả quan hơn với môn toán được khoảng 20 học sinh, còn môn lý vỏn vẹn 8 em
theo học. Ở các trường còn lại, tình hình học sinh giảm dần vì lý do như đi du học
hoặc không muốn học tiếp cũng trở thành nỗi băn khoăn của ban giám hiệu. Có thể nói
chỉ duy nhất Trường THPT Lê Quý Đôn - đơn vị thực hiện mô hình giáo dục tiên tiến,
vẫn duy trì ổn định sĩ số của 3 lớp 10 đầu khối A và lên lớp 11 của năm học mới này.
Sở dĩ số học sinh ở đây không hao hụt là do việc tổ chức dạy chương trình theo
nguyên lớp, phần đông học sinh có mục tiêu đi du học. Những trường khác tổ chức lớp
học theo sự tự nguyện nên nguồn học sinh phải gom từ nhiều lớp, cộng thêm phải học
Trang 23
giờ ngoại khóa và đóng thêm chi phí khoảng 100.000 - 150.000 đồng/học sinh/tháng
nên khó duy trì sĩ số.
Một hiệu trưởng băn khoăn, nếu chỉ đặt mục tiêu như đề án nâng cao năng lực sử
dụng tiếng Anh cho học sinh phổ thông là có thể đọc tài liệu, nghiên cứu tài liệu các
môn khoa học tự nhiên thì chương trình chưa thật sự hấp dẫn các em. Trừ một số ít
học sinh muốn đi du học, hướng tới việc lấy chứng chỉ SAT thì mặn mà, còn lại đều
cảm thấy chưa cần thiết phải học. Đó là chưa kể học sinh khối 11 chuẩn bị cho kỳ thi
tốt đạt 30%. Tuy nhiên, chưa thể lên lớp dạy 100% các môn nói trên bằng tiếng Anh
ngay trong năm tới mà chỉ có thể triển khai ở một số chương, bài. . .
Hiện nay, khi tuyển dụng giáo viên, trường chú trọng đến năng lực chuyên môn và
khả năng tiếng Anh.
• Tránh quá tải
Lãnh đạo các trường chuyên được hỏi đều nhìn nhận, việc dạy học bằng tiếng Anh
lúc đầu người học sẽ thấy khó khăn, nhưng về lâu dài sẽ có lợi.
Trang 24
Tuy nhiên, cần chỉ đạo của Bộ về chương trình và thống nhất về sách giáo
khoa,đào tạo giáo viên ở trong và ngoài nước. .
Tại Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong TP. HCM, dù đã triển khai việc dạy
Toán, Lý, Hóa bằng tiếng Anh nhiều năm qua, nhưng theo đại diện nhà trường, từ thực
tiễn triển khai nhà trường cũng phải rút kinh nghiệm giảm thời lượng.
Lý do phải điều chỉnh thời lượng các môn học bằng tiếng Anh, theo ban giám hiệu
trường là để học sinh không bị quá tải và đảm bảo chất lượng cần thiết cho các môn
chuyên.
Một trăn trở chung khác của lãnh đạo các trường chuyên, nếu triển khai dạy các
môn Toán, Lý, Hóa. . . bằng tiếng Anh thì giáo viên thiếu rất nhiều. Trong khi đó, thầy
Bình cho rằng, nếu tuyển được giáo viên có khả năng tiếng Anh thì cũng phải mất ít
nhất 5 năm mới vững vàng về chuyên môn đứng lớp. . .
Do đó, cần có cơ chế đãi ngộ phù hợp để giữ chân giáo viên giỏi. Bởi khi họ giỏi
ngoại ngữ thì không tránh khỏi lời mời của những môi trường làm việc tốt hơn, lương
cao hơn, và họ sẽ "nhảy việc".
"Nếu Bộ GD-ĐT đã đưa ra chủ trương dạy các môn tự nhiên bằng tiếng Anh thì
phải cố theo và làm thực chất, không để rơi vào tính hình thức vì như thế tức là đã phá
đi kế hoạch đặt ra", Hiệu trưởng Trường THPT Chuyên Nguyễn Huệ (Hà Nội) Thái
Văn Bình kết luận.