BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THÙY LINH ĐA
NGHIÊN CỨU PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC HÓA HỌC BẰNG
TIẾNG ANH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
(Áp dụng chương trình hóa Học vô cơ lớp 12)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
TP. HỒ CHÍ MINH - 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THÙY LINH ĐA
NGHIÊN CỨU PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC HÓA HỌC BẰNG
TIẾNG ANH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
(Áp dụng chương trình hóa học vô cơ lớp 12)
Chuyên ngành: Lí luận và Phương pháp dạy học bộ môn hóa học
Mã số: 60140111
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. Cao Cự Giác
TP. HỒ CHÍ MINH - 2014
Với lóng biết ơn chân thành, tôi xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới
PGS.TS. Cao Cự Giác, người đã định hướng nghiên cứu, tận tình hướng dẫn
tôi hoàn thành đề tài.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến:
- Thầy giáo – PGS.TS. Võ Quang Mai và TS. Lê Danh Bình đã dành
thời gian đọc và nhận xét cho luận văn.
- Quý thầy giáo, cô giáo khoa Hóa Học, Phòng Đào tạo Sau Đại Học,
trường Đại Học Vinh đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận
văn.
- Ban Giám Hiệu và đồng nghiệp các trường THPT Nguyễn Thượng
Hiền, THPT Lê Hồng Phong, đã giúp làm thực nghiệm sư phạm, cùng
bất cứ hội nghị nào với tên gọi là hội nghị quốc tế thì ngôn ngữ làm việc cũng bằng
tiếng Anh.
Tiếng Anh ở Việt Nam hiện nay được chính phủ và người dân hằng năm bỏ
ra rất nhiều công sức, tiền bạc vào việc dạy và học tiếng Anh. Đặc biệt khi Việt
Nam gia nhập WTO thì vai trò của tiếng Anh càng quan trọng hơn, là cầu nói giao
lưu văn hóa, học hỏi, trao đổi thông tin, thiết lập các mối quan hệ trong nhiều lĩnh
vực giữa Việt Nam và các nước trên thế giới .
Do đó có thể khẳng định rằng việc dạy và học tiếng Anh chiếm vị trí rất
quang trọng trong công tác giáo dục và đào tạo ở nước ta. Mới đây nhất Bộ GD-ĐT
triển khai đề án 1400 và 959 của Chính phủ “ Đề án Phát triển hệ thống trường
trung học phổ thông giai đoạn 2010-2020” qua đó “Nâng cao chất lượng dạy học
ngoại ngữ, tin học, dạy tăng cường tiếng Anh, chuẩn bị triển khai dạy học các môn
vật lí, hóa học, sinh học bằng tiếng Anh ở khoảng 30% số trường”. Hiện nay ở
thành phố Hồ Chí Minh đã có 10 trường chuyên đã triển khai thực hiện đề án này ví
dụ như các trường chuyên Lê Hồng Phong, Trần Đại Nghĩa, Lê Quý Đôn, Nguyễn
Thị Diệu, Gia Định đã dạy các môn tự nhiên bằng tiếng Anh trong đó có bộ môn
Hóa Học. Việc dạy hóa học bằng tiếng Anh thì không dễ chút nào.
Thứ nhất, trình độ ngoại ngữ của học sinh còn thấp, gây khó khăn trong việc
học tập và kiểm tra đánh giá. Có rất nhiều học sinh giỏi nhưng không thể nhận học
bỗng của các tổ chức quốc tế vì không đủ điểm IELTS hoặc TOELT.
Thứ hai, ở hầu hết các trường chưa có một chương trình dạy cụ thể hay chính
thức nào về việc dạy học các môn tự nhiên nói chung và môn Hóa học nói riêng
bằng tiếng Anh do đó gây khó khăn lớn cho giáo viên giảng dạy. Ngoài việc phải
thường xuyên trau dồi kiến thức chuyên môn, học tập tự nâng cao trình độ tiếng
Anh thì các giáo viên phải tự mò mẫm tự xây dựng các bài giảng bằng tiếng Anh.
Cho nên hầu như là phải thuê giáo viên ở bên ngoài vào dạy.
Thứ ba, thiếu đội ngũ giáo viên có thể dạy các môn tự nhiên nói chung và
môn Hóa học nói riêng. Vì vậy đề tài “Nghiên cứu phương pháp dạy học Hóa học
bằng tiếng Anh ở trường Trung học phổ thông (áp dụng chương trình hóa học vô
1
nghiệm sư phạm, …
7. Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng được phương pháp dạy học hóa học bằng tiếng Anh thì sẽ xây
dựng được một hệ thống bài giảng hay, có chất lượng, giúp giáo viên dạy tốt và có
hiệu quả, gây hứng thú học tập và phát huy tính tích cực của học sinh, đảm bảo thực
hiện tốt mục tiêu dạy học.
2
8. Đóng góp của đề tài
- Phân tích mục đích và ý nghĩa của việc dạy học hóa học bằng tiếng Anh ở
các trường THPT hiện nay.
- Cung cấp hệ thống từ vựng, mẫu câu tiếng Anh áp dụng trong dạy học hóa
học ở trường THPT cho phần hóa học vô cơ lớp 12.
- Xây dựng hệ thống bài tập hóa vô cơ lớp 12 bằng tiếng Anh.
- Thiết kế một số bài giảng tiêu biểu phần hóa vô cơ 12 ở trường THPT bằng
tiếng Anh theo hướng tích cực, hiện đại và dễ hiểu.
3
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Mục đích và ý nghĩa dạy học hóa học phổ thông bằng tiếng Anh
1.1.1. Rèn luyện các kĩ năng sử dụng ngôn ngữ tiếng Anh trong học tập
Tiếng Anh là một ngôn ngữ quốc tế được sử dụng rộng rãi trong trong rất
nhiều lĩnh vực khác nhau trong đó có lĩnh vực khoa học kĩ thuật và giáo dục. Chính
vì vậy, tiếng Anh là một công cụ cho chúng ta tiếp cận với các nền giáo dục tiên
tiến và khao học công nghệ hiện đại. Việt Nam là một đất nước đang phát triển, hội
nhập quốc tế giúp chúng ta nâng cao hiệu quả giáo dục và đào tạo, trao đổi và áp
dụng được các công nghệ tiên tiến thế giới. Từ những lí do nêu trên đòi hỏi chúng ta
cần có nhiều các nhà khoa học, các chuyên gia cũng như học sinh, sinh viên những
thế hệ tương lai của đất nước có một vốn tiếng Anh để phục vụ cho công cuộc xây
dựng đất nước và bảo vệ tổ quốc.
Việc dạy học cho học sinh THPT môn hóa và các môn khoa học bằng tiếng
dung sắp nghe thông qua tranh hay tình huống bài nghe. Có thể các em nói
không chính xác với những gì các em sắp nghe nhưng vấn đề đặt ra là các
em có hứng thú trước khi nghe.
- Cuối cùng giáo viên nói rõ cho học sinh biết các em sẽ được nghe bao nhiêu
lần và hướng dẫn yêu cầu nhiệm vụ khi nghe (chọn đúng, sai, trả lời câu hỏi,
…).
While - Listening:
Đây là giai đoạn mà ở đó học sinh có cơ hội luyện tập. Ở giai đoan này giáo
viên đưa ra các dạng bài tập, yêu cầu học sinh thực hiện. Học sinh có thể mắc lỗi ở
giai đoạn này vì vậy giáo viên chú ý cần sữa lỗi cho học sinh và đưa ra các phương
án trả lời đúng.
Giáo viên bật băng hay đọc bài nghe 2 đến 3 lần (nếu nội dung khó có thể
cho các em nghe 4 lần). Lần đầu gúp học sinh làm quen với bài nghe hiểu bao
quát nội dung bài nghe (pendown). Lần thứ hai nghe thông tin chính xác để hoàn
thành bài tập. Lần thứ ba nghe và kiểm tra lại bài tập đã làm. Mục tiêu chính của
nghe hiểu là học sinh nghe lấy nội dung chính hay lấy thông tin chi tiết đồng
thời hiểu được thái độ quan điểm của tác giả.
Do đó giáo viên cho học sinh nghe cả bài để các em nắm được ý chung
cũng như bố cục cả bài và làm bài tập, sau đó có thể cho nghe lại từng đoạn để
nắm kết quả hoặc nghe lại những chỗ khó để khẳng định đáp án. Nên hạn chế
cho học sinh nghe từng câu, hoặc từng từ một vì làm như vậy sẽ khiến người học
có thói quen phải hiểu nghĩa từng từ, từng câu khi nghe.
Post - Listening
Đây là giai đoạn luyện tập sau khi nghe. Ở giai đoạn này học sinh sử dụng
những kiến thức, kĩ năng ngôn ngữ đã được luyện tập ở giai đoạn “While –
Listening” vào các tình huống giao tiếp thực tế, có ý nghĩa. Sau khi nghe học sinh
cần thực hiện một số bài tập như: Báo cáo trước lớp hay trong nhóm về kết quả bài
tập, các học sinh khác nghe cho ý kiến nhận xét hoặc chữa bài cho bạn. Giáo viên
5
cần phải kết hợp các kĩ năng khác để phát triển mở rộng thêm bài nghe như recall,
hướng dẫn các em phát âm cho đúng, bên cạnh đó giảng, giải thích, từ mới có trong
bài cho các em.
While - Speaking:
6
Trong giai đoạn này sau khi được hướng dẫn, học sinh sẽ dựa vào tình huống
gợi ý như tranh vẽ, từ ngữ, cấu trúc câu cho sẵn hoặc bài hội thoại mẫu để luyện nói
theo yêu cầu.
Giai đoạn này GV hướng dẫn học sinh luyện tập nói theo cá nhân, theo cặp
hoặc nhóm để tiết kiệm thời gian. Lúc này chúng ta nên hạn chế việc chúng ta cùng
tham gia nói với các em như hỏi - trả lời.
Khi HS luyện tập, ta cần đến các nhóm nhằm quan sát, nhắc nhở học sinh
không nên dùng tiếng Việt, phải nói bằng Tiếng Anh và khuyến khích mọi đối
tượng học sinh trong lớp từ yếu đến khá, giỏi có cơ hội được nói.
Sau khi các em luyện tập theo nhóm, cặp với nhau ta cho vài em tiêu biểu lên
bảng trình bày bài nói của mình, giáo viên nhận xét, sửa lỗi, khi cần thiết chúng ta
cho điểm để động viên các em.
Trong quá trình luyện nói giáo viên cần chú ý đến khả năng nói của mọi đối
tượng học sinh và có thể đưa thêm yêu cầu cao hơn cho học sinh khá khi các em đã
hòan thành bài nói xong trước các bạn khác.
Post - Speaking
Sau khi HS luyện nói dưới sự kiểm soát của chúng ta, chúng ta hướng dẫn các
em vào phần luyện nói tự do, đây là giai đoạn cho các em tự do nói sau khi đã
chuẩn bị.
Trong quá trình các em luyện tập nói chúng ta nên cho điểm nhằm khuyến
khích các em xung phong nói tạo cho các em tâm trạng thích nói, chứ không phải
đang bị gò bó, ép buộc.
Để thực hiện để yêu cầu này chúng ta cần lưu ý các điểm sau:
• Cần phối hợp sử dụng thường xuyên các hình thức luyện tập nói
theo cặp (pairs) hoặc theo nhóm (groups) để các em có nhiều cơ hội sử
dụng tiếng Anh trong lớp từ đó các em cảm thấy tự tin và mạnh dạn
- Đặt câu hỏi để kiểm tra nhận thức chung của học sinh về chủ đề đó.
- Đưa một số câu nhận định yêu cầu học sinh làm bài tập đúng, sai dựa
vào kiến thức sẵn có.
- Tổ chức một số trò chơi liên quan đến chủ đề bài đọc….
Sau khi giới thiệu chủ đề bài học, GV hướng đặt ra một số câu hỏi gợi ý, dần
nhập vào bài khóa để học sinh thảo luận theo cặp, hoặc nhóm đoán câu trả lời. Điều
mà tôi thực hiện đem lại hiệu quả tốt nhất là khi học sinh đoán câu trả lời kết quả
luôn được bảo lưu đên phần While-reading lấy kết quả đúng đối chiếu với dự đoán
trước đó.
Tiếp sau là giới thiệu từ vựng, và ngữ pháp mới (nếu có). GV chỉ giới thiệu
cho học sinh những từ mới cơ bản, còn một số từ khác học sinh có thể đoán nghĩa
của từ dựa vào ngữ cảnh.
Khi giới thiệu từ mới, giáo viên nên dùng nhiều thủ thuật khác nhau để gợi mở
từ và dạy từ nhằm gây sự chú ý của học sinh như: tranh ảnh, dụng cụ trực quan, vật
thật, hình vẽ phác họa, cử chỉ điệu bộ.
While - Reading
8
Đọc hiểu bài đọc để trả lời các câu hỏi dẫn nhập hay kiểm tra các phán đoán ở
phần Pre-Reading là rất cần thiết bởi nó góp phần khắc sâu hơn những gì các em đã
làm được, đồng thời giúp các em nhận biết những điều chưa hoàn thành.
Đối với học sinh vùng nông thôn, GV nên động viên các em trả lời theo mức
độ hiểu của mình như trả lời ngắn, hay có thể đưa ra từ, cụm từ mang nội dung
chính là được.
Hoạt động tiếp theo là yêu cầu HS đọc lại bài đọc để hiểu nội dung kĩ hơn, và
trả lời các bài tập trong sách giáo khoa. Giáo viên phải chú trọng tới việc hướng dẫn
cụ thể yêu cầu bài tập, cũng như đưa ra một số câu ví dụ (nếu cần) để học sinh
không bị lúng túng khi làm.
Để kiểm tra mức độ đọc hiểu được kĩ hơn, ngoài những bài tập trong sách giáo
khoa chúng tôi chuẩn bị sẵn ở nhà một số bài tập để học sinh thực hành thêm (tùy
theo từng bài đọc hiểu) như:
với các kĩ năng khác để làm phong phú thêm các hình thức luyện tập trên lớp, củng
cố những kiến thức đã học, đồng thời giúp học sinh bước đầu làm quen văn phong,
cấu trúc chặt chẽ của văn viết và học cách sử dụng hoạt động viết vào một số mục
đích giao tiếp cụ thể.
• Nguyên tắc chung cho một tiết dạy viết
Tiến trình của một tiết dạy viết cũng phải trải qua 3 giai đoạn: Pre - Writing,
While - Writing, và Post - Writing.
• Rèn luyện kĩ năng viết trong dạy học hóa học
Pre –Writing
- Nghiên cứu bài mẫu về ba vấn đề: chủ đề - nội dung - dữ liệu (nếu
sách học có nội dung này).
- Giới thiệu mục đích, ý nghĩa của chủ điểm sắp viết. Thu thập tài liệu
trong đó có những ngữ liệu liên quan và sát thực với chủ điểm sắp viết
để có mặt bằng chung về kiến thức cho tất cả học sinh.
- Xây dựng một khung mẫu cho bài viết:
- Tìm các ý.
- Tìm các ngữ liệu: cấu trúc, từ, cụm từ, Phần này yêu cầu học sinh
phát huy sự đóng góp xây dựng bài, giào viên hướng dẫn và thống
nhất chung.
Phần này yêu cầu học sinh viết cá nhân hoặc theo tổ, nhóm, cặp nhằm khuyến
khích các em có khả năng xây dựng một dàn bài chi tiết để phục vụ cho việc viết
bài.
While - Writing
Viết cá nhân: Dựa trên dàn bài đã có HS tiến hành viết nháp. Lúc này học sinh
chủ động viết bằng các ngữ liệu có sẵn, bằng kinh nghiệm đã được tích lũy, phát
triển văn phong riêng của mình.
Có thể cho HS viết theo nhóm, nhóm phân công mỗi người viết một đoạn hoặc
một ý, sau đó cử một người viết tập hợp lại cả bài.
Các thủ thuật mà GV cần làm trong khi viết là:
- GV hướng dẫn HS viết theo cấp độ: Câu – Từ/ số - Đoạn văn
vào khả năng của bản thân sẽ hoàn thành mục tiêu học tập. Lòng tự tin của người
học sẽ được tăng thêm một khi người học đạt được kết quả trong học tập và thấy hài
lòng và khi họ được học tập trong môi trường mà các quan hệ cá nhân thực sự thân
thiện.
1.1.2.2. Tự tin trong dạy học hóa học
Để có được sự tự tin trong việc dạy và học hóa học, chúng ta nên tổ chức
một số hoạt động sau cho HS:
11
• Kế hoạch hoạt động của câu lạc bộ
Để duy trì và phát huy một cách hiệu quả thì câu lạc bộ phải có kế hoạch
hoạt động.
Sinh hoạt định kì theo các chuyên đề :
+ Hóa học và đời sống (Chemistry to life)
+ Biểu diễn ,thì nghiệm ,ảo thuật hóa học (Magic chemistry)
+ Lịch sử Hóa học và tiểu sử các nhà hóa học (History of chemystry and
biographies of chemists).
+ Bảng tuần hoàn và các vấn đề liên quan (The periodic table and related
issues).
Tổ chức thảo luận ,mời các chuyên gia báo cáo, phổ biến kiến thức theo các
chuyên đề.
• Gợi ý một số nội dung trong buổi sinh hoạt
Sau khi quyết định chủ đề của buổi sinh hoạt, giáo viên phải xây dựng nội
dung chương trình ,cả hệ thống câu hỏi . Trong buổi sinh hoạt câu lạc bộ ,tùy theo
thời lượng ,có thể chia ra các phần cơ bản. Tùy theo trình độ tiếng Anh của giáo
viên và học sinh mà cũng chia ra các cấp độ 1, 2, 3 như ở trên .
Sau đây tôi xin gợi ý một số nội dung có thể sử dụng trong buổi sinh hoạt
câu lạc bộ :
+ Kịch bằng tiếng Anh có liên quan đến kiến thức Hóa học.
+ Hái hoa dân chủ (Picking flower)
+ Biểu diễn ảo thuật hóa học (Magic chemistry).
thức và cơ hội của tiến trình hội nhập quốc tế về giáo dục đã được phân tích nhiều
trong các diễn đàn, hội thảo và tài liệu nghiên cứu, quốc tế cũng như trong nước.
Vấn đề là từ những phân tích đó, mỗi quốc gia cần tìm ra cho mình các chính
sách và chiến lược cần thiết để giáo dục đại học thực hiện được tốt nhất sứ mệnh
của mình trong việc sản sinh, truyền bá và áp dụng tri thức, đáp ứng nhu cầu phát
triển kinh tế-xã hội của đất nước. Điều này đã được đặt ra ở nước ta trong Đề án đổi
mới giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006 – 2020.
Đến năm 2015, Việt Nam sẽ gia nhập cộng đồng kinh tế Asean. Khi đó,
nguồn nhân lực nước ta có thêm cơ hội làm việc tại các nước láng giềng nhưng
cũng đối mặt với sự cạnh tranh từ các nước Asean ngay trên sân nhà.
a) Thuận lợi
Thứ nhất, quá trình hội nhập giúp mở rộng thị trường để thúc đẩy thương mại
và các quan hệ kinh tế quốc tế khác, từ đó thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế
, xã hội.
Thứ hai, hội nhập cũng tạo động lực thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cải
thiện môi trường đầu tư kinh doanh, từ đó nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh
của nền kinh tế, của các sản phẩm và doanh nghiệp; đồng thời, làm tăng khả năng
thu hút đầu tư vào nền kinh tế.
Thứ ba, hội nhập giúp nâng cao trình độ của nguồn nhân lực và nền khoa học
công nghệ quốc gia, nhờ hợp tác giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học với các
13
nước và tiếp thu công nghệ mới thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài và chuyển
giao công nghệ từ các nước tiên tiến.
Thứ tư, hội nhập làm tăng cơ hội cho các doanh nghiệp trong nước tiếp cận thị
trường quốc tế, nguồn tín dụng và các đối tác quốc tế.
Thứ năm, hội nhập tạo cơ hội để các cá nhân được thụ hưởng các sản phẩm
hàng hóa, dịch vụ đa dạng về chủng loại, mẫu mã và chất lượng với giá cạnh tranh;
được tiếp cận và giao lưu nhiều hơn với thế giới bên ngoài, từ đó có cơ hội phát
triển và tìm kiếm việc làm cả ở trong lẫn ngoài nước.
Thứ sáu, hội nhập tạo điều kiện để các nhà hoạch định chính sách nắm bắt tốt
kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên và hủy hoại môi trường.
Năm, hội nhập có thể tạo ra một số thách thức đối với quyền lực Nhà nước
(theo quan niện truyền thống về độc lập, chủ quyền) và phức tạp đối với việc duy trì
an ninh và ổn định ở các nước đang phát triển.
Sáu, hội nhập có thể làm gia tăng nguy cơ bản sắc dân tộc và văn hóa truyền
thống bị xói mòn trước sự “xâm lăng” của văn hóa nước ngoài.
Bảy, hội nhập có thể đặt các nước trước nguy cơ gia tăng của tình trạng khủng
bố quốc tế, buôn lậu, tội phạm xuyên quốc gia, dịch bệnh, nhập cư bất hợp pháp…
c) Hiện trạng hội nhập quốc tế về giáo dục ở Việt Nam
Trong tiến trình hội nhập GD, nước nào đứng ngoài sẽ bị tụt hậu và khó có cơ
may tham gia vào việc hoạch định chính sách GD quốc tế cũng như không kịp
chuẩn bị cho nguồn nhân lực của mình cho việc hội nhập kinh tế toàn cầu.Trên
hành trình hội nhập, giáo dục Việt Nam mấy năm gần đây có những cố gắng nhất
định nhưng trong thực tế, GD Việt Nam đang đứng trước nguy cơ bị cô lập và khó
hoà nhập được với các trào lưu GD lớn trên thế giới bởi một số nguyên nhân sau:
Một là, ngôn ngữ: Thứ ngôn ngữ giảng dạy chính là tiếng Việt. Đây là tiếng
mẹ đẻ của người Việt chúng ta, nhưng đồng thời cũng là ngôn ngữ có tính chất
riêng biệt của người Việt, do người Việt sử dụng. Ngôn ngữ tiếng Việt không có
khả năng hội nhập.
Hai là, chương trình và giáo trình giảng dạy hầu hết do giáo viên, giảng viên
trong nước biên soạn, chưa được tiêu chuẩn hoá và công nhận trên trường quốc tế.
Dẫn đến việc bằng cấp từ phổ thông đến đại học cũng chưa được công nhận và đánh
giá cho chuẩn, đúng mức.
Điều này, khiến cho HS, SV khi tham gia các chương trình trao đổi, giao lưu
hàng năm với các trường trên thế giới, hoặc chuyển ngang sang học tiếp tại các
trường quốc tế, hoặc xét học tiếp các cấp độ cao hơn đối với các HS đã tốt nghiệp
trong nước còn gặp nhiều khó khăn và trở ngại.
Ba là, GD Việt Nam chưa có một bộ quy tắc đánh giá chất lượng đào tạo,
cũng như tiêu chí xếp loại các trường, các ngành học để nước ngoài dựa vào đó hợp
tác làm việc với các trường trong nước. Dẫn đến hiện tượng một số tổ chức quốc tế
Xây dựng nền giáo dục mở, thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt, quản lý
tốt; có cơ cấu và phương thức giáo dục hợp lý, gắn với xây dựng xã hội học tập; bảo
đảm các điều kiện nâng cao chất lượng; chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, xã
hội hóa và hội nhập quốc tế hệ thống giáo dục và đào tạo; giữ vững định hướng xã
hội chủ nghĩa và bản sắc dân tộc. Phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục Việt Nam
đạt trình độ tiên tiến trong khu vực.
Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là một yêu cầu khách quan và
cấp bách của sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.
16
1.2. Thực trạng triển khai đề án dạy học các môn khoa học tự nhiên bằng tiếng
Anh ở trường phổ thông
1.2.1. Giới thiệu Đề án Phát triển hệ thống trường trung học phổ thông chuyên
giai đoạn 2010 – 2020 (Số 959/QĐ-TTg ngày 24/6/2010)
Ngày 30/9/2008, Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định số 1400/QĐ-TTg phê duyệt
đề án “Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008 –
2020” (gọi tắt là đề án 1400). Một trong những nhiệm vụ chính của đề án là:
- Triển khai dạy môn tự nhiên bằng ngoại ngữ ở khoảng 30% các trường trung
học phổ thông tại các thành phố, đô thị lớn: Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Hải
Phòng, Huế, Đà Nẵng và một số địa bàn trọng điểm khác. Mỗi năm tăng
thêm khoảng từ 15-20% số trường, mở rộng ra 5 tỉnh, thành phố và một số
môn học khác.
Ngày 24/6/2010, Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định số 959/QĐ-TTg phê duyệt
đề án “Phát triển hệ thống trường trung học phổ thông chuyên giai đoạn 2010 –
2020” (gọi tắt là đề án 959) Đề án đặt ra lộ trình cụ thể:
- Thí điểm áp dụng việc giảng dạy môn toán, vật lí, hóa học, sinh học, tin học
bằng tiếng Anh tại một số trường trung học phổ thông chuyên; tiến tới thực
hiện giảng dạy các môn toán, tin học bằng tiếng Anh tại các trường trung học
phổ thông chuyên vào năm 2015.
- Chuẩn bị triển khai dạy và học các môn vật lí, hóa học, sinh học bằng tiếng
1.2.3. Phân tích những thuận lợi và khó khăn trong việc triển khai dạy học các
môn khoa học tự nhiên bằng tiếng Anh ở các trường THPT
a) Thuận lợi
Hầu hết các trường, đặc biệt là những trường chuyên trọng điểm đều bày tỏ
sự đồng tình với chủ trương này và cho rằng đó là những môn học rất cần thiết để
giáo dục VN có thể hòa nhập với quốc tế.
Ông Đỗ Bá Khôi - Phó hiệu trưởng trường THPT chuyên Hà Nội -
Amsterdam, tỏ ra khá lạc quan khi năm tới sẽ bắt đầu thực hiện. Ông cho biết:
“Hiện nay, học sinh (HS) từ lớp 7, 8 đã có thể nghe giảng bằng tiếng Anh. Lâu nay
HS chúng tôi không cần có phiên dịch khi tham gia các hoạt động ngoại khóa với
chuyên gia nước ngoài.
Có 7 trong số gần 40 giáo viên tổ Toán có thể dạy được bằng tiếng Anh. Hầu
hết họ là những giáo viên trẻ, khi ra trường đã giỏi tiếng Anh rồi”. Hơn nữa, theo
ông Khôi, vài năm gần đây, trường có khoảng 10% HS lớp 12 được học bổng du
học. Với những HS này thì được học tất cả các môn bằng tiếng Anh là nhu cầu rất
thiết thực.
Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong (TP.HCM) là trường đầu tiên của cả
nước chủ động tổ chức giảng dạy các môn Toán, Lý, Hóa bằng tiếng Anh. Đến nay,
trường đã thực hiện đến năm học thứ tư. Theo lãnh đạo của trường thì đây là một
nhu cầu lớn của cha mẹ HS của trường, nhưng vì mới bắt đầu thực hiện trong giai
đoạn rút kinh nghiệm nên chưa đáp ứng hết nhu cầu của HS.
b) Khó khăn
18
Thực hiện đề án nâng cao năng lực sử dụng tiếng Anh cho học sinh phổ
thông của TPHCM và định hướng của Bộ GD-ĐT, trong năm học qua
TPHCM đã triển khai chương trình thí điểm dạy các môn toán, khoa học tự
nhiên ở 45 lớp với trên 1.600 học sinh theo học. Thế nhưng, do phải tự mày mò
tìm hướng đi nên nhiều trường THPT cảm thấy đuối sức.
- Số lượng học sinh rơi rụng dần
Sau khi thí điểm dạy các môn toán, khoa học tự nhiên ở 5 trường, năm học
GD-ĐT TPHCM cung cấp giáo trình chuẩn nên mỗi trường tự liên hệ với đối tác
nước ngoài, tự tìm chương trình, sách tham khảo để biên soạn giáo án giảng dạy.
Chính vì thế, mỗi trường một kiểu và dạy theo đủ loại giáo trình của Úc, Canada
hoặc Cambridge.
Tuy giáo trình của ĐH Cambridge được xem chuẩn nhất nhưng chi phí mua
lại quá cao nên nhiều trường không kham nổi. Về giáo viên, các trường đều bị động,
phải tự đào tạo, tự bồi dưỡng hoặc tìm nguồn thuê, hợp đồng từ bên ngoài là chính.
Trừ một số ít trường có điều kiện, đưa giáo viên đi nước ngoài đào tạo, bồi dưỡng,
tập huấn việc dạy môn Toán, Lý, Hóa bằng tiếng Anh như Trường THPT Lê Quý
Đôn, Trần Đại Nghĩa, số còn lại đều gặp khó khăn như nhau.
- Chưa thể dạy 100% bằng tiếng Anh
Dù chưa có danh sách các trường dạy thí điểm nhưng phó Hiệu trưởng
Trường THPT Chuyên Sư phạm (Trường ĐH Sư phạm Hà Nội) Nguyễn Bá Bình
nói “Những trường chuyên trực thuộc các trường ĐH của Bộ sẽ phải thực hiện sớm
hơn so với các trường ở tỉnh”. Ông Bình so sánh, về nguồn lực tài chính thì trường
chuyên thuộc các trường ĐH chưa bằng các trường chuyên thuộc tỉnh, nhưng về
nguồn lực giáo viên thì có lợi thế hơn. Trường ông có khoảng 70 giáo viên, trong đó
có 45 giáo viên biên chế chính thức. Số còn lại là mời giảng, hầu hết là giảng viên
các khoa thuộc Trường ĐH Sư phạm Hà Nội. Trong số 45 giáo viên cơ hữu thì số
giáo viên có khả năng tiếng Anh tốt đạt 30%. Tuy nhiên, chưa thể lên lớp dạy 100%
các môn nói trên bằng tiếng Anh ngay trong năm tới mà chỉ có thể triển khai ở một
số chương, bài
Hiện nay, khi tuyển dụng giáo viên, trường chú trọng đến năng lực chuyên môn và
khả năng tiếng Anh.
- Tránh quá tải
Lãnh đạo các trường chuyên được hỏi đều nhìn nhận, việc dạy học bằng
tiếng Anh lúc đầu người học sẽ thấy khó khăn, nhưng về lâu dài sẽ có lợi.
Tuy nhiên, cần chỉ đạo của Bộ về chương trình và thống nhất về sách giáo
khoa,đào tạo giáo viên ở trong và ngoài nước.
Tại Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong, TP.HCM, dù đã triển khai việc