Vai trò của thanh tra nhà nước trong phòng chống tham nhũng và thực tiễn tại địa bàn kiến tập
Phần 1: Phần mở đầu
1.1 Lý do chọn đề tài
Khi xây dựng một lý luận, một tiêu chuẩn trong lĩnh vực tư tưởng hay đạo đức
xã hội, một khuynh hướng thường thấy là người ta không hoặc cố tình không nhìn
nhận những gì đang tồn tại trong thực tế với đầy đủ các khuyết tật tự nhiên của nó.
Nếu nhìn nhận một cách tỉnh táo, chúng ta không thể không thừa nhận sự tồn tại của
những mặt khuyết tật, cái mà chúng ta thường gọi là các căn bệnh xã hội. Trong vấn
đề đang nghiên cứu, chúng ta buộc phải thừa nhận rằng tham nhũng tồn tại trong
mọi xã hội. Mọi thời đại, mọi hệ thống chính trị và mọi dân tộc ở mọi nơi trên thế
giới đều phải đối mặt với tham nhũng với nhiều biến thái tinh vi. Trong công cuộc
xây dựng đất nước phát triển và giàu mạnh, Đảng và nhà nước ta tích cực thực hiện
các biện pháp nhằm minh bạch hóa nguồn tài sản nhà nước cũng như cơ chế chống
thất thoát lãng phí nguồn tài sản quốc gia, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa cũng như
xây dựng một Việt Nam giàu mạnh văn minh. Là một nước đang phát triển nên Việt
Nam có tệ nạn tham nhũng khá cao so với các nước trong khu vực và trên thế giới,
thực tế đó buộc chúng ta phải có cơ chế nhất định để đảm bảo tính minh bạch trong
quản lý nhà nước cũng như xây dựng đất nước ta. Tham nhũng là một hiện tượng mà
bất kỳ một xã hội thể chế nào cũng có là một trong những tệ nạn phổ biến và gây
thiệt hại lớn cho nền kinh tế, ảnh hưởng đến nền văn hóa xã hội và thể chế chính trị
quốc gia. Đã hằng bao năm mọi chính phủ mọi nhà cầm quyền đều cố gắng ngăn
chặn tham nhũng, nhưng bên cạnh những thành tựu đạt được thì những hạn chế và
những thuộc tính vốn có của tham nhũng mang tính cố hữu đã gây ra những khó
khăn nhất định cho công cuộc phòng chống tham nhũng. Một trong những kết cấu
mang tính nội tại bền vững mà tham nhũng luôn có là yếu tố xã hội, để làm trong
sạch nó thì xã hội cần phải có những hành động thiết thực cùng với nhà nước thể
hiện sự phản đối của mình đối với tham nhũng.
1
2
Vai trò của thanh tra nhà nước trong phòng chống tham nhũng và thực tiễn tại địa bàn kiến tập
luật và các kế hoạch hoạt động hàng năm cũng như chiến lược dài hạn mang tính
quyết định đối với công cuộc phòng chống tham nhũng ở Việt Nam. Đề tài mà tôi
nghiên cứu mong góp một phần nhỏ về cách nhìn tổng quan hơn về tham nhũng của
nước ta hiện nay.
1.2
Đối tượng, mục đích chọn đề tài
Đối tượng: Trong đề tài này tôi tập trung nghiên cứu về vai trò của thanh tra
nhà nước trong phòng chống tham nhũng và các quy định hiện hành của pháp luật
tham nhũng trong các văn bản pháp luật: Luật thanh tra, Luật phòng chống tham
nhũng và một số văn bản khác liên quan đến tham nhũng, quy định cơ sở pháp lý về
phòng chống tham nhũng và tập trung nghiên cứu sâu những vấn đề thực tiễn đặt tại
địa bàn kiến tập. Làm rõ những nguyên nhân và đặc điểm của tham nhũng cũng như
thực tế tham nhũng tại Việt Nam. Từ đó đưa ra một số kiến nghị giải pháp nhắm
nâng cao hiệu quả của phòng chống tham nhũng ở nước ta. Nghiên cứu vai trò của
thanh tra trong phòng chống tham nhũng cũng như cơ chế pháp lý để thanh tra có thể
hoàn thành tốt nhiệm vụ chống tham nhũng, cũng như tìm ra giải pháp về mặt lý
luận, thực tiễn để nâng cao vai trò của thanh tra ở các địa phương cũng như trên địa
bàn kiến tập, để nâng cao thêm tính hiệu quả trong việc xử lý các hành vi tham
nhũng trong cả nước cũng như từng địa phương nhất định.
Mục đích: Đề tài này tôi nghiên cứu nhằm mục đích làm rõ hơn thực trạng tham
nhũng của nước ta và xác định vai trò của thanh tra nhà nước trong phòng chống tham
nhũng. Để chúng ta có cách nhìn sâu sắc và toàn diện hơn trước thực trạng tham
nhũng của Việt Nam, nâng cao sự quan tâm của cộng đồng xã hội nhà nước trước vấn
Vai trò của thanh tra nhà nước trong phòng chống tham nhũng và thực tiễn tại địa bàn kiến tập
Chương 1: Lý luận và thực trạng trong phòng chống tham nhũng ở nước ta gồm 4
nội dung lớn: Khái niện về tham nhũng; Thực trạng về phòng chống tham nhũng ở
nước ta; Lý luận về phòng chống tham nhũng; Các kiến nghị, giải pháp nâng cao
phòng chống tham nhũng.
Chương 2: Vai trò của thanh tra nhà nước trong phòng chống tham nhũng gồm 3 nội
dung lớn: Khái niệm về thanh tra nhà nước; Vai trò của thanh tra nhà nước trong
phòng chống tham nhũng; Các kiến nghị, giải pháp nâng cao vai trò của thanh tra
nhà nước trong phòng chống tham nhũng.
Chương 3: Thực trạng phòng chống tham nhũng của thanh tra nhà nước tại địa bàn
kiến tập gồm 3 nội dung lớn: Khái quát chung về địa bàn kiến tập; Những cơ sở thực
tiễn tại địa bàn kiến tập; Bài học kinh nghiệm thực tiễn.
5
Vai trò của thanh tra nhà nước trong phòng chống tham nhũng và thực tiễn tại địa bàn kiến tập
Phần 2: Phần nội dung
Chương 1: Lý luận và thực trạng trong phòng chống tham nhũng ở
nước ta
1.1- Khái niện về tham nhũng
1.1.1- Khái niệm:
Trên thế giới bàn về khái niệm tham nhũng, cho đến nay đã có nhiều tổ chức,
nhà nghiên cứu làm rõ nội hàm của khái niệm này và đã có nhận thức tương đối
thống nhất của giới khoa học cũng như của các chính khách trong nước và thế giới.
Theo Liên Hợp Quốc: Bản Hiệp Ước của Liên Hợp Quốc về Chống Tham
Nhũng (UNCAC) không định nghĩa tham nhũng. Các thành viên tham dự Hội nghị
của Liên Hợp Quốc về các Biện Pháp Chống Tham Nhũng, Quản Trị Hiệu Quả và
Như vậy, nhìn chung các khái niệm tham nhũng của Việt Nam không khác gì
nhiều so với thế giới cũng đều mang những đặc điểm nhất định.
1.1.2- Đặc điểm tham nhũng:
Đặc điểm chung của tham nhũng đó là “sự lợi dụng quyền lực nhà nước để
trục lợi riêng” với những dấu hiệu sau: Người có chức vụ, quyền hạn trộm cắp, tham
ô tài sản của nhà nước; Lợi dụng địa vị công tác để trục lợi riêng quá đáng thông qua
việc sử dụng không chính thức địa vị chính thức của mình; Tạo ra sự xung đột về
thứ tự quan tâm giữa trách nhiệm đối với xã hội và lợi ích cá nhân để mưu cầu trục
lợi.
7
Vai trò của thanh tra nhà nước trong phòng chống tham nhũng và thực tiễn tại địa bàn kiến tập
Ở Việt Nam, trên quan điểm tổng thể đã nêu ra những đặc trưng cơ bản của
tham nhũng như sau:
Thứ nhất, chủ thể của tham nhũng phải là những người có chức vụ quyền hạn làm
việc trong bộ máy nhà nước ở các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp từ trung ương
đến địa phương, cán bộ trong Đảng và các đoàn thể.
Thứ hai, người có chức vụ, quyền hạn đã thực hiện hành vi lợi dụng chức vụ quyền
hạn, lợi dụng địa vị công tác được giao để không làm hoặc làm trái với công vụ mà
mình phải thực hiện và thực hiện đúng qui định của pháp luật, gây thiệt hại chung cho
lợi ích của nhà nước, xã hội và công dân.
Thứ ba, người có chức vụ, quyền hạn thực hiện hành vi với động cơ vụ lợi cho bản
thân mình, cho người khác hoặc một nhóm người mà mình quan tâm.
1.2- Thực trạng về tham nhũng ở nước ta
1.2.1- Thực trạng tham nhũng ở nước ta.
Trong những năm qua xu thế chung của thế giới là có xu hướng tăng về số vụ
Vai trò của thanh tra nhà nước trong phòng chống tham nhũng và thực tiễn tại địa bàn kiến tập
đang xảy ra ở hầu khắp các lĩnh vực của đời sống xã hội, từ sản xuất kinh doanh, liên
doanh liên kết, đầu tư xây dựng cơ bản, quản lý và sử dụng đất đai, quản lý và sử
dụng ngân sách, thuế, ngân hàng, hải quan, xuất nhập khẩu, tư pháp, giáo đục, y tế
thực hiện chính sách xã hội trong quản lý hành chính, công tác xã hội... Có đủ mức
độ tham nhũng của cá nhân, của tập thể, tham nhũng không có tổ chức và tham nhũng
có tổ chức gồm nhiều đối tượng tham gia. Những thiệt hại do tham nhũng gây ra rất
lớn, có vụ tham nhũng về kinh tế làm thiệt hại cho Nhà nước, nhân dân tới hàng trăm,
hàng nghìn tỉ đồng, làm thoái hóa, biến chất hàng loạt cán bộ, đảng viên, kể cả một số
cán bộ cao cấp của Đảng và Nhà nước. Cái thiệt hại đáng kể hơn, nặng nề hơn là tham
nhũng đã làm xấu chế độ, làm suy giảm lòng tin của nhân dân vào tương lai của một
chế độ tốt đẹp mà Đảng ta đang phát động xây dựng.
Năm
Số vụ
Số
bị
can
2005
2006
2007
cũng như tính chất nghiêm trọng gây thiệt hại cho nhà nước rất lớn. Đặc biệt tham
nhũng trong các cơ quan công quyền ngày càng lớn và tinh vi, đã xuất hiện sự móc
nối giữa các cá nhân trong cơ quan nhà nước nhằm che đậy các hành vi tham nhũng
của mình khi hát hiện thì thường có liên quan đến rất nhiều người trong đó có cả
10
Vai trò của thanh tra nhà nước trong phòng chống tham nhũng và thực tiễn tại địa bàn kiến tập
những người giữ chức vụ chủ chốt trong Đảng và cơ quan nhà nước. Một thực trạng
tham nhũng phổ biến nữa hiện nay là tham nũng cùng với tội phạm kinh tế là hoàn
toàn xảy ra rất phổ biên và thường là những vụ án lớn gây thất thoát rất lớn cho tài
sản nhà nước cũng như làm giảm lòng tin của các nhà đầu tư vào trong nước, giảm
các kênh cung cấp vốn tài trợ của các tổ chức quốc tế đối với các dự án mang tính an
sinh xã hội của nước ta. Việc tham nhũng cùng với các quan chức lãnh đạo đang nổi
lên khá phổ biến hiện nay.
Tham nhũng bao trùm tất cả mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, ở mọi cấp mọi
ngành, ở đâu người ta cũng thấy có tham nhũng và không có tiền lót tay sẽ không giải
quyết được công việc, ngay cả khi đã đầy đủ các điều kiện và thủ tục pháp luật qui
định. Nạn quà cáp biếu xén khi đến cửa quan đã trở thành “tập quán”, phong tục trong
xã hội ta. Chúng ta có thể gặp hiện tượng này ở bất kỳ đâu nơi có hoạt động công
quyền, chẳng hạn như đến UBND xã, phường làm giấy khai sinh cho con, chứng nhận
giấy tờ... cũng phải có quà cho cán bộ, vào cơ quan cũng phải xu nịnh bảo vệ... Đặc
điểm này đã gây nhức nhối, làm băng hoại đạo đức của cán bộ công quyền, đe doạ sự
tồn tại của nhà nước, sự bền vững của chế độ và sự lãnh đạo của Đảng. Tham nhũng
không chỉ xảy ra ở cơ quan hành pháp mà còn xảy ra nhiều ở cơ quan thanh tra, kiểm
tra, cơ quan tiến hành tố tụng (cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát, Toà án, thi hành án).
Sự tham nhũng ở các cơ quan này đã làm cho vi phạm và tội phạm không bị phát hiện
hoặc không được xử lý, bỏ lọt tội phạm và làm oan người vô tội với những hậu quả vô
2007: Với tổng kinh phí sử dụng cho Đề án 112 là 1.159,636 tỷ đồng trên tổng số
kinh phí được cấp phát là 1.534,325 tỷ đồng, các đối tượng đã chi sai mục đích, gây
thất thoát 247,19 tỷ đồng (kết luận của Kiểm toán Nhà nước). Tính chất đặc biệt
nghiêm trọng còn thể hiện ở chỗ, sai phạm xảy ra ở dự án có quy mô lớn, phạm vi ảnh
hưởng và địa bàn rộng khiến nhiều mục tiêu, yêu cầu của chương trình tin học hoá
hành chính Nhà nước không thực hiện được;16 đối tượng bị khởi tố, trong đó có
12
Vai trò của thanh tra nhà nước trong phòng chống tham nhũng và thực tiễn tại địa bàn kiến tập
nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ, nguyên Trưởng Ban điều hành Đề án
112 Vũ Đình Thuần.
Như vậy, tham nhũng mang tính phổ biến, nhỏ nhặt là đặc điểm quan trọng
nhất của nạn tham nhũng ở nước ta và cũng chính nó làm cho tham nhũng trở nên
trầm trọng. Thực trạng này rất nguy hiểm không những nó làm xói mòn lòng tin của
nhân dân vào chế độ ta, phá hoại sự nghiệp xây dựng và phát triển của đất nước mà
còn làm băng hoại đạo đức xã hội, phá hoại các giá trị truyền thống văn hoá của dân
tộc - vốn là nguồn sức mạnh của dân tộc ta từ trước đến nay.
1.2.2-
Nguyên nhân tham nhũng.
Là nước ta đang nghèo cơ chế để đảm bảo ổn định đời sống của cán bộ công
chức là rất thấp, nhiều cán bộ công chức đồng lương không thể đảm bảo sinh hoạt gia
đình, dẫn đến sự nhiệt tình trong công việc không cao, nhận thức của một số cán bộ
còn non kém về hậu quả của tham nhũng đối với đất nước. Cơ chế pháp lý để xử lý
các đối tượng tham nhũng là không cao và chưa đủ tính răn đe, cơ chế pháp lý vừa
trọng là phải xem xét những quy định này và quá trình thực hiện nó được cụ thể hóa
như thế nào. Đối với việc cụ thể hóa các quy định, để có thể thực thi một cách hiệu
quả, những quy định này phải đơn giản, rõ ràng và ai cũng có thể dễ dàng hiểu được.
Các quy định càng phức tạp, mập mờ và khó hiểu bao nhiêu, càng có nhiều cơ hội cho
tham nhũng bấy nhiêu. Có thể thấy một ví dụ tiêu biểu trong hàng loạt các mức thuế
nói chung và áp dụng mức thuế cho các sản phẩm cụ thể tương tự nhau. Nếu mức
thuế với một mặt hàng nào đó là 3% và đối với mặt hàng tương tự khác là 30% thì sẽ
có động lực rất mạnh cho tham nhũng nhằm phân loại sai hàng hóa và giảm thuế bất
hợp pháp bằng cách áp dụng mức thuế thấp hơn.
14
Vai trò của thanh tra nhà nước trong phòng chống tham nhũng và thực tiễn tại địa bàn kiến tập
Hơn nữa, luật tố tụng – các quy định liên quan tới việc thực hiện các quy định
pháp luật khác – cũng có vai trò quan trọng đối với tham nhũng. Đạo luật phức tạp và
không minh bạch quy định cụ thể trình tự tố tụng chậm chạp (những trình tự tố tụng
mà không có thời hạn quy định cụ thể hoặc không có thời hạn chót), với sự tùy tiện
của các cán bộ trong quá trình thực hiện, sẽ tạo ra một cơ hội lớn cho tham nhũng.
Không chỉ đạo luật đó tạo ra động cơ cho tham nhũng mà nó còn giảm thiểu khả năng
bị phát hiện, do đó làm cho những kẻ hối lộ và nhận hối lộ không còn tin nhiều vào
những mối đe dọa với chúng.
Như vậy, từ những nguyên nhân trên đòi hỏi Đảng và nhà nước ta phải quan
tâm hơn đến vấn đề tham nhũng, đòi hỏi phải chữa tận gốc tệ nạn này, góp phần tạo
lòng tin của nhân dân vào chế độ và ngày càng đưa đất nước phát triển giàu mạnh.
1.2-
Lý luận về phòng chống tham nhũng
1.2.1- Trên thế giới.
Vai trò của thanh tra nhà nước trong phòng chống tham nhũng và thực tiễn tại địa bàn kiến tập
chống tham nhũng. Các quy định của Công ước về cơ bản có nội dung phù hợp với
những nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế, trong đó có nguyên tắc tôn trọng chủ
quyền quốc gia, không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia khác. Công
ước được thông qua ngày 31 tháng 10 năm 2003, với 30 nước phê chuẩn. Đến nay đã
có 136 nước tham gia công ước này, Việt Nam ra nhập công ước ngày 3 tháng 7 năm
2009.
Đây chính là cơ sở pháp lý thể hiện sự quan tâm chung của các nước đối với
vấn nạn chung. Qua Hiệp Ước cho thấy những quy định chung có ý nghĩa đối với
việc hoàn thành pháp luật tham nhũng trong nước. Hiệp Ước có cơ cấu 8 chương và
71 điều, cụ thể: chương 1: Những quy định chung; chương 2: Các biện pháp phòng
ngừa; chương 3: Hình sự hoá và thực thi pháp luật; chương 4: Hợp tác quốc tế;
chương 5: Thu hồi tài sản; chương 6: Hỗ trợ kỹ thuật và trao đổi thông tin; chương
7: Các cơ chế thi hành công ước; chương 8: Các điều khoản cuối cùng.
Thúc đẩy và tăng cường các biện pháp nhằm đấu tranh phòng, chống tham
nhũng có hiệu lực, hiệu quả hơn. Bên cạnh các biện pháp tổng thể, Công ước chú
trọng đặc biệt đến các biện pháp nhằm thúc đẩy hợp tác quốc tế về phòng, chống
tham nhũng. Điều này thể hiện ở việc Công ước đã dành 3 chương quan trọng gồm
Chương 3: Hình sự hoá và thực thi pháp luật; Chương 4: Hợp tác quốc tế, Chương 5:
Thu hồi tài sản để quy định vấn đề này. Điểm b Điều 1 Công ước nêu rõ mục đích
của Công ước là: “Thúc đẩy, tạo điều kiện và hỗ trợ hợp tác quốc tế và trợ giúp kỹ
thuật trong phòng, chống tham nhũng, bao gồm cả thu hồi tài sản”
Trong đó quy định khá chi tiết về các chế tài đối với các hành vi tham nhũng
trong đó có cả chế tài hình sự đặt ra đối với các tội phạm tham nhũng . Điều 3 Công
ước sẽ áp dụng cho tất cả các giai đoạn của công tác chống tham nhũng gồm: phòng
16
Vai trò của thanh tra nhà nước trong phòng chống tham nhũng và thực tiễn tại địa bàn kiến tập
Như vậy từ cơ sở lý luận trên cho thấy các nước trên thế giới đều khá quan tâm
đến vấn đề tham nhũng và ngày càng hoàn thiện hơn cơ sở pháp lý về xử lý và chống
tham nhũng ở các nước.
1.2.2- Ở Việt Nam
Ngay sau khi cách mạng tháng Tám thành công giành được độc lập Đảng, nhà
nước ta đã rất chú ý đến vấn đề tham nhũng, các quy định về chống tham nhũng lãng
phí thực hiện tiết kiệm và ngăn cấm chiếm hữu tài sản công được đặt ra. Tiếp đó là
các quy định về cơ sở pháp lý nhằm ngăn chặn tệ nạn tham ô, tham nhũng, lãng phí
trong cán bộ công chức nhà nước. Là cơ sở lý luận quan trọng thể hiện sự nghiên
khắc của nhà nước ta đối với tiêu cực tham nhũng, lãng phí.
Văn bản thứ nhất đó là: Nghị quyết số 163 CP của Hội Đồng Chính Phủ thông
qua ngày 25 tháng 10 năm 1963 về cuộc vận động nâng cao ý thức trách nhiệm, tăng
cường quản lý kinh tế tài chính, cải tiễn kỹ thuật, chống tham ô, lãng phí, quan liêu.
Đây là quy định có tính chất pháp lý đầu tiên thể hiện sự quan trọng của tham nhũng
đối với kinh tế đất nước, trong Nghị quyết này đã nêu ra các quy định về hành vi
tham nhung và những chế tài đối với những ai có hành vi tham nhũng.
Văn bản thứ hai là: Nghị quyết số 240/HĐBT của Hội Động Bộ Trưởng thông
qua ngày 26 tháng 6 năm 1990 về đấu tranh chống tham nhũng. Là văn bản ra đời
trong thời kinh tế Việt Nam có bước phát triển và hội nhập, trong đó có nêu lên
những vấn đề như ngyên nhân tham nhũng, mục tiêu và các biện pháp đấu tranh
chông tham nhũng. Nhì chung những văn bản không đáp ứng được yêu cầu của thực
tiễn chưa thực sự nêu lên được cơ sở pháp lý thực sự chưa có chế tài và xử lý hành
vi tham nhũng. Một thực tế là trong thời kỳ này tham nhũng bắt đầu nổi len trở thành
một quốc nạn.
Văn bản thứ ba là Pháp lệnh phòng chống tham nhũng lãng phí số 03/1998
thông qua ngày 26 tháng 2 năm 1998. Đây là cơ sở phá lý đầu tiên và tiến bộ nhất về
18
19
Vai trò của thanh tra nhà nước trong phòng chống tham nhũng và thực tiễn tại địa bàn kiến tập
nhũng, chương 5 quy định về điều khoản thi hành. Đã góp phần vào đẩy lùi tệ nạn
tham nhũng ở nước ta trong giai doạn này.
Văn bản thứ tư là luật phòng chống tham nhũng 2005/ QH thông qua ngày 19
tháng 11 năm 2005. Là văn bản có ý quan trọng trong thời kỳ hội nhập kinh tế sâu
rộng hiên này của nước ta. Với cơ cấu 8 chương 92 điều được chia làm 3 phần lớn
quy định khá chi tiết và đầy đủ những vấn đề chung, công khai minh bạch, phát hiện
và xử lý tham nhũng. Chương I gồm 10 điều (từ Điều 1 đến Điều 10) quy định về
phạm vi điều chỉnh; giải thích từ ngữ; các hành vi tham nhũng, nguyên tắc xử lý tham
nhũng: quy định chung về trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, đơn vị và người có chức
vụ, quyền hạn cũng như trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức
thành viên, trách nhiệm của cơ quan báo chí trong phòng, chống tham nhũng; trách
nhiệm phối hợp của cơ quan Thanh tra, Kiểm toán nhà nước, Điều tra, Viện Kiểm sát,
Tòa án và của cơ quan, tổ chức, đơn vị hữu quan; quyền và nghĩa vụ của công dân
trong phòng, chống tham nhũng; và các hành vi bị nghiêm cấm. Chương II quy định
về phòng ngừa tham nhũng gồm 6 mục 48 điều (từ Điều 11 đến Điều 58). Số lượng
các điều chiếm hơn một nửa tổng số điều của đạo luật (48/92 điều). Điều đó phản ánh
mức độ quan trọng của chế định phòng ngừa tham nhũng. Có thể nói, phòng ngừa
tham nhũng là tinh thần chủ đạo của Luật Phòng, chống tham nhũng. Có thể nói luật
phòng chống tham nhũng ra đời đã khắc phục được nhũng hạn chế trước kia đáp ứng
nhu cầu trong công tác phòng chống tham nhũng, tạo điều kiện lớn cho lòng tin của
nhân dân vào Đảng và nhà nước đưa nước ta phát triển không ngừng.
1.3- Các kiến nghị, giải pháp nâng cao phòng chống tham nhũng
1.4.1- Về mặt lý luận
Để đạt được mục tiêu, yêu cầu đấu tranh phòng, chống tham nhũng, Đảng chỉ
thật, có cơ chế bảo vệ những người dũng cảm tố cáo, phát hiện bọn tham nhũng. Khi
đã phát hiện được tham nhũng, cần phải trừng phạt nghiêm, đặc biệt với những kẻ
tham nhũng là cán bộ, đảng viên. Cần xác định đây là khâu đột phá để phòng, chống
tham nhũng có hiệu quả. Tham nhũng, lãng phí là những căn bệnh rất nguy hiểm,
ngày càng phổ biến, có lúc, có nơi nghiêm trọng nhưng cần nói rõ sự thật, không bao
che, không sợ mất uy tín vì phanh phui những sự thật này. Không hoang mang, dao
động trước những diễn biến phức tạp của tình hình tham nhũng, lãng phí nhưng phải
22
Vai trò của thanh tra nhà nước trong phòng chống tham nhũng và thực tiễn tại địa bàn kiến tập
chủ động xây dựng chiến lược, kế hoạch và có biện pháp tích cực, chủ động phòng,
chống. Phòng, chống tham nhũng, lãng phí là nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa lâu dài,
cần có những biện pháp giải quyết tình thế, tạo bước chuyển biến rõ rệt, đồng thời có
chủ trương, giải pháp có tính chiến lược, phòng, chống tận gốc. Đấu tranh phòng,
chống tham nhũng, lãng phí phải được tiến hành với tinh thần kiên quyết, kiên trì,
thường xuyên, liên tục, có bước đi vững chắc, tích cực, lựa chọn đúng trọng tâm,
trọng điểm, tạo bước đột phá, gây dựng lòng tin cho toàn xã hội. Đấu tranh phòng,
chống tham nhũng, lãng phí với tinh thần tích cực chủ động, phòng ngừa là chính,
đồng thời kiên quyết xử lý nghiêm minh những vụ việc đã được phát hiện. Phòng,
chống tham nhũng, lãng phí phải nhằm phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội,
bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, củng cố hệ thống chính trị và xây
dựng khối đại đoàn kết toàn dân. Gắn phòng, chống tham nhũng, lãng phí với công
tác xây dựng đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh, phát huy dân chủ, chống
chủ nghĩa cá nhân. Các cấp ủy đảng lãnh đạo chặt chẽ công tác phòng, chống tham
nhũng, lãng phí, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của toàn
dân, thực hiện đồng bộ các biện pháp chính trị, tư tưởng, tổ chức, hành chính, kinh
tế, tài chính và pháp luật, về thanh tra, kiểm tra và giám sát, về chế độ chính sách đãi
thanh tra nhà nước.
Thanh tra nhà nước là việc xem xét, đánh giá, xử lý của cơ quan quản lý nhà
nước đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá
nhân chịu sự quản lý theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Luật
này và các quy định khác của pháp luật. Thanh tra nhà nước bao gồm thanh tra hành
chính và thanh tra chuyên ngành.
Như vậy, với việc quy định nhiệm vụ quyền hạn của thanh tra nhà nước đã tạo
24
Vai trò của thanh tra nhà nước trong phòng chống tham nhũng và thực tiễn tại địa bàn kiến tập
điều kiện cho thanh tra nhà nước có điệu kiện hơn trong việc hoạt động của mình,
cũng như thực hiện tốt vai trò chống tham nhũng.
2.2-
Vai trò của thanh tra nhà nước trong phòng chống tham nhũng
2.2.1- Về mặt lý luận
Nhận thức được tình hình, hậu quả của tham nhũng trên các phương diện chính
trị, kinh tế và xã hội. Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều quyết sách quan trọng để
phòng ngừa, đấu tranh chống lại tệ nạn này. Từ Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6
(lần 2) khóa VIII cho đến Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương
Đảng khoá X về tăng cường sự lãnh đạo của Ðảng đối với công tác phòng, chống
tham nhũng, lãng phí đều khẳng định quan điểm nhất quán “phòng, chống tham
nhũng, lãng phí là nhiệm vụ cực kỳ quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc của Ðảng, Nhà nước và nhân dân ta”.
Hiện nay, công tác phòng, chống tham nhũng thuộc trách nhiệm của nhiều cơ