BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG……………..
TIỂU LUẬN
Những vướng mắc cần tháo gỡ trong việc cấp Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất giữa cha con ông Nguyễn Văn A ở thôn S, xã V, huyện Q
1
a. lời nói đầu
Trong sự nghiệp đổi mới hiện nay do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo,
quá trình phát triển kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, đẩy mạnh công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; những năm qua, đất nước ta đã thu được
nhiều thành tựu quan trọng trên các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, đồng thời
cũng làm nảy sinh nhiều vấn đề xã hội bức xúc cần được giải quyết. Trong đó
việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân đang là vấn đề bức xúc, cần giải
quyết kịp thời đúng đường lối, chính sách của Đảng, Pháp luật của Nhà nước,
góp phần nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước trên các lĩnh vực của đời sống xã
hội.
Những khuyết tật của nền kinh tế thị trường hiện nay, đã xuất hiện một bộ
phận công dân có lối sống thực dụng, sa sút về đạo đức, về nhân cách, bất chấp
tất cả để đạt được mục đích của mình; trong quản lý và sử dụng đất đai, còn xảy
ra tình trạng lấn chiếm đất trái phép, tranh chấp đất đai, đặc biệt trong các gia
đình đã và đang xảy ra tranh chấp quyền sử dụng đất, quyền thừa kế đất đai.
Để xảy ra tình trạng trên, một phần là do đạo đức, lối sống ngày càng bị
tha hoá, nhận thức về pháp luật còn hạn chế, ý thức chấp hành Pháp luật của
công dân còn thấp; một phần là do cán bộ, công chức còn thiếu trách nhiệm
trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình về quản lý đất đai; hoặc do một
số mặt còn hạn chế trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai của các cấp
chính quyền, các ngành chức năng khi giải quyết, nên đã để một số vụ tranh
2. Hậu quả tình huống có thể xảy ra.
IV. Xây dựng, phân tích và lựa chọn phương án giải quyết tình huống.
1. Xây dựng, phân tích các phương án.
2. Lựa chọn phương án.
V. Tổ chức thực hiện phương án đã chọn.
1. Các bước tiến hành.
2. Lịch thời gian giải quyết phương án đã chọn.
VI. Một số kiến nghị.
C. Kết luận:
3
4
b. nội dung
I. Mô tả tình huống
1. Bối cảnh, không gian xảy ra tình huống.
Ông Nguyễn Văn A, được bố mẹ để lại cho một mảnh vườn, có nhà ở với
diện tích 960 m2 tại thôn S, xã V, huyện Q.
Hiện trạng mảnh vườn như sau:
Đường liên
25m
38,4m
Ông Nguyễn Văn A xây dựng gia đình đã lâu nhưng không có con, ông A
đi bộ đội chiến đấu ở chiến trường miền Nam, khi phục viên trở về quê hương,
nhà mà cha mẹ để lại, ông Nguyễn Văn A đã làm đơn khiếu nại đến các cơ quan
có chức năng của huyện Q đề nghị kiểm tra, xác minh làm rõ theo nội dung trình
bày của ông Nguyễn Văn A là: Năm 1997, ông A chỉ viết giấy chuyển nhượng
đất cho anh H diện tích 500 m2, vì sao UBND huyện Q cấp cho anh H Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất 960 m2, đúng bằng diện tích thửa đất của ông
được cha mẹ để lại.
2. Lý do xảy ra tranh chấp.
Qua thẩm tra, xác minh, tìm hiểu ban đầu, nguyên nhân sâu xa dẫn đến
tranh chấp đất đai giữa cha con ông Nguyễn Văn A là do anh Nguyễn Văn H
chưa nhận thức đầy đủ về Pháp luật, lợi dụng sự tín nhiệm của bố mẹ nuôi, làm
mất tình cảm cha con. Năm 1999, anh Nguyễn Văn H xây dựng nhà mới trên
mảnh đất 500 m2 mà ông A chuyển nhượng lại. Do điều kiện kinh tế chưa cho
phép, nhưng anh H quyết định xây nhà ở kết hợp làm nơi sản xuất hàng mộc thủ
công mỹ nghệ của HTX do anh H thành lập. Vì thiếu vốn để xây dựng, nên anh
6
H có hỏi mượn vợ chồng ông A số tiền tiết kiệm mà vợ chồng ông để dành khi
về già, thì ông Nguyễn Văn A không đồng ý. Từ đó, vợ chồng anh H ít quan tâm
đến vợ chồng ông A. Theo như thoả thuận ban đầu giữa hai cha con ông A, vợ
chồng anh H có trách nhiệm chăm sóc vợ chồng ông A khi già yếu, sự việc càng
nghiêm trọng hơn khi ông A định chuyển nhượng 200 m 2 đất, để lấy tiền sửa
chữa lại căn nhà mà vợ chồng ông A đang ở, thì anh H cản trở và tuyên bố: Toàn
bộ thửa đất 960 m2 Nhà nước đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho
anh Nguyễn Văn H. Ông A không có quyền gì trên thửa đất đó nữa…
Việc mâu thuẫn, tranh chấp đất đai giữa cha con ông Nguyễn Văn A đã
được các tổ chức, chính quyền và đoàn thể xã V, thôn S tổ chức gặp gỡ hoà giải
nhiều lần nhưng không thành. Từ đó, việc tranh chấp đất đai giữa cha con ông A
ngày càng nghiêm trọng, dẫn đến việc ông Nguyễn Văn A làm đơn khiếu nại đề
nghị các cơ quan thẩm quyền giải quyết. Đơn khiếu nại ghi ngày 20/02/2005,
nhiệm của bố mẹ nuôi; Do sự thiếu hiểu biết về Luật đất đai của vợ chồng ông
Nguyễn Văn A, sau khi viết Giấy chuyển nhượng đất và làm thủ tục giao quyền
sử dụng đất cho con, không lấy lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của
mình, nên không biết được việc làm sai trái của con mình để kịp thời xử lý; Việc
làm thiếu trách nhiệm của cán bộ, công chức các cấp trong thi hành công vụ, đã
làm thủ tục chuyển nhượng đất cho anh H mà chưa xem xét đến những người có
quyền và lợi ích liên quan, không thực hiện đầy đủ quy trình chuyển nhượng
quyền sử dụng đất mà pháp luật đã quy định.
- Thứ hai: Do công tác quản lý đất đai của các cấp chính quyền, các ngành
chức năng còn buông lõng, thiếu chặt chẽ và cương quyết, nên đã để xảy ra tình
trạng tranh chấp đất đai nêu trên.
-Thứ ba: Do mâu thuẫn gia đình ngày càng nghiêm trọng, căng thẳng, gay
gắt không thể tự giải quyết được; công tác hòa giải ở thôn S, xã V kém hiệu quả.
2. Hậu quả tình huống có thể xảy ra.
8
Do cán bộ, công chức không làm tròn trách nhiệm của mình trong việc
làm thủ tục chuyển nhượng đất đai, giữa cha con ông Nguyễn Văn A; anh
Nguyễn Văn H được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 960 m2, hoàn toàn
không đúng các quy định của Pháp luật về đất đai, dẫn đến tranh chấp; làm mất
uy tín của các cơ quan quản lý Nhà nước, giảm sút lòng tin của nhân dân đối với
các cấp chính quyền, làm suy giảm tính pháp lý của Pháp luật XHCN, kỷ cương
phép nước không được thực hiện nghiêm túc. Những hộ gia đình khác cũng có
thể làm được như vậy, nếu sự việc tại gia đình ông Nguyễn Văn A không được
giải quyết dứt điểm có tình, có lý đúng Pháp luật.
Nếu lấy lý do, Nhà nước đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho
mình mà vợ chồng anh Nguyễn Văn H không cho bố mẹ nuôi chuyển nhượng
đất và sửa chữa nhà ở. Việc làm đó là trái với đạo lý làm con, không đúng với
Qua phân tích việc tranh chấp đất đai và mâu thuẫn giữa cha con ông Nguyễn
Văn A, chỉ ra những việc làm đúng, sai của từng người, giúp các thành viên
trong gia đình nhìn nhận thấu đáo những hành vi sai trái của mình và hiểu rõ
nhau hơn để cùng chia sẽ và thông cảm cho nhau.
Về khuyết điểm: Nếu áp dụng phương pháp hòa giải này thì việc giải
quyết tranh chấp đất đai giữa cha con ông Nguyễn Văn A, chỉ dừng lại ở mức độ
tự giải quyết trong nội bộ gia đình. Quyền sử dụng đất của các thành viên trong
nội bộ gia đình chưa được phân định một cách rõ ràng, đúng Pháp luật, chưa
được các cơ quan có thẩm quyền thừa nhận. Việc tranh chấp đất đai có thể tiếp
tục diễn ra nếu giải quyết tranh chấp không dứt điểm, mâu thuẫn gia đình có thể
tái diễn lại.
Đối với tình huống này, việc áp dụng phương án hòa giải là không có tính
khả thi vì mâu thuẫn gia đình giữa cha con ông Nguyễn Văn A đã khá nghiêm
trọng và tranh chấp đất đai có thể lại tiếp diễn.
b. Phương án thứ hai: Gửi nguyên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
mang tên Nguyễn Văn H.
10
Trong thời điểm anh Nguyễn Văn H đi làm thủ tục chuyển nhượng đất,
ông A không hay biết việc anh H đã thay giấy chuyển nhượng mà ông đã viết.
Từ khi được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, vợ chồng anh H luôn làm tròn nghĩa vụ sử dụng đất đối với
Nhà nước, vợ chồng anh H cũng là thành viên trong gia đình ông A nên vợ
chồng anh H được quyền sử dụng đất.
Việc giải quyết tình huống này, theo phương án gửi nguyên Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất mang tên anh H thì có những ưu, khuyết điểm sau:
Về ưu điểm:
Vợ chồng anh Nguyễn Văn H được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp
phải có quyền sử dụng đất. Mặt khác, phương án này khuyết điểm nhiều hơn ưu
điểm, luôn tiềm ẩn làm nảy sinh việc tái khiếu kiện.
c. Phương án thứ ba: Chia tách quyền sử dụng đất.
Theo Điều 136 Luật đất đai quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp
đất đai, Điều 138 Luật đất đai quy định giải quyết khiếu nại về đất đai thì khi
nhận được đơn khiếu nại của ông Nguyễn Văn A thuộc thẩm quyền giải quyết
của Chủ tịch UBND huyện Q; các ngành chức năng tham mưu cho Chủ tịch
UBND huyện ra Quyết định thụ lý giải quyết.
- Thu hồi quyết định giao quyền sử dụng đất cho anh Nguyễn Văn H trái
quy định, và thực hiện việc cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông
Nguyễn Văn A và anh Nguyễn Văn H, theo đúng luật đất đai hiện hành.
Việc giải quyết tình huống này theo phương án chia tách quyền sử dụng
đất quay lại theo trình tự ban đầu, xuất phát từ việc ông Nguyễn Văn A ghi Giấy
chuyển nhượng cho con là Nguyễn Văn H. 500 m2 (có Giấy chuyển nhượng) thì
có những ưu, khuyết điểm sau:
Về ưu điểm:
12
Bảo vệ được quyền lợi cho công dân, cụ thể là ông Nguyễn Văn A có
được quyền sử dụng đất, đảm bảo tính thống nhất của Pháp luật, tăng cường
Pháp chế XHCN, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước trong lĩnh vực
quản lý và sử dụng đất đai, giải quyết nhanh chóng, dứt khoát các hậu quả của
vụ khiếu nại, không làm rắc rối thêm tình hình khu vực, tạo được niềm tin của
nhân dân đối với các cấp chính quyền trong việc giải quyết khiếu nại, cũng như
trong lĩnh vực quản lý và sử dụng đất đai, qua đó giáo dục ý thức Pháp luật cho
công dân.
Tạo cơ sở thuận lợi về mặt pháp lý, tâm lý xã hội để hạn chế những việc
làm sai trái về đạo đức, lối sống nhằm làm giảm những quan hệ phát sinh gây
14
2. Lựa chọn phương án.
Như đã trình bày ở trên, nguyên nhân việc tranh chấp đất đai giữa cha con
ông Nguyễn Văn A là do anh H lợi dụng sự tín nhiệm của cha mẹ nuôi, đã làm
thủ tục chuyển nhượng sai sự thật làm cho ông Nguyễn Văn A từ người có
quyền sử dụng đất trở thành người không có quyền sử dụng đất. Qua phân tích
ba phương án, ta thấy phương án thứ ba là phương án có tính khả thi nhất, có
nhiều ưu điểm nhất, giải quyết tốt mục tiêu đã đặt ra, giải quyết được quyền lợi
của công dân; tạo điều kiện thuận lợi trong việc thi hành Pháp luật. Chấm dứt
được tranh chấp, khiếu nại kéo dài, đem lại sự đoàn kết, hoà thuận trong gia
đình theo pháp luật quy định, hạn chế được những quan hệ phát sinh cho người
Quyết định và người thi hành. Nên cần chọn phương án ba là phương án để giải
quyết tình huống này và lập kế hoạch tổ chức thực hiện phương án đã chọn.
Sơ đồ hiện trạng đất đang có tranh chấp như sau:
Đường liên
25m
Nhà ông A
Nhà anh H
18,4m
20m
38,4m
I. Tổ chức thực hiện phương án đã lựa chọn.
- Chủ tịch UBND huyện kết luận về giải quyết khiếu nại của ông Nguyễn
Văn A.
- Chủ tịch UBND huyện xem xét các yếu tố pháp lý như đã nêu ở trên và
báo cáo kết quả của trưởng đoàn thanh tra, kết luận thanh tra để ban hành quyết
định giải quyết đơn khiếu nại của ông Nguyễn Văn A. Trong đó có nội dung thu
hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh H và giao trách nhiệm cho các
16
bộ phận có liên quan tiến hành làm các thủ tục cần thiết để chia tách, chuyển
nhượng quyền sử dụng đất theo yêu cầu đã được sự thoả thuận của cha con ông
Nguyễn Văn A và các nội dung theo quy định của quyết định giải quyết khiếu
nại lần đầu.
- Hộ ông Nguyễn Văn A và Nguyễn Văn H hoàn tất các thủ tục hành
chính về chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tách hộ. Cán bộ công chức các
phòng ban liên quan và cán bộ địa chính xã V tiến hành đo đạc, cắm mốc giới
theo đúng diện tích mà cha con ông A đã thoả thuận để tham mưu giúp Chủ tịch
UBND huyện ra quyết định giao quyền sử dụng đất và cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất cho hộ ông A, anh H theo đúng quy định của Pháp luật, có lô,
thửa, định hướng và diện tích đất của ông A và anh H.
- Sau khi có quyết định và Giấy cấp quyền sử dụng đất, phòng nông
nghiệp - địa chính cùng với UBND xã V tiến hành giao đất thực địa cho ông A
và anh H, đồng thời trao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông A và anh
H.
- Giao Chánh Thanh tra huyện, phòng Nông nghiệp - Địa chính theo dõi,
kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện Quyết định giải quyết khiếu nại của Chủ tịch
UBND huyện, lập báo cáo gửi cấp có thẩm quyền và kiểm điểm rút kinh
nghiệm.
Bằng văn bản
03/QĐ-CT về việc
Q
UBND huyện Q
Bằng văn bản
UBND V
Bằng văn bản
Nơi xảy ra sự
Bằng văn bản
Địa điểm
Ghi chú
(Hình thức)
thụ lý và thành lập
đoàn thanh tra giải
quyết đơn khiếu nại
của ông Nguyễn Văn
A; gửi thông báo cho
Nguyễn Văn A
18/03/2005
việc (nhà ông A)
Trưởng đoàn Thanh
Lãnh đạo huyện Q,
tra báo cáo kết quả
Trưởng đoàn TT, Thủ
của đoàn Thanh tra
trưởng các phòng ban
với Chủ tịch UBND
liên quan, thành viên
huyện Q
đoàn TT
Kết luận của Chủ
Chủ tịch UBND huyện
tịch UBND huyện về
kết quả TT giải
Chánh Thanh tra huyện
Thanh tra huyện
Bằng văn bản
Phòng Nông nghiệp -
Nơi xảy ra sự
Bằng văn bản
tịch UBND huyện Q
về việc giải quyết
khiếu nại của ông A
04/04/2005
Hoàn thành hồ sơ
giải quyết khiếu nại,
lưu trữ, báo cáo cấp
có thẩm quyền
10/04/2005
Tổ chức thực hiện
Quyết định giải
Địa chính, UBND xã V, việc, (nhà ông A)
Bằng văn bản
anh H, các thủ tục
cấp GCNQSDĐ
26/04/2005
Giao đất thực địa,
Phòng nông nghiệp -
trao GCNQSDĐ cho Địa chính, UBND xã V, việc, (nhà ông A)
cha con ông A,
cha con ông A, anh H
anh H
27/04/2005
Hoàn chỉnh việc xử
Lãnh đạo huyện , Đoàn
lý tình huống, báo
Thanh tra, các phòng
cáo cấp có thẩm
ban liên quan,
trường thuận lợi cho cơ sở hoạt động có hiệu quả, gắn bó với nhân dân, để hiểu
được tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, mới giải quyết công việc một cách
“thấu tình, đạt lý”. Vì qua tình huống nêu trên là một điển hình của lề lối làm
việc qua loa, không sâu sát quần chúng nên hậu quả của việc tranh chấp đất đai
đã xảy ra tại thôn S, xã V, huyện Q.
3. Cần tổ chức tập huấn nghiệp vụ về công tác hòa giải cho cán bộ cơ sở,
nhất là cán bộ thôn, làng, ấp, bản, tiểu khu, để các hòa giải viên đủ năng lực,
giáo dục, thuyết phục các đối tượng tranh chấp làm nảy sinh sự việc khiếu kiện
khi còn trong trứng nước, nếu làm tốt công tác hòa giải ở cơ sở sẽ hạn chế được
các đơn thư khiếu nại, tố cáo vượt cấp, vượt thẩm quyền giải quyết.
4. Tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục Pháp luật cho nhân dân để
mọi người dân hiểu rõ và chấp hành tốt các chủ trương, đường lối của Đảng,
Pháp luật của Nhà nước thực hiện nếp sông văn minh, gia đình văn hoá, giữ
vững truyền thống của dân tộc “kính trên, nhường dưới” mọi người dân đều phải
sống theo Hiến pháp và Pháp luật. Trong đó, có luật đất đai.
21
Hoàn thiện quy chế dân chủ ở cơ sở, sửa đổi những quy định không phù
hợp, bổ sung những điều kiện và phương tiện kỹ thuật, để đưa việc thực hiện
quy chế dân chủ ở cơ sở đi vào nền nếp, thường xuyên. Tạo niềm tin cho nhân
dân đối với chính quyền các cấp.
5. Tăng cường công tác Thanh tra, kiểm tra về việc thực thi Pháp luật đối
với các cấp, các ngành, nhất là công tác quản lý và sử dụng đất, nhằm phát hiện,
chấn chỉnh kịp thời các sai phạm trong quản lý Nhà nước về đất đai, đồng thời
qua Thanh tra, kiểm tra, kiến nghị đề xuất các biện pháp để công tác quản lý và
sử dụng đất đai ngày càng tốt hơn, giải quyết khiếu nại, tố cáo đạt hiệu quả cao,
cụ thể: Trường hợp tranh chấp đất đai của cha con ông A là một ví dụ điển hình.
23
đất đai nêu trên, góp phần nâng cao hiệu lực của hoạt động quản lý Nhà nước, tổ
chức và công dân nâng cao ý thức chấp hành Pháp luật, truyền thống đạo đức
của dân tộc Việt Nam trong nhân dân; hạn chế những khuyết tật của nền kinh tế
thị trường. Làm được như vậy sẽ tạo được môi trường chính trị – xã hội ổn định,
lành mạnh, nhân dân tin tưởng và chấp hành đường lối, chính sách của Đảng,
Pháp luật của Nhà nước, đoàn kết một lòng phấn đấu đưa đất nước ta thực hiện
thắng lợi mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.
24
tài liệu tham khảo
1. Hiến pháp năm 1992 (Hiến pháp sửa đổi năm 2001).
2. Luật đất đai, năm 2003.
3. Luật Thanh tra, năm 2004.
4. Luật khiếu nại, tố cáo năm 1998 (Luật khiếu nại, tố cáo sửa đổi năm 2004).
5. Bộ luật dân sự, năm 1996.
6. Tài liệu bồi dưỡng về quản lý Nhà nước chương trình chuyên viên –
Học viện chính trị Quốc gia, năm 2002
7. Nghị định 41/2005/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng
dẫn thi hành một số điều của Luật Thanh tra.
8. Nghị định 53/2005/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng
dẫn thi hành Luật khiếu nại, tố cáo và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của
Luật khiếu nại, tố cáo.
9. Giáo trình nghiệp vụ công tác thanh tra.