ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
SOUKSAVANH BOUDCHANTHALATH
CHẾ ĐỊNH THỪA KẾ THEO BỘ LUẬT
DÂN SỰ NƢỚC CHDCND LÀO
Chuyên ngành: Luâṭ dân sƣ̣
Mã số: 60 38 30
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS. TS Nguyễn Bá Diến
HÀ NỘI - 2013
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin ca m đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của
r i ê n g t ô i . C á c k ế t q u ả n ê u t r o n g L u ậ n v ă n c h ư a đ ư ợc c ô ng b ố
trong bất k ỳ công trình nào khác . Cá c số liệu , ví dụ và trích dẫn
trong Luận văn đảm bảo tính chính xác , tin cậy và trung thực. T ô i
đ ã h o à n t h à n h t ấ t c ả c á c mô n h ọ c v à đ ã t h a n h t o á n t ấ t c ả c á c n
g h ĩ a v ụ t à i c h í n h t h e o q u y đ ị n h c ủ a K h o a L u ậ t Đạ i h ọ c Q u ố c g
i a Hà N ộ i .
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để
tôi có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƢỜI CAM ĐOAN
SOUKSAVANH BOUDCHANTHALATH
1.3.1. Giai đoạn trƣớc cách mạng tháng 12 năm 1975 ................................ 14
1.3.2. Giai đoạn từ ngày 02/12/1975 đến nay .............................................. 18
1.4.
Cơ sở pháp lý của chế định thừa kế theo pháp luật nƣớc Cộng
hòa dân chủ nhân dân Lào.................................................................. 21
1.5.
Vị trí, vai trò của chế định thừa kế trong hệ thống pháp luật dân
sự nƣớc Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào .......................................... 29
Kết luận chƣơng 1 ........................................................................................... 36
Chƣơng 2: NỘI DUNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ THỪA KẾ TRONG
PHÁP LUẬT NƢỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN
LÀO TRÊN CƠ SỞ ĐỐI CHIẾU VỚI CHẾ ĐỊNH THỪA KẾ
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM...................................................... 37
2.1.
Những nội dung cơ bản của pháp luật thừa kế của nƣớc Cộng
hòa dân chủ nhân dân Lào.................................................................. 37
2.1.1. Nhóm các quy phạm pháp luật quy định chung về thừa kế ............... 37
2.1.2. Nhóm quy phạm pháp luật quy định về thừa kế theo di chúc............ 47
2.1.3. Nhóm quy phạm pháp luật quy định về thừa kế theo pháp luật ........ 60
2.1.4.
Nhóm quy phạm pháp luật quy định về thừa kế quyền sử dụng đất......... 72
KẾT LUẬN ................................................................................................... 132
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO...................................................... 134
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Lịch sử tồn tại và phát triển của xã hội loài ngƣời là sự vận động không
ngừng của tự nhiên và xã hội. Từ thuở sơ khai, cùng với những hình thái kinh tế
bắt đầu manh nha xuất hiện tuy còn đơn giản thì quan hệ "Thừa kế" cũng đã
theo đó xuất hiện nhƣ một tất yếu khách quan và có mối liên hệ ràng buộc với
nhau. Pháp luật của các quốc gia trên thế giới đều ghi nhận và bảo vệ quyền
thừa kế của công dân quốc gia mình. Mỗi Nhà nƣớc dù có các xu thế chính trị
khác nhau, nhƣng đều coi thừa kế là một quyền quan trọng của công dân và
đƣợc ghi nhận trọng đạo luật cơ bản đó là Hiến pháp.
Ở Lào, từ thời phong kiến cho đến nay, pháp luật về thừa kế đƣợc xây
dựng và hoàn thiện phù hợp với quan hệ sản xuất ở từng giai đoạn nhất định,
theo đó quyền và lợi ích về tài sản của công dân đƣợc chú ý bảo vệ phù hợp
với tình hình kinh tế xã hội của đất nƣớc. Lịch sử đã cho thấy rằng, pháp luật về
thừa kế ở Lào luôn đƣợc bổ sung và hoàn thiện ngày càng mở rộng và có sự
phụ thuộc vào thành quả phát triển kinh tế xã hội qua các thời kỳ.
Trải qua quá trình đấu tranh cách mạng, xây dựng chủ nghĩa dân chủ ở
Lào, các quy định này đã đƣợc ghi nhận, mở rộng, phát triển và đƣợc thực
hiện trên thực tế tại các Hiến pháp 1991, Bộ luật dân sự 1990 đƣợc bổ sung
vào năm 2008. Đặc biệt, là bổ sung của Luật thừa kế năm 2008 đã đánh dấu
một bƣớc phát triển của pháp luật Lào nói chung và Luật thừa kế nói riêng.
Bộ luật dân sự 1990 là kết quả của quá trình pháp điển hóa những quy định
của pháp luật thừa kế. Nó kế thừa và pháp triển những quy định phù hợp với
thực tiễn, không ngừng hoàn thiện để đảm bảo quyền và lợi ích ngƣời dân
một cách có hiệu quả nhất.
T r o n g g i a i đ o ạ n h i ệ n n a y, k h i s ố l ƣ ợ n g v à g i á t r ị t à i s ả n c ủ a c á n h â n
và Đinh Văn Thành. Các công trình trên đƣợc thực hiện khi nhà nƣớc
2
Việt Nam chƣa ban hành Bộ luật dân sự nên tất cả đều dựa vào pháp lệnh
thừa kế. Các công trình này chƣa giải quyết đƣợc bản chất pháp lý thừa kế,
các loại thừa kế mà chỉ đơn giản dừng lại ở tìm hiểu pháp luật.
Sau khi Nhà nƣớc Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào ban hành Luật thừa
kế 1990 thì việc nghiên cứu đề tài vẫn có một số tài liệu, sách tham khảo đề cập
tới. Nhƣng so với Việt Nam, thì ở Lào rất ít có những tài liệu phân tích kỹ về vấn
đề này.
Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu của các tác giả nói trên chủ
yếu mới dừng lại phân tích các quy định của pháp luật về thừa kế theo di chúc
hoặc thừa kế theo pháp luật, phân chia di sản thừa kế và chỉ ra định hƣớng
hoàn thiện cho Luật thừa kế 1990 mà không khái quát đƣợc lịch sử hình thành và
phát triển của các quy định về thừa kế qua các thời kỳ cũng nhƣ chƣa đƣa ra
đƣợc những giải pháp hoàn thiện pháp luật thừa kế Lào. Hơn nữa các tác
phẩm trên chủ yếu viết trƣớc năm 2008 nên có rất nhiều điểm thay đổi cả về mặt
pháp luật và thực tiễn cuộc sống. Do đó, trong bối cảnh hiện nay khi mà Bộ luật
dân sự năm 1990 mới đƣợc bổ sung năm 2008 quy định về thừa kế nhƣng vẫn
còn tồn tại một vài điểm bất cập so với thực tế thì luận văn mang một ý nghĩa rất
riêng và thực tiễn.
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
* Mục đích: Trên cơ sở phân tích, tìm hiểu quá trình phát triển pháp
luật về thừa kế ở Lào qua các giai đoạn lịch sử khác nhau, luận văn đánh giá
những mặt tích cực và hạn chế của pháp luật thừa kế Lào hiện nay. Trên cơ sở
đối chiếu với pháp luật thừa kế của Việt Nam để từ đó nêu lên những quan
điểm, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thừa kế của quốc gia Lào trong
thời đại ngày nay.
pháp tổng hợp, phƣơng pháp nghị luận.
4
5. Những đóng góp về khoa học của luận văn
- Trên cơ sở phân tích, đánh giá các quy định hiện hành của pháp luật
Lào cũng nhƣ so sánh đối chiếu với pháp luật Việt Nam, tác giả đƣa ra quan
điểm của cá nhân về khái niệm pháp luật thừa kế cũng nhƣ nguyên tắc, vai trò
pháp luật thừa kế nhằm chứng minh tính đặc thù pháp luật thừa kế ở Lào, từ
đó góp phần hoàn thiện hơn khoa học trong lĩnh vực thừa kế.
- Hệ thống hóa những quy định của pháp luật về thừa kế qua các giai
đoạn lịch sử, để phân tích đƣa ra những nhận định, đánh giá nhằm làm sáng tỏ
quá trình phát triển và thực trạng của pháp luật thừa kế Lào.
- Từ nhận xét, đánh giá sự phát triển và thực trạng pháp luật thừa kế ở
Lào, tham khảo kinh nghiệm của một số nƣớc trên thế giới, nhất là Việt Nam,
luận văn đã đƣa ra các quan điểm, giải pháp cụ thể trong việc hoàn thiện pháp luật
về thừa kế ở Lào trong giai đoạn hiện nay.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Về lý luận: Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần làm cơ sở lý
luận quan trọng cho việc bổ sung Bộ luật dân sự năm 1990 của Lào, đặc biệt là
pháp luật về thừa kế. Đồng thời luận văn còn là nguồn tài liệu tham khảo phục
vụ công việc nghiên cứu giảng dạy và học tập của cán bộ, giáo viên và sinh
viên chuyên ngành Luật.
- Về thực tiễn: Luận văn đề ra các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện
pháp luật thừa kế sẽ có ý nghĩa thiết thực cho ngƣời có thẩm quyền áp dụng
luật để giải quyết tranh chấp về thừa kế trên thực tiễn. Ngoài ra, luận văn còn là
tài liệu bổ ích cho mọi cá nhân trong việc để lại di sản thừa kế, lập di chúc
cũng nhƣ trong quá trình thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự của mình về lĩnh
vực thừa kế.
chỉnh việc chuyển dịch tài sản của ngƣời chết cho ngƣời khác theo di chúc
hoặc theo một trình tự pháp luật nhất định, đồng thời quy định phạm vi, quyền
nghĩa vụ và phƣơng thức bảo vệ các quyền và nghĩa vụ của ngƣời thừa kế.
N g ƣờ i t h ừ a k ế t h e o p h á p l u ậ t c h ỉ l à c á n h â n v à p h ả i l à n g ƣờ i c ó q u a n h
ệ h ô n n h â n h u yế t t h ố n g h o ặ c n u ô i d ƣ ỡ n g đ ố i v ớ i n g ƣ ờ i đ ể l ạ i d i s ả n . C ò n n g
ƣờ i t h ừ a k ế t h e o d i c h ú c c ó t h ể l à c á n h â n , t ổ c h ứ c h o ặ c N h à n ƣ ớ c c h o d ù
d i s ả n d o n g ƣờ i c h ế t đ ể l ạ i t h u ộ c v ề c á n h â n h a y t ổ c h ức đ ƣợ c h ƣở n g t h
ừa k ế t h ì n ó v ấ n t ồ n t ạ i c h u n g c h o x ã h ộ i v ì k h i d i s ả n ấ y đ ƣ ợ c đ ƣ a r a s ử
dụng, khai thác hợp lý thì cũng mang lại hiệu quả kinh tế không chỉ đối với
ngƣời đƣợc hƣởng thừa kế mà còn cho những ngƣời xung quanh nói riêng v
à t o àn x ã h ộ i n ó i ch u n g .
Ở Lào, trong các triều đại phong kiến trƣớc đây, pháp luật về thừa kế
cũng đƣợc manh nha hình thành và dựa trên cơ sở lễ giáo phong kiến. Đồng
thời ở "đất nƣớc triệu voi" này chịu nhiều tác động của nền văn hóa khác nhau,
cả một thời kỳ lãnh thổ của Lào nhƣ là những vùng phụ thuộc của Việt Nam,
chịu phụ thuộc triều đình Huế, rồi bị trao quyền kiểm soát cho Pháp.
9
Nên Pháp đã áp đặt một khái niệm quốc gia kiểu Châu Âu lên những quan hệ
phong kiến đó, và từ đó dựng lên một tuyên bố chủ quyền về lãnh thổ đối với toàn
bộ lãnh thổ từng thuộc về vƣơng quốc Lān Xāng. Do vậy, pháp luật nói chung
và Luật thừa kế nói riêng cũng theo đó mà ảnh hƣởng. Pháp luật về thừa kế
thời kỳ này còn nhằm mục đích duy trì, bảo vệ những truyền thống chế độ gia
đình phụ quyền và hiếu nghĩa của con cháu đối với dòng họ. Những quan
niệm về gia đình, lễ giáo, tín ngƣỡng và chuẩn mực đạo đức thờ cúng tổ tiên đã
tác động mạnh lên quan hệ thừa kế. Vì vậy, quan hệ thừa kế thời kỳ này còn
thể hiện rõ sự bất bình đẳng giữa vợ chồng, giữa nam và nữ. Có sự khác nhau
khi để lại di sản giữa các tài sản khác và đất hƣơng hỏa dùng thờ cúng ông bà
luật cho phép.
Pháp luật thừa kế của Lào cũng nhƣ các nƣớc đều quy định hai
phƣơng thức thừa kế chủ yếu là phƣơng thức thừa kế bằng di chúc và
phƣơng thức thừa kế theo pháp luật.
Luật La Mã quy định hai hình thức cơ bản là thừa kế theo di chúc
(testato) và thừa kế theo luật (intestato), ngoài ra còn có thừa kế theo lệnh của
các quan. Ở thời kỳ đầu, hình thức chủ yếu là thừa kế theo luật, sau đó thừa
kế theo di chúc trở thành phổ biến hơn.
Một là, thừa kế theo di chúc (testato):
Di chúc là ý chí chủ quan của ngƣời có tài sản định đoạt tài sản của
mình cho ngƣời khác sau khi chết. Theo luật gia Ulpian thì: "Di chúc là sự thể
hiện ý chí của chúng ta và ý chí đó đƣợc thực hiện sau khi chúng ta chết".
Luật La Mã quy định trong di chúc không đƣợc phép "im lặng bỏ qua" đối
với hàng thừa kế thứ nhất (các con, nếu con chết thì các cháu). Nếu "Im lặng
bỏ qua" thì di chúc vô hiệu mặc dù tuân thủ đầy đủ các điều kiện khác. Ví dụ:
Ông A có ba ngƣời con là B, C, D, ông để lại di chúc với nội dung: "Tôi cho
hai con tôi là B và C mỗi đứa một nửa tài sản" mà không ghi "truất quyền
thừa kế của D" thì di chúc vô hiệu vì đã im lặng bỏ qua D. Nếu A chết tài sản sẽ
đƣợc chia theo luật cho B, C, D.
11
Ngƣời lập di chúc có quyền bổ sung, hủy bỏ di chúc vào bất kỳ lúc nào.
Nếu có ngƣời lập nhiều di chúc thì di chúc sau có giá trị hơn di chúc trƣớc.
Luật La Mã quy định khá chặt chẽ các điều kiện để một di chúc có hiệu lực
nhƣ: ngƣời lập di chúc phải có khả năng lập di chúc (con gái từ 12 tuổi, con
trai từ 14 tuổi trở lên, không bị tâm thần, không phạm trọng tội); hình thức di
chúc phải phù hợp với quy định của pháp luật (di chúc viết phải đƣợc quan
tòa, quan chấp chính chứng thực, di chúc miệng phải có bảy ngƣời làm chứng,
ngƣời thừa kế phải đƣợc chỉ định rõ ràng, chính xác); ngƣời đƣợc chỉ định
- Hàng thứ nhất: Các con (các cháu nếu các con chết)
- Hàng thứ hai: Bố mẹ (nếu bố mẹ chết thì ông bà nội, ông bà ngoại,
anh chị em ruột).
- Hàng thứ ba: Anh, chị, em cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha.
- Hàng thứ tƣ: Họ hàng nội, ngoại theo nhánh ngang tính từ gần đến xa,
từ nội đến ngoại trong phạm vi sáu đời.
- Hàng thứ năm: Nếu không có những ngƣời ở bốn hàng trên thì quan
tòa có quyền quyết định cho vợ hƣởng một phần di sản.
Có thể nói Luật La Mã nói chung và chế định về quyền thừa kế nói
riêng vẫn là minh chứng hùng hồn cho quan điểm của những ai cho rằng Luật
La Mã là một phần không thể thiếu đƣợc của văn minh nhân loại. Tất nhiên
cho đến nay một số quy phạm của Luật La Mã không còn phù hợp nữa. Điều
đó cũng dễ hiểu bởi vì điều kiện xã hội, kinh tế, chính trị của xã hội La Mã
khoảng hai ngàn năm về trƣớc khác xa so với bây giờ. Dẫu sao một số quy
định của Luật La Mã thiết nghĩ rằng có thể đƣợc kế thừa vào luật dân sự của
các nƣớc trong đó có Lào.
Vì vậy, mà dù mỗi nƣớc có những quy định khác nhau trong vấn đề thừa
kế, nhƣng nhìn chung phƣơng thức thừa kế chủ yếu thì đều có quy định giống
nhau đó là hai phƣơng thức nhƣ đã nói ở trên. Ở phần sau chúng ta sẽ tìm hiểu
kỹ hơn các phƣơng thức thừa kế của Lào trên cơ sở so sánh với Việt Nam.
13
1.3. Quá trình hình thành và phát triển chế định thừa kế nƣớc
Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào
1.3.1. Giai đoạn trước cách mạng tháng 12 năm 1975
Lào là quốc gia có nền lịch sử hình thành và phát triển khá phức tạp,
trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm khác nhau dó đó mà nền pháp luật cũng trải
qua nhiều chặng đƣờng mà mỗi giai đoạn đều mang một đặc thù riêng của nó.
pháp luật làm công cụ của kẻ xâm lƣợc thuộc địa, do đó pháp luật dân sự của
Lào ra đời trong thời kỳ đó chứa đựng bản chất thực dân-phong kiến khá rõ
nét. Đặc biệt, chỉ là nói bằng miệng và tập trung nhau một buổi họp mà thôi do
lúc này chƣa có các văn bản nào mà hƣớng dẫn khác nhƣng phải tuân theo
nội quy khi giải thích trong buổi họp. Những quy định này điều chỉnh quan hệ
pháp luật về thừa kế mang các tính chất trọng nam, khinh nữ, mang nặng tƣ
tƣởng hiếu nghĩa giữa cha mẹ và con cái, giữa vợ và chồng không có quan hệ
bình đẳng. Ví dụ ngƣời vợ không có quyền bằng con trai vì ngƣời vợ chỉ có
quyền trong khi ngƣời chồng chết thôi. Do coi trọng quan hệ huyết thống, pháp
luật thừa kế thời kỳ này đã chú ý đến quyền bình đẳng của các con trong việc
hƣởng di sản thừa kế của bố mẹ, thể hiện ở trong Luật hôn nhân gia đình và
Luật lao động. Luật thừa kế đã bảo vệ những quyền chính đáng của các con
trong gia đình theo nguyên tắc tài sản của cha, mẹ sẽ thuộc về các con khi cha,
mẹ qua đời. Đây chính là điểm quan trọng trong quan hệ thừa kế theo pháp
luật.
Trong chiến tranh Đông Dƣơng lần thứ nhất, Đảng Cộng sản Đông
Dƣơng đã lập ra tổ chức kháng chiến Patht Lào nhằm giành độc lập cho Lào.
Lào hoàn toàn độc lập sau khi Pháp bị những ngƣời Cộng sản Việt Nam đánh
bại và sau hội nghị Genève năm 1954. Từ khi giành đƣợc độc lập, cuộc tổng
tuyển cử đƣợc tổ chức năm 1955, và chính phủ đầu tiên do hoàng tử
Souvanna Phouma lãnh đạo đƣợc thành lập năm 1957. Các mối quan hệ xã
hội dần đƣợc thay đổi theo những chủ trƣơng của chính quyền mới. Cùng với
15
sự ra đời của Nhà nƣớc non trẻ, pháp luật của chế độ mới cũng đƣợc hình
thành và phát triển, trong đó vấn đề thừa kế cũng đƣợc chú ý cải tổ. Dù giành
đƣợc độc lập nhƣng quyền lực của nhà nƣớc Lào vẫn nằm trong tay các chế
độ phong kiến. Do vậy, pháp luật thừa kế thời kỳ này nhìn chung cũng không
thay thế cho Hiến pháp 1946 của Việt Nam đã ghi nhận về quyền đƣợc pháp
luật bảo hộ quyền sở hữu về ruộng đất và các tƣ liệu sản xuất khác của nông
dân, đồng thời pháp luật bảo hộ quyền sở hữu của công dân về của cải thu
nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở và các thứ vật dụng riêng khác, quyền
thừa kế tài sản tƣ hữu của công dân đƣợc bảo đảm. Tuy nhiên, thời kỳ này
cũng nhƣ ở Lào, Việt Nam chƣa có một bộ luật dân sự hoàn thiện nên những
quy định trong Hiến pháp là cở sở để Tòa án nhân dân tối cao đƣa ra những
Thông tƣ hƣớng dẫn và làm phƣơng tiện để xét xử giải quyết tranh chấp thừa
kế. Ngoài ra tại Luật hôn nhân gia đình 1959 của Việt Nam đã cụ thể hóa hiến
pháp trong việc quy định "vợ và chồng có quyền thừa kế tài sản của nhau" [24,
Đ76] và " Các con có nghĩa vụ và quyền lợi ngang nhau trong quy định nói
chung và trong lĩnh vực thừa kế nói riêng [24, Đ19]. Ngoài ra, tại Miền Nam
Việt Nam thời kỳ này (1959) cũng có thêm Luật gia đình của Ngô Đình Diệm
ký cũng thể hiện một số nội dung tiến bộ so với quy định trƣớc đây. Nhƣ việc
ghi nhận ngƣời vợ có quyền tự mình ký các chúc thƣ, khế ƣớc...Tiếp đó là Bộ
dân luật của chính quyền Sài Gòn năm 1972 đã quy định khá cụ thể về thừa kế
theo di chúc và thừa kế theo pháp luật, ghi nhận vợ và chồng có quyền lập
chúc thƣ để định đoạt tài sản của mình, đặc biệt có trƣờng hợp hai vợ chồng
cùng làm chúc thƣ để định đoạt tài sản chung [4; Đ572].
Qua một vài so sánh trên để thấy rằng pháp luật Lào có những mốc
hình thành và phát triển khác với Việt Nam, cũng nhƣ các nƣớc. Khi mà pháp
luật về thừa kế của Việt Nam đã mang những nội dung mới tiến bộ, hƣớng
việc xóa bỏ những quan niệm lạc hậu, tƣ tƣởng trọng nam khinh nữ, thực hiện
quyền bình đẳng nam nữ, bình đẳng mọi công dân trong lĩnh vực về thừa kế
17
thì pháp luật thừa kế của Lào còn phụ thuộc vào ý chí của những nƣớc đô hộ
trên đất nƣớc Lào nên chƣa thể xây dựng đƣợc một hệ thống pháp luật do
thừa kế của công dân, thừa kế theo di chúc, diện và hàng thừa kế, thời hiệu,
yêu cầu chia di sản thừa kế. Ví dụ: tại Điều 36 Pháp lệnh quy định " Trong
thời hạn 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế, ngƣời thừa kế có quyền khởi
kiện để yêu cầu chia di sản, xác định quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ
quyền thừa kế của ngƣời khác. Trong thời hạn ba năm kể từ thời điểm mở
thừa kế, cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền khởi kiện để yêu cầu ngƣời thừa kế
thực hiện nghĩa vụ tài sản do ngƣời chết để lại". Pháp lệnh này đã thể hiện và quy
định rất rõ về tất cả những nội dung mà Bộ luật dân sự 1995 của Việt Nam đã
lấy đó làm nền tảng để xây dựng những nội dung về thừa kế. Tuy còn những hạn
chế, nhƣng nó đã chứa đựng các quy phạm pháp luật tƣơng đối tổng hợp,
toàn diện, thống nhất điều chỉnh quan hệ về thừa kế. Pháp lệnh thừa kế 1990 của
Việt Nam là tài liệu tham khảo quan trọng của quốc gia Lào khi tiến hành xây
dựng luật pháp về thừa kế trong giai đoạn này đó là pháp lệnh thừa kế 1988.
Đặc biệt, là sự ra đời của Bộ luật dân sự 1995 đã quy định về nguyên tắc thừa
kế di sản và những quy định về quyền thừa kế của công dân từ trƣớc tới nay
đã đƣợc sửa đổi bổ sung một cách phù hợp, bảo đảm quyền và nghĩa vụ. Bộ
luật dân sự Việt Nam 1995 là Bộ luật dân sự đầu tiên và tƣơng đối đồ sộ với
838 Điều, gồm 7 phần; trong đó thừa kế đƣợc quy định ở phần thứ IV và
chƣơng VI phần thứ V. Về mặt nội dung pháp luật thừa kế, bộ luật đã quy định
rõ các vấn đề thừa kế theo di chúc, thừa kế theo pháp luật, thừa kế kế vị, quyền
hƣởng thừa kế...nội dung của thừa kế không còn dấu hiệu của chế độ tàn dƣ
phong kiến hay thực dân nữa mà là sự tôn trọng quyền con ngƣời, bảm đảm
cho mọi công dân thực hiện quyền tự do đƣợc để lại di sản và quyền hƣởng di
sản, thậm chí là quyền từ bỏ di sản. Nhìn ở mặt khách quan, có thể khẳng
định rằng, các quy định về thừa kế trong Bộ luật dân sự 1995 của Việt Nam là
một bƣớc tiến quan trọng trong quá trình lập pháp của Việt Nam, nhằm khắc
phục kịp thời sự thiếu tập trung, không đầy đủ của pháp
20